Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Bí Tích Sau Rót

{HỒI 2 — NHỮNG Ô CỬA SỔ MỜ HƠI NƯỚC} [CHƯƠNG 6]

Lô vải tuồn

  Sáng Chủ Nhật của tuần kế cuối, Ô-mê-rô có tạt sang chơi vừa lúc nhà Ski-vét-li từ lễ sớm về. Ổng có ôm theo một khay sữa, chắc lại là thứ sữa lừa của nhà Vác-ca-rô, một ít bánh mì với trứng gà với thịt thà các kiểu; nhớ hôm nọ qua chơi mà vợ chồng chú chẳng có nổi một mâm tagliere di salumi thì còn chi là người với chả Ý. Có luôn cả nhỏ y tá hôm bữa và cả Quần Lửng cũng ì ạch lẽo đẽo ham vui dưới chân ổng.

  Có một cột khói trắng trôi ngoài cửa sổ. Tiếng vó ngựa gõ lộc cà lộc cộc tự dưới đường cái. Tiếng động cơ xe tải gầm rú, rồi đột ngột phanh gấp lại, kêu két két két.

  Ô-mê-rô giới thiệu nhỏ là A-xun-ta. Con gái mình. A-xun-ta Quát-trô-ki, lấy họ ngoại. Mặt mày nhỏ lúc nào cũng như đang đưa đám, lại giống đức thằng cha nó. Con bé vẫn còn trẻ, chưa đến độ mần ăn được, nhưng chắc cũng chỉ hơn cu tí Xi-pa-la năm sáu tuổi là cùng.

  An-giê-lô mời cả hai vào. Gâu. Rồi, rồi. Cả ba.

  – Chỉ có nước lã với giấm táo, – Giô-van-na cởi áo khoác cho anh, hôn anh, rồi bế con nhỏ xuống nhà dưới – với chút bánh mì và phô mai để trên bàn. – Chị bảo.

  Xi-pa-la nhìn nhỏ chị gái lạ hoắc lạ ơ trước mặt. Thằng bé muốn làm thân với nhỏ, nhưng nhìn mặt nhỏ cứ ó đâm làm sao, thêm phần cu cậu lại không cả gan mấy.

  Chưa biết phải bắt quàng làm sao, Quần Lửng đói quá té ra lại liếm chân cu cậu; nó thấy cũng lạ miệng, vừa toan cạp cho một miếng thì bị A-xun-ta túm cổ, xách lại. 

  Nhỏ vỗ mông nó – Hư à. Quần Lửng hư.

  Quần Lửng ư ứ đôi tiếng, rồi nó vùng bắn ra khỏi tay nhỏ, rơi bịch xuống sàn nhà, nghe rắc một tiếng to, cũng chẳng rõ là tiếng xương nó kêu hay tiếng sàn nhà ván gỗ nó vang, xong chui rút xuống gầm sô-pha, ra vẻ tội nghiệp nhìn hai đứa nó.

   – Kệ quách nó đi. – Ô-mê-rô bảo, còn chẳng buồn ngẩng mặt lên ngó ai; ổng cởi áo khoác treo lên giá, mắt kính giắt ở cổ áo – Không lại tốn chỉ phải biết.

  Có tiếng chim ngoài bệ cửa sổ. Một con sẻ ú. Mắt Lé lấp ló từ bên dưới bậu cửa; nó búng người lên vồ. Chụp. Hụt rồi. Con chim vỗ cánh bay ngược lên dãy tủ bếp. Mắt Lé biết mình khôn hồn thì né mấy cái hộc tủ đó ra. Con sẻ trượt chân. Lần một. Rồi lần hai. Nó nhảy nhót qua lại trên dãy tủ. Cóc cách cóc cách. Xong rồi tung cánh, bay vút ngược trở ra ngoài.

  Ô-mê-rô treo giỏ đồ lên cái giá ban nãy. Ông đánh mắt ra hiệu cho A-xun-ta xuống bếp phụ hợ má đỡ đầu mình.

  Ổng kéo ghế ngồi xuống, rồi hỏi – Chú bây sống sao rồi? – Mắt Lé nhảy lên bàn, nó lẳng lơ uốn éo, rồi nằm oặt khoe bụng ra bàn cho Ô-mê-rô thấy tất. Ông khẩy cười, vuốt ve và xoa bụng nó – Có chỗ nào khó chịu không?

  An-giê-lô khẽ lắc đầu. Anh rót nước mời Hô-mờ, và châm nước cho chậu lô hội để bàn – Cũng ổn… cũng ổn. Sao chăng gì cũng tốt hơn hòn đảo cứt dái của chúng mình… Tốt hơn phải biết!

  Ô-mê-rô gật đầu. Ổng hớp một ngụm nước. 

  – Bên anh có một lô hàng sẽ cập bến chừng giữa tuần sau. – Ổng bèn nói nói, ngón tay gõ bàn cộc cộc – Một lô… hàng may mặc. Anh có quen tay chủ cầu cảng. Có thể châm chước nhích chú bây vào một ghế.

  An-giê-lô suy nghĩ, rồi lắc đầu, ráo hoảnh bảo – Nhưng em đâu biết lái xe.

  – Minchiati!… (‘Xàm cứt!…’) – ổng vuốt mép, cười – Nếu không nhờ chú bây. Liệu thằng già này có còn ngồi đây để… – ông đảo mắt nhìn quanh, tay quờ quờ quạng quạng – …nói chuyện phiếm chắc?… Cũng có thể. Ai biết được? – Ổng chép chép miệng – Đẳng linh hồn hai thằng trời đánh chúng mình.

  Đoạn, Giô-van-na, chị bưng ra một mâm tagliere di salumi với… phô mai.

  – Chao ôi, antipasto misto luôn à… Coi như ông đây lo bò trắng răng. Cứ lo vợ chồng bây chết đói không kìa.

  – Cảm ơn mình. – An-giê-lô khẽ nắm tay chị, rồi anh nhìn quanh – Con đâu rồi mình?

  – Dưới bếp. – Chị hất cằm xuống dưới – Hai chị em chúng nó dính nhau như sam.

  Còn Xi-pa-la? Thằng bé vẫn đâu đây phòng khách. An-giê-lô gọi con một tiếng. 

  – Dạ? –Thằng bé ngóc đầu từ dưới sô-pha lên, mặt mũi toàn bụi với bặm với nước dãi chó không à – Dượng gọi con.

  – Xuống bếp với chị A-xun-ta đi con, – anh nói.

  Mi-ke-li gật đầu lia lịa. Mất một hồi lâu, con nó cũng lôi được Quần Lửng ở dưới gầm ra; trong miệng con chó là một lát bánh mì trắng đã mốc xanh cả mảng to, nhưng vẫn hốc vào miệng, liếm mép ngon ơ cho được. Con nó bế xốc Quần Lửng chạy xuống bếp. Chẳng hiểu chúng nó chơi bời ra sao mà hồi nữa chỉ toàn tiếng chén dĩa bể xoảng xoảng.

  – Madonna mia!… (‘Đức Mẹ tôi ơi!…’) – Giô-van-na thét lên một tiếng chói tay – Đống bát dĩa của tôi! Bedda Matri!… (‘Đức Mẹ thánh thần ơi!…’)

  Ô-mê-rô khẩy cười – Thật đẳng linh hồn. Mình và chúng nó.

  Hai cha con So-đi ở lại dùng bữa quá trưa, đến khoảng mười ba giờ là cùng. Trước khi đi, Ô-mê-rô có để lại cho An-giê-lô một tấm danh thiếp.

  – Là của ông chủ cầu cảng, – ông nói. 

  Anh lật xem, có tên đề ở góc phải trên cùng: Be-li-ni V. 

  Một cái tên… thân thuộc.

  – Chú cứ suy nghĩ trước đã. Cứ cân nhắc rồi cho anh biết trước tối mai là được, – Ô-mê-rô đội mũ, cúi người bế Quần Lửng lên, ôm vào lòng; ông cúi chào cả nhà – Abbi cura di te. (‘Nhớ giữ gìn sức khoẻ.’)

❖

  Trước khi tha hương biền biệt, Be-li-ni Vác-ca-rô ít nhiều cũng đã làm đến cái chức Segretario generale ở Banco di Sicilia. Cái thời mà ông vẫn còn để kiểu râu bàn chải và tóc mái coi hệt đức Vít-tô-ri-ô Đệ Nhị nước Ý. Khổ nỗi là ông lùn: lùn lắm, lùn tịt, có một mẩu; nhưng được ông Trời bù lại cho một cái nết trời ơi đất hỡi! Đâm ra cái xứ cứt dái ấy chẳng mấy ai coi ông ra gì. Ông lúc ấy cũng đã ngoài năm mươi, sắp ngưỡng sáu mươi. Sớm đã phát ngấy với những ánh nhìn dè bỉu, và những lời nói bóng gió thoảng mây bay.

  Rồi, chiến tranh đến. 

  Tháng 5 năm 1915, thằng Gô-phơ-rê-đô… thằng con trời đánh của ông, cái thằng ngu ngục, ngu hết chỗ nói nhà ông vì a dua theo tụi đàn anh trong xóm mà bỏ nhà lên đường nhập ngũ. Lúc hay tin, má nó đã khóc ngất lên ngất xuống. Suốt nửa năm trời, ngày nào ông cũng chỉ biết cùng bà nhà đến nhà thờ để cầu bình an cho nó. Nào giờ ông có biết cầu với nguyện là cái cha chi đâu. Cũng coi như được mở mang tầm mắt. Rồi tròn một năm, ông hay tin người ta trả con nó về. Ôi, hai ông bà mừng thúi ruột! Không ăn không ngủ gì trong suốt gần một tuần tới. Vì vui, vì mừng, đương nhiên rồi. Bậc làm cha mẹ nào mà chả thế; nhưng rồi khi ngày đấy đến, thứ hai ông bà nhận lại được là gì? Một bộ quân phục rách bươm lỗ đạn được xếp ngay ngắn, một bức hình chụp gia đình ba người con nó lén mang theo, nay loang lổ một vệt máu lớn, một tấm huy chương, và đôi ba câu an ủi. 

  “Xuất ngũ!” Ổng túm lấy một viên sĩ quan khi ấy, lớn tiếng chất vấn. “Sao các người bảo là nó được xuất ngũ?”

  Coi, nhìn ông Be-li-ni mà xem: ngày thường thì phách lối ta đây, đã ngứa mắt ai thì lại chẳng chửi cha mả tổ người ta lên, và có khi còn chẳng xem Chúa ra gì. Vậy mà trước mắt lính tráng các vị đây, thì lại rõ bạc nhược, khóc lóc ỉ ôi, nước mắt nước mũi tèm lem. Còn bác gái cũng chẳng khá khẩm hơn là bao: bả vùi mặt vào bộ quân phục của con nó mà khóc ngất lên ngất xuống, khóc đến mệt rồi lịm đi lúc nào không hay biết. 

  Viên sĩ quan chật vật lắm mới gỡ được tay ổng ra, gắng gượng phân trần, “Là do bất đồng ngôn ngữ. Một lỗi dịch thuật sơ đẳng.”

  Bất đồng ngôn ngữ. Lỗi dịch thuật. Chúng nói sao mà dễ nghe quá. Song, hai ông bà cũng chẳng biết phải làm gì hơn ngoài lo liệu cho con nó một cái tang ma đàng hoàng.

  Bẵng đi một thời gian, chưa kịp để mộ con nó còn xum xuê, tới phiên bà má nó a dua đua đòi cho bằng được một cái gò đất sát bên cho bằng con bằng cái. Liên tiếp những chuyện không đâu vào đâu vận hết cả vào người, đức ông Be-li-ni chưa phát điên cũng xem như là tốt số, được Đức Chúa Trời ưu ái… hoặc không. Lo nốt cái đám ma này xong, ông cũng cuốn gói lên đường mà đi. Có điều là đi xa xứ, sang Mỹ định cư. Tha hương biền biệt. Chứ ngữ như ông á! Người thì có một mẩu, nên lá gan chắc cũng chả bằng ai.

❖

  – Lề mà lề mề… Nhắm làm được thì làm. Không được thì cuốn gói giùm tao cái. Ngoài kia. Thiếu cha gì thằng muốn làm.

  Đến Mỹ rồi, nhờ mớ kinh nghiệm với vài móc nối tích cóp từ trước, hai năm sau đó, ông Be-li-ni cũng xoay xở làm sao dựng cho mình được một bến cảng nhỏ ở Phô-tần, vùng ven Brúc-lin: chuyên nhập dầu, nhập rượu, nhập ba cái trang sức, đồ điêu khắc Mẹ Đồng Trinh,… của bà con mình là đại để. Ông cũng thôi không để râu bàn chải nữa, mà chuyển sang kiểu ria mép cổ điển; cùng dẹp luôn mái đầu Đức Vít-tô-ri-ô, cứ để thành đầu đinh: vừa mát vừa rẻ.

  Bữa đấy thứ Tư. Đúng hẹn hàng về. Cũng hôm đấy có ba thằng lính mới tuyển vào, mặt rõ ngu, hỏi gì cũng nín thin, tay chân lại còn lóng ngóng. Ông nhìn mà ruột gan ngứa không chịu nổi! Thế là chập đầu ông chửi thằng Vi-tô, cái thằng thư ký học việc. Nói cho cùng cũng không tới mức chửi, lắm lắm là nhằn, nhưng là ổng thì cái gì chẳng nghe ra chửi. Mà giả như nó làm tốt công việc mình thì ông đâu rảnh hơi đào mả tổ nó lên. Ai rảnh đâu rước cả núi nghiệp về thân! Đằng này chẳng biết nó hầu đâu về một lũ trời ơi đất hỡi. Một lũ ăn hại đã chớ, lại chẳng biết tiền đâu nó có mà đem đi ứng cho cái lũ đây ba tháng lương mới gớm.

  “Thằng trời đánh thánh vật nhà mày!” Ổng đập bàn chỉ thẳng mặt nó mà quát. “Tao không hiểu sao mà Xéc-giô có thể nuôi ra một đứa ăn hại như mày.”

  Rồi đuổi quách nó xuống bưng vác với tụi lính mới đó. Chứ để nó lân la đây thêm, dám lắm ông quánh chết tươi nó!… Nhưng chưa được nửa tiếng hơn, ổng đã phải gọi nó lên lại. Còn cả tá sổ sách ra đó. Không thì mắc cái giống ôn gì ông phải trả nó lương thư ký chỉ để nó đi làm việc của tụi công nhân.

  Đoạn, có tiếng gõ cửa.

  Cốc cốc cốc,

  Ông Be-li-ni để ý đồng hồ, cũng phải chín giờ thiếu mười. Bỗng khi không ông quay sang, bốp đầu Vi-tô một cái, rồi quát:

  – Mày thì biết mỗi ngồi thôi à? Không nghe tiếng gõ cửa hay gì? Còn phải đợi tao cầm tay chỉ bảo từng li từng tí chắc?… Thật không hiểu Xéc-giô làm nên tội tình gì mà đẻ ra cái thằng như mày? Stu picciottu binidittu! (‘Giòng cái thứ trời đánh thánh vật nhà mày!’)

  Coi, thằng Vi-tô vừa toan đứng dậy mở cửa, ổng lại giở chứng nhéo tai nó một cái, xách nó ngồi phịch lại ghế – Tao cóc mượn mày nhá, – ổng nói tỉnh bơ, xong ì ạch đi ra mở cửa; mà kể cái tướng đi, coi không khác gì một con chim cánh cụt: vừa lùn vừa phát tướng.

  Ông chỉ mở hé cửa, vừa đủ để lộ mỗi bên mắt xếch lạ lùng (tựa hồ một con đàn bà). Ông gắt gỏng:

  – Chi c’è? (‘Cái gì?’)

  Là một tay quản đốc. Tên rốc rốc, “Rô- cổ” gì đó. Ôi thôi mày ạ, sức đâu đức ông Be-li-ni đây nhớ được kìa!… Gã đứng nép sang một bên, cho thấy một thằng khác đang ngồi khép nép trên băng ghế nhựa ngay sau lưng. Gã cởi mũ ra, cái mũ phẳng, cái mũ coppola, để lộ cái đỉnh đầu hói láng o; xong gã gãi gãi đầu, hơi cúi người, nói nhỏ cho ổng nghe.

  – Có cái cậu kia… tự nhận là người quen của ông So-đi. Có cả thư giới thiệu luôn.

  – Thư giới thiệu á? – Giọng ổng cao vút rõ chói tai.

  – Vâng… thư giới thiệu.

  Nói rồi, ông Be-li-ni mở toang cửa ra, phất tay cho tay quản đốc đứng hẳn sang một bên. Cái thằng đấy trông dáng người cũng quen… ổng nghĩ thầm, chắc cũng tướng tá, mặt mũi của cái hòn đảo cứt dái kia là lắm.

  Ổng làm điệu huýt sáo, huýt một tiếng rõ to. Song, thằng đó đâu nghe ra, nó cứ để ý đâu đâu chiếc xe tải đang chờ chất hàng lên là thế nào á? Ổng lại huýt, còn vẫy vẫy tay dữ lắm, như ra điệu gọi chó; nhưng kể cũng vô dụng. Thằng đó ngáp dài một cái xong kể cũng thôi.

  Ôi tía má ổng ơi, cái thằng trời ơi đất hỡi này!

  Be-li-ni tự thấy bản thân sắp tăng xông tới nơi rồi. Ổng lắc đầu, miệng lẩm bẩm – No, no, no!… Nun si po’, nun si po’… (‘Thôi, thôi, thôi!… Không được rồi, không được rồi…’) – đẩy việc cho thằng Rô-cổ kêu.

  – Là Rô-cô, thưa ông. – Gã nhắc khẽ.

  Ổng ậm ừ, phẩy phẩy tay – Rô- cổ, cô- Rổ gì cũng được. – Dầu gì cũng nó dẫn đến không, còn mình thì chạy vội vào nốc thuốc; người cao huyết áp cũng là ổng, ổng chưa chửi lây cả gã đã là may.

  Thế là, tay quản đốc quay sang cái thằng điếc đằng ấy. Gã đánh một tiếng to:

  – O cumpà! (‘Ôi, ông bạn!’)

  Ông Be-li-ni giật bắn người. Cái thằng đấy cũng giật bắn theo, một tay ôm ngực, còn ra dáng làm bộ làm tịch mà thở hổn hển quay sang nhìn. Rô-cô đánh mắt ra hiệu, một tay mở cửa, cúi người gần ngưỡng chín mươi độ, coi như kính cẩn hầu thằng đấy vào.

  Cạch,

  – Ngồi đ… đi. – Ông Be-li-ni gặng nói, nhưng lời lẽ trở nên líu lại, từng lời bật ra đứt quãng. Kìa, trông mặt ổng đỏ au, gần ngả tím; nếu phải nhìn từ xa, mà từ ngay cửa văn phòng cũng đã đủ rồi, thì ổng coi hệt một quả cà tím. Ông kéo hộc bàn lấy ra mấy viên nang gói trong một tấm vải trắng, nuốt sống mà không cần nước. Vì đắng, ổng lè cả lưỡi ra, cả người nổi da gà da vịt, đầu lắc nguầy nguậy. Ổng ôm ngực, ngả lưng nhìn trần nhà mà thở khò khè. Ổng khó nhọc nói tiếp – Ngồi đâu… cũng được. Ngồi lên đầu tao luôn… nếu mày muốn.

  – Bác đúng là vẫn chẳng đổi mấy. – Đằng ấy mở lời.

  Ông nghe tiếng nó kéo ghế ngồi xuống.

  – Khi anh Hô-mờ đưa cháu tấm danh thiếp… – nó khựng lại một thoáng, nhìn quanh văn phòng, một lượt từ trên xuống: căn phòng vàng vọt; có kính ba bề nhìn ra bến, lại còn có thể mở ra đóng lại, chỉ cần ông Be-li-ni đây bắt một cái ghế xếp lùn đứng lên là thừa sức lôi cả mả tổ nhà cái lũ ngồi không rách việc mà đòi ăn lương của ổng lên mà chửi; bên trong nhìn chung cũng như bao chỗ văn phòng nào giờ: vài cái bàn, tủ kệ; một nùi văn kiện, một mớ sổ sách; một cái bàn gỗ dài kệch cỡm đặt ở chính diện, không bảng tên (giống như trước đây), một chậu xương rồng và một con mèo thần tài ú nu, ú na – …cháu những tưởng chỉ là một người tình cờ trùng cả tên cả họ không ấy chứ.

  Sau một hồi, huyết áp ổng coi cũng dịu đi đôi phần. Ổng chỉnh ghế, ngồi thẳng lại. Vừa trông thấy mặt đằng đó, cái mặt ó đâm, nhăn còn hơn đít khỉ phút chốc giãn ra và cười rất đỗi hiền dịu.

  – Ôi chao, Angi đấy à? – Giọng ổng hổ hởi thấy lạ.

  Đoạn, ông giang rộng hai tay, quắc tay kêu nó lại. An-giê-lô ôm bổng ông Be-li-ni lên; ổng cười sảng quá, vỗ lại lưng anh mấy cái.

  – Thằng trời ơi đất hỡi này, sao chẳng thấy nói ông già này tiếng nào thế kìa? 

  – Cũng còn lạ nước lạ cái, bác ạ. – Anh nói – Cháu cứ sợ mình không quen kìa. Phải để ít bữa coi như nào chứ.

  – Thế như nào rồi? Vợ chồng bây có khó ở chuyện gì không?

  Anh nhún vai – Coi cũng không đến nỗi nào, bác ạ. Khó ở thì đàn bà các cổ tháng nào mà chẳng thế. Phận đàn ông chúng mình chỉ có chịu mới mong yên nhà yên cửa nổi.

  – Phải, phải, phải. – Ổng chỉ tay, chỉ cả vào mặt anh – Đúng là trần đời có mỗi bây là hợp cạ thằng già này.

  Hai ông cháu có vậy bắt nhịp đều đều, cứ thế hàn huyên rôm rả đến tận giờ trưa; trong khi, cu Vi-tô cũng coi là chết lâm sàng với mớ sổ sách chất đống từ dăm tháng nay lại. Cả hai: hết hỏi chuyện thường nhật, vợ con các kiểu, lại ngồi tản mạn về cái hòn đảo cứt dái ấy… Ông Be-li-ni lại làm lúc chép chép môi ra vẻ rất tiếc nuối.

  Rồi có tiếng chuông reo. Leng ka leng keng. Leng ka leng keng. 

  Ổng để ý đồng hồ – Ái chà, đã 12 giờ rồi ấy ạ. Quên cha mất bây đến đây hỏi công ăn việc làm. – Ổng cau mày, tặc lưỡi – Thôi thì để bác nói lẹ. Bây cũng không phải làm gì nhiều. Ngày mười hai tiếng, chủ yếu là chở hàng từ đầu này thành phố sang đầu kia. Lương khởi điểm cho là mười lăm đô. Nhưng riêng chú bây thì cho lương cứng luôn đi: hăm bảy đô, một tuần. Thấy sao?

  An-giê-lô gật đầu, ra dấu Ô-kê, rõ là chẳng có gì để mà chê cho cam.

  – Tốt, tốt, tốt… 

  Ông Be-li-ni ho hắng giọng một tiếng. Ổng quay sang bảo cu Vi-tô đi nghỉ trưa tí, dùng bữa cái hẵng làm tiếp; cu cậu rên một tiếng đã đời, An-giê-lô để ý cái tướng nó duỗi người nôm con Mắt Lé ở nhà, lúc đi ra không quên ôm theo số báo buổi sáng đang đọc dở.

  Ông nói tiếp, kéo hộc bàn, ném về trước một phong thư dày cộp – Coi như hai tháng đầu thử việc. Làm luôn tối nay. Được chứ?

  – Tối nay à? – Anh hỏi.

  – Tối nay. – Ông gật đầu.

  An-giê-lô trầm ngâm suy nghĩ một hồi – Lúc mấy giờ thế, thưa bác?

  – Chừng tám chín giờ. Cho đường nó thông thoáng. Dễ chạy.

  – Cháu sẽ nói lại với nhà. – Anh lấy phong bì, quấn trong lớp áo vải, rồi ôm chặt trong lòng. – Thế cháu sẽ… đến đây hay còn đâu khác?

  – Để bác bảo thằng Vi-tô đón bây. Địa chỉ bây Ô-mê-rô có đưa trước rồi. Khỏi mất công nói luôn chi.

  – Vâng, cháu cảm ơn bác. – Anh cúi đầu biết ơn.

  Be-li-ni vội xua tay, xuỳ xuỳ mấy tiếng.

  – Bà con với nhau cả.

❖

  Độp độp độp độp,

  – Xin hỏi quý khách muốn dùng gì cho bữa tối nay ạ?

  – Một ly cà phê đen… và vài ba quả trứng.

  Địa điểm chốt hẹn nhau là một công xưởng nhỏ ở Đông Hác-lêm, gần Mót Hei-vần, của quận Brông: Nhà máy vải vóc A-ten của A-ten. ‘Một phép điệp của điệp,’ anh nghĩ. An-giê-lô đã tìm gặp Vi-tô mà hỏi chỗ hẹn trước lúc về; ắt giờ này cu cậu hẳn đang rối như tơ vò vì chờ mãi mà anh thì lại chẳng thấy tăm hơi đâu.

  – Cà phê của quý khách đây,

  Anh tranh thủ đến sớm, cỡ 8 giờ thiếu 10. Trời lúc ấy cũng tà tà nhỏ hột; bởi thế mới phải ghé quán ăn khuya bên kia đường ngồi trú tạm, chờ ông Trời ổng bớt bớt.

  – Và trứng đủ cả.

  – Cảm ơn cô. – Anh nói, boa cho hẳn cả năm đô.

  – Không có chi. – Người đẹp tạp vụ rạng rỡ cười, cầm tiền, rồi gửi tặng lại anh một nụ hôn gió – Chúc quý khách ăn ngon miệng.

  Trước nhất, An-giê-lô cứ nếm thử tí cà phê, một ngụm nhỏ trát nền đã. Anh nhíu một bên chân mày bởi độ đậm của cà phê, rồi anh mút thêm vào năm thìa muối. Muối trắng. Năm thìa. Rồi khuấy đều. Xong anh lại chan cả tách đấy vào dĩa trứng, như chan sốt thịt.

  Vừa đưa lên miệng miếng lòng trắng trứng đầu tiên, anh để ý có chiếc bán tải rẽ đỗ vào con hẻm tối cặp hông nhà máy: có thằng tài và hai thằng nữa ở thùng xe. Anh để ý đồng hồ, lúc ấy vừa đúng điểm 8 giờ. Trong quán lúc đó cũng vừa cho chạy máy hát: bài nào đó của một ông Gia Nã Đại nào đó. 

  Mưa một lúc một lớn. Mưa nện rần rật lên hàng tôn công xưởng, kêu um tùm.

  Ở miếng lòng trắng thứ hai, thứ ba và cái lòng đỏ trước nhất, lúc 8 giờ 10, anh lại thấy có chiếc bán tải nữa, coi bộ còn cà tàng hơn chiếc trước: ở thùng xe cũng có hai thằng, đang dầm mưa, còn chở chúng là anh ruột Rô-cô ban sáng. Cả ba lấy tay che mưa, nhanh chân chạy biến vô trong. Được chừng một hai phút, hai thằng ở chiếc lúc đầu ra về, lên chiếc cà tàng, không chừng là chạy về bến.

  Đến gần rưỡi thì có chiếc xe con.

  – Quý khách có muốn dùng thêm cà phê chứ? – Nhỏ tạp vụ hỏi.

  Độp độp độp độp,

  An-giê-lô lắc đầu, bằng giọng Xi-chi-li-a – Grazzi assai. (‘Cảm ơn cô nhiều.’) – Anh nói.

  Có ba người nữa xuống xe: Vi-tô ở hàng ghế lái tay tả, nó bật dù bước xuống mở cửa xe; cùng phía với nó là một người đàn ông đứng tuổi, đầu hai thứ tóc, dáng người cao ráo, ốm yếu chống gậy với một chiếc mũi khoằm; và phía trong lề, một tay bặm trợn, cũng cao ráo chẳng kém ai, đầu hói với một vết sẹo (trông cứ như do dao chém mà nên), ở miệng thì cứ bập bập một điếu xì gà bự chảng.

  Một chiếc xe con nữa cập sát ngay sau cả bọn. Là Rô-cô và Be-li-ni (ông ấy vừa xuống xe là đã dính cứng như sam với người đàn ông đứng tuổi kia). 

   Xéc-giô, Xéc-giô… An-giê-lô nghĩ thầm, lấy khăn chùi cho sạch mồm mép.

  Rồi, ông nhìn trong xe một lượt, rồi nhìn chung quanh. Xem chừng không thấy cái mô-tê gì, ổng quay sang cu Vi-tô mà chửi um lên.

  Đoạn, anh cảm ơn nhỏ tạp vụ thêm tiếng nữa, vớ vội cái măng tô từ thời ông bà ông vải đã ngả màu cứt ngựa của mình mà dầm mưa chạy qua mà bắt quàng làm họ.

  – Có nhiêu đấy cũng làm không xong. 

  Dứt lời, ông Be-li-ni nghe tiếng bước chân mà quay sang nhìn thì bị An-giê-lô anh vồ cho một vố, thiếu điều muốn bay đủ hồn vía cả.

  – Thánh thần thiên địa ơi! – Ổng ôm ngực, rú lên một tiếng; ổng nói hơi lên – Cái thằng… trời đánh thánh vật… nhà mày.

  Rô-cô kịp luồn tay xốc nách ổng đỡ lại.

  An-giê-lô cười xoà – Cháu xin lỗi, bác. Scusa, scusa. (‘Xin lỗi, xin lỗi lắm.’)

  Lúc bấy giờ, ông Xéc-giô mới ho khan mấy tiếng, rồi hỏi – Cậu này nhà nào đây? – Ổng nhìn lướt anh một lượt từ đầu xuống chân, từ chân lên đầu, rồi lại một lượt xuống, lượt lên: tuần tự.

  Vi-tô nó liền áp sát lại gần, khẽ giải đáp. Ông cha nó cũng chịu khó lắng nghe, lắm lúc còn gật đầu khi nghe trúng thứ hay ho, dễ chừng sẽ cần phải lưu tâm hơn về sau này.

  – Ski-vét-li à, – ổng à một tiếng, giọng khô khốc – quả có nghe So-đi nhắc đến hôm nọ. 

  Chỉ thế thôi. 

  Mưa cũng dịu đi đôi chút; nhưng cả hội vừa vào trong là ông Trời lại ào cho một cú. Xém xíu nữa là ướt còn hơn cả chuột lội.

  Độp độp độp độp!

  – Nhanh nhanh cái chân lên đi! Trễ chuyến này, chúng bây có làm mãn kiếp cũng đếch bù lỗ nỗi.

  – Ôi, toàn nói quá. – Ông Be-li-ni bộp chộp phân trần – Bây thấy đấy. Hàng… – ông ngoái nhìn qua vai một cái lẹ xem ông bạn Xéc-giô mình ra sao; thấy ổng chẳng đả động lời nào, ông Be-li-ni nói tiếp – …cũng toàn là vải gấm các thứ, khăn thêu các kiểu. Họa hoằn lắm là tháng rưỡi hai tháng, chúng bây dứt sạch nợ cha nó rồi. Sò tutte minchiati! (‘Toàn đặt điều cả!’)

  An-giê-lô để ý có cả thảy tám chiếc xe tải nhà Mác: được chất đầy thùng gỗ ở sau, bên trong nhét cứng những tấm những cuộn vải màu tím, màu vàng và xanh và đỏ, bên ngoài mỗi thùng lại được phủ một lớp bạt che mưa, và thêm một lớp lớn nữa cho cả thùng xe: tổng hai lớp (cho chắc cú!), và có thêm một thằng nữa ngồi ở đuôi xe, coi như đảm bảo. Bấy giờ, anh cũng để ý ông bạn hói đầu của ta cũng đã lặn mất tăm hơi tự hồi nào rồi thôi. Quay đi kiếm tới chẳng sao tòi ra được cái quả đầu đặc trưng lấy làm lạ ấy.

  Thấy thế, anh Rô-cô mới khẽ huých vai anh, chỉnh nhẹ – Ông bà già chẳng ai dạy chú là láo liên thế rất chi là bất lịch sự lắm à?

  An-giê-lô gãi đầu, gượng cười.

  – À thì… anh biết đấy: dân hai lúa mà. Họ nuôi tôi sống tới giờ này cũng coi như đã mát tay lắm rồi. Đòi hỏi nên người nữa thì lại chẳng mất dạy quá đi chứ.

  Rồi, hai thằng cũng phá lên cười.

  – Chú bây được. Được lắm! – Rô-cô vỗ vai An-giê-lô mấy cái bôm bốp rõ to – Quên chưa giới thiệu: Chistu è Randone, Rocco. (Đây tên Ran-đô-nê, Rô-cô).

  – Schiavelli, Angelo. (‘Ski-vét-li, An-giê-lô.’) – Anh đáp, bằng giọng Xi-chi-li-a.

  – Ski-vét-li, Ski-vét-li… – Rô-cô cắn môi suy nghĩ – Chú bây quê quán ra sao? Rặt Pa-léc-mô à?

  An-giê-lô lắc đầu – Tôi đây dân Sác-ca. Nhưng… phải mãi tới năm mười tuổi cơ. Trước đó, tôi theo mẹ. Sống ở Ên Alemen.

  – Ồ, Ai Cập á! Thế té ra chú bây con lai à?

  – Vẫn rặt dân bà con mình cả thôi.

  9 giờ thiếu 15, ông Be-li-ni khẩn trương đốc thúc chúng nó lên xe. An-giê-lô anh thì sẽ có Rô-cô đi cùng, chiếc thứ hai, vì dầu gì cũng bữa đầu thử việc; mà hàng thì lại quan trọng quá thể đáng, canh bạc này có Người chứng cho thì hỡi ôi, đức ông Be-li-ni cũng đếch dám tất tay.

  Có thằng gõ lên thùng xe đầu tiên. Ôi, cái đầu láng o đấy – Phi-ô-rê-lô đấy! – Rô-cô bảo.

  – Va’! Va’! (‘Đi đi! Đi đi!’)

  Gã vỗ bốp bốp cái nữa. Rồi, cả đoàn cứ vậy mà lăn bánh.

  – Thế ta đi đâu vậy? – An-giê-lô hỏi.

  – Về Brúc-lin, – Rô-cô đáp.

  Xe rung lên khi đi qua ổ gà. Ổ voi. Rồi ổ gà. Rô-cô rút đèn pin rọi kiếm tấm bản đồ cất trong hộc xe. Gã trải ra đùi, rồi chỉ lên một vùng được khoanh tròn bằng bút chì.

  – Anh với chú sẽ tách ra sau khi qua cầu, trong khi cả đám chạy sang Niu Dớc-si. Mình sẽ đi tiếp Rét Hút, xuống Đảo Cô-ni rồi về.

  Đoàn xe chạy bon bon: dọc theo các trục Đại lộ chính (Một hoặc Hai) của Mã Nhật Tân (có hai, ba bác tài bẻ lái từ đầu đi trục đường La-phai-yét với Bau-ơ-ri). Cả đoàn từ tám, rồi còn bảy, sáu,… và bốn khi còn cách cầu Uy-li-am-bớc chừng hai cây đèn đỏ.

  9 giờ 35 phút, vừa nhích đầu tí qua được cái ngã tư cuối là lên cầu, thì lại chẳng hiểu hai chú thầy đội tòi ra từ đâu ở sau đít mà huýt còi tuýt tuýt mấy bận, thúc ngựa ép cả bọn tấp vào lề.

  Mưa bấy giờ cũng dịu đi đôi chút; hoặc chưa biết chừng lại sắp ào cho cả bọn một trận xối xả nữa.

  Một chú thầy leo xuống dắt ngựa vào lề, kéo dây buộc vào cái ống xả nước nhà dân; người kia thì rê ngựa, tay cầm cây dùi cui đi gõ nhẹ lên từng cửa xe một, cúi người dòm vào ca-bin mà nhắc:

  – Mời các anh xuất trình giấy phép lái xe.

  – Dạ vâng, thưa các đồng chí. – Rô-cô nhoài người qua thưa.

  Đoạn, gã vỗ vai An-giê-lô bảo – Cứ bình thường. Nun fa nenti. (‘Không sao cả.’) – Rồi gã với lấy chiếc nón coppola màu ghi, kéo áo khoác lên che phần gáy, nhảy khỏi xe, lon ta lon ton chạy đi phiếm với các thầy.

  An-giê-lô tắt máy xe. Anh khoanh tay nằm lên vô-lăng xe. Anh hít một hơi sâu… rồi thở ra. Anh để ý Rô-cô kéo anh tài ở chiếc dẫn đoàn ra sau lưng mình, cười xòa xòa, điệu bộ như đang pha trò cho các thầy coi. Anh ngáp dài một tiếng, và rồi anh để ý thấy Rô-cô thò tay vào túi áo trong, cũng móc ra một phong bao cũng gần dày cui chẳng kém cái của anh ban sáng (hoặc có khi hơn, bởi tối như mực, lại còn mưa rào thế kia thì căng mắt cũng khó thấy quá), dúi cho một trong các thầy (cái ông thầy già già, để ria nôm một con hải mã với đỉnh đầu hơi nhô lên).

  Anh ngáp cái nữa. Ngáp ngắn ngáp dài.

  Cạch,

  Rô-cô gõ gõ đế giày cộp cộp cho đỡ dơ sàn mới hãy lên xe lại. Gã vuốt mặt, xong đánh tiếng thở dài – Tiếp thôi. Mẹ kiếp, cái giòng carabinieri.

  – Sao thế? – An-giê-lô rút khăn tay đưa cho gã.

  Rô-cô thôi khỏi, hai tay vuốt mặt nữa.

  – Một lũ trời đánh thế đấy.

  Cả đoàn tiếp tục đi. Đúng lộ trình, cả đoàn tách ra: ba chiếc (chiếc sau cùng đá nhan rẽ phải, cùng với hai chiếc ở sau rà thắng giảm tốc), còn các anh An-giê-lô và Rô-cô thì đá xi-nhan trái về lại Brông.

  Đổ dốc cầu, phen này tới Rô-cô ngáp lấy ngáp để. 

  Xong rồi, gã trải bản đồ ra xem tiếp. Xem một hồi, xem tới xem lui làm sao mà, bất thần, gã tự vỗ trán mình bôm bốp mấy tiếng rõ to, rồi trách than– Minchia… chi babbu ca sugnu! (‘Mẹ cha nó chứ… sao mà ngu thế kìa!’)

  – Chi c’è? (‘Sao nữa đấy?’) – An-giê-lô hỏi.

  Rô-cô buột miệng thở dài, vội vàng xua tay – Nun fa nenti… Nenti propriu. (‘Không có gì… không có gì cả.’)

  10 giờ 15 phút, An-giê-lô cho xe quành đầu vào một công ty kinh doanh ga, mùng mền, chiếu, gối trên phố Cô-lôm-bi-a: Ga ông Tiều; đứng trước đấy, có ông chú trung niên người Ý, hói, đeo kính gọng chữ nhật, đang bận đồ ngủ cả bộ xanh lam kẻ sọc ca-rô ra đón hai thằng chúng anh.

  Xe còn chưa kịp tắt máy, Rô-cô đã bộp chộp nhảy xuống để rồi một bên ống quần gã bị mắc lại thiếu điều là té dập bản họng tới nơi, chưa kể là bị xe đang lùi nó mém cán cho nát bấy chơi.

  – Coi kìa, coi kìa. Giòng cái thứ hậu đậu. – Ông chú đấy chỉ ngay cái bản mặt nhà Ran-đô-nê mà mắng – Chúng bây làm cái mả cha chi mà giờ này mới thấy vác cái bản mặt chó tới vậy hả?

  Rô-cô chỉ được nước cười trừ, có cái gáy cái đầu mà xoa đi xoa lại, xoa tới xoa lui miết chẳng biết để làm cái mô tê, trò trống gì.

  – Bác biết đấy, – gã cứ cái điệu cười xòa – Chuyện các thầy các chú. Chuyện xúi quẩy chẳng ai muốn cả. Đúng chứ bác?

  Nghe gã chống chế thế, ông chú lại chẳng vội xua tay, xuỳ xuỳ lại mấy tiếng – Có thế là giỏi. – Ổng bảo – Thế hàng tao đâu? Có đủ không đấy? Có hỏng hóc gì không thì bảo lẹ? Nhiều lời… e nenti cchiù. (‘… chẳng để làm gì.’)

  Trên xe có chừng cả tá thùng vải. Rô-cô trước tiên đếm lại một lượt kỹ đã, rồi gã mới hẵng nhờ An-giê-lô phụ khuâng lấy bốn thùng mang vào trong, để ở dưới cầu thang bộ ngay bên phải lối ra vào mà chất thành chồng thành đống với mấy con ma-nơ-canh, thảm cũ, thảm mốc và một nùi áo quần đã ngả màu cứt ngựa, cứt dê.

  – Hai. Ba… Và bốn: một thùng Ái Nhĩ Lan, một thùng Thổ, và hai thùng Ê-cốt. – Rô-cô đưa nốt cho ổng bao phong bì thứ ba – Phần bông tháng rồi của bác đây.

  Ổng cầm phong bao, bóp nắn mấy hồi. Xong, ổng ngồi nép sang một bên cầu thang, thò tay vào túi quần móc đâu ra con dao gọt giấy mà roẹt gọn một đường. Ổng bắt đầu nhẩm:

  – Một, hai, ba,… bảy, tám,… mười bảy và mười tám.

  Ổng ngẩn ra một hồi, rồi đột nhiên quay qua gắt lên.

  – Thiếu của tao những hai trăm! Hai trăm! Chúng bây ăn của tao những hai trăm!

  – Thôi nào, mới đấy mà bác đã quên rồi à? – Rô-cô làm điệu nhún vai – Chuyện các thầy các chú. Đâu phải chuyện gì rẻ bèo cho cam.

  Mặt ổng đỏ au toan chửi đỏng lên (rõ là thế!) nhưng chẳng hiểu sao cũng kệ quách luôn. Ổng lườm Rô-cô, lườm lây sang cả An-giê-lô, xong tặc lưỡi rồi thôi.

  11 giờ 20 phút, hai thằng chúng anh giao nốt tám thùng còn lại cho một nghiệp đoàn nhỏ ở Đảo Cô-ni: nửa phần Ý, nửa phần Thổ. Người nhận cũng là một ông chú trung niên, không hối đầu, rất có dáng của bao đức viên chức ở đời. Ổng cầm một tấm bảng kẹp, ghi lại thông tin, người giao, và thời gian nhập hàng của từng thùng chi tiết đến từng phút. Sau cùng, ổng đưa lại cho Rô-cô một phong bì.

  – Của tháng rồi và tháng trước nữa. Kèm cả lãi. – Ổng chấm bút, gõ gõ lên tấm bảng kẹp – Nhưng còn bốn thùng Nhật nữa đâu? 

  – Nhật á? – Rô-cô trố mắt ra.

  – Đúng vậy. – Ổng lật sang trang có đơn đặt hàng – Đây! Những bốn thùng Nhật nữa. 

  Rô-cô cuống quýt cầm lấy, lật qua lại giữa trang này trang nọ mà xem lấy xem để. Rồi lại khi không gã quay sang nhìn An-giê-lô: Nhìn anh làm chi? Ảnh cũng nhún vai chịu. 

  – Bây coi sao đi chứ? – Ông chú bảo.

  Rô-cô chẹp chẹp miệng, cắn môi đưa trả tấm bảng cho ổng. Gã thưa, móc trả lại cả phong bì – Để chúng cháu về kho kiểm lại đã. Chắc là bên kho chúng xếp sót ấy thôi. Cũng phiền bác hiểu cho. Còn tiền này thì bên mình cứ giữ lấy. Nào hàng đủ hết cả mình hãy tính tiếp. 

  Ông chú ngẫm một hồi. Ngẫm hồi lâu sao ông cũng dúi phong bì lại vào tay Rô-cô nó.

  – Cứ giữ lấy. Đỡ mắc công. – Rồi, ổng bày cho thế này – Hàng cứ về trước cuối tuần là được. Cũng đỡ phần tụi bây quên nữa. Ai biết đâu được? Vậy đi ha? Miễn sao có hàng trước khi chốt ca chiều tối thứ Sáu là được. Vậy đi.

❖

  Lại một chập mưa, độp độp độp độp.

  Độp độp độp độp,

  Phải gần một giờ sáng, An-giê-lô mới ló được cái mặt chuột về lại căn hộ vợ mình. Có Mắt Lé ngồi ở bậc cầu thang trên cùng đợi anh chắc cũng phải từ chiều giờ. Nghe tiếng động, nó giật người ngồi dậy, khòm lưng vào thế toan chạy; nhưng nó chớp mắt, thấy biết là anh rồi, nó đứng dậy, định là chạy ra quấn quýt với anh, nhưng có giọt mưa nhiễu lên đầu mình, nó liền rụt cổ lại, chỉ có đi đi lại lại ở bậc cửa vậy mà vừa vẫy đuôi vừa kêu thấy thương.

  – Sao đấy? Lạnh à? – Anh trêu, rồi cúi xuống bế Mắt Lé lên đặt nằm hai bên vai mình. Nó khoái lắm, cứ rút đầu vào cổ anh mà dụi dụi miết. Anh gãi cằm nó – Đấy. Có phải ấm hơn không?

  Cạch,

  Nghe có động tĩnh, chị nhà Giô-van-na ló đầu từ dưới bếp lên xem. Thấy anh nhà, thái độ chị cứ cái điệu dửng dưng; chị nhìn đồng hồ xem, rồi đánh tiếng hỏi – Về sớm thế à?

  An-giê-lô ậm ừ. Anh thả Mắt Lé xuống; vừa chạm đất, nó đã phóng biến ra bệ cửa sổ nằm phè phỡn tiếp.

  – Chở hàng mà. Thêm đêm khuya đường được cái cũng vắng. Nên chúng anh cũng thoải mái phóng. – Anh bảo.

  – Chúng anh?

  – Là Rô-cô ấy. – Anh ngả lưng xuống ghế sô-pha, tay vắt trên trán – Anh đồng nghiệp nọ ở chỗ làm anh kể mình ban trưa á.

  – Chỉ thế thôi à?

  Đoạn, chị bưng ra một bát pancotto còn nóng và một tách trà hoa cúc ấm. Anh tự biết đặt tay mình xuống bụng, và rồi chị cúi xuống hôn nhẹ lên trán anh.

  – Có bác Be-li-ni nữa. – Anh đánh tiếng thở dài – Mình biết đấy: bác Be-li-ni ở Banco di Sicilia hồi xửa hồi xưa á.

  – Biết, biết. – Chị mân mê phần tóc mái của anh – Be-li-ni Lóng Rưỡi. Có mụ vợ điên và thằng con điên lây cái phần bà má nó.

  Anh khục khục cười.

  – Be-li-ni già tội nghiệp…

  Chị khịt mũi, tặc lưỡi – Phải, phải. Toàn là nghiệp với chả chướng… là tội chưa xử cả!

❖

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px