TIÊN XÓ NHÀ
Hồi còn nhỏ, mỗi khi có dịp là Trân lại nài cha mẹ dẫn mình về nhà ông bà ngoại, một phần vì ông bà luôn để dành cho cô rất nhiều quà bánh, một phần vì trong làng có rất nhiều chuyện thú vị. Chẳng hạn như chuyện về tiên xó nhà - những người bạn hay núp trong mấy góc tối thui để chơi trốn tìm cùng cô.
Khi ấy Trân còn rất nhỏ, chỉ biết vẽ ngôi nhà bằng hình chữ nhật và hình tam giác, còn mặt trời thì chỉ có một nửa nằm ở trong góc, đến tên của mình còn chưa viết được. Trong một lần thể hiện tài năng hội họa của mình lên trên tường nhà bếp thì cô bắt gặp một cặp mắt hiếu kỳ. Khi "cái thứ" có cặp mắt long lanh ấy bước lại gần Trân hơn, nó liền lộ ra hình hài của một cậu bé. Hình ảnh ấy vừa cụ thể vừa mơ hồ, Trân biết chắc chắn trước mặt mình là một cậu bé gầy nhom, đôi mắt sáng rực long lanh, nhưng lại không thể khắc họa lại hình dáng của cậu trong tâm trí. Kể cả sau đó cô lại gặp ngày một nhiều "người" như vậy ở khắp ngõ ngách trong làng thì cô vẫn không thể tả lại dù chỉ một gương mặt. Dường như "họ" không muốn cho Trân thấy được dung mạo của mình, chỉ muốn chơi cùng với cô chứ không muốn được nhớ đến. Trong mắt Trân, sự xuất hiện của "họ" luôn gắn liền với những góc tối trong nhà, dưới tán cây, trong bóng tối. Vì vậy nên cô gọi họ là tiên xó nhà.
Không biết tại sao những người trong làng, kể cả ông bà ngoại của Trân ở đây đã lâu như vậy rồi nhưng chưa từng nhìn thấy tiên xó nhà. Khi Trân kể với họ, ai cũng bảo cô hay tưởng tượng, có người còn trêu rằng cô đã thấy ma. Nhưng mẹ từng nói với cô rằng, ma quỷ vô cùng xấu xí, lại còn hay hù dọa người khác, làm cho người ta sợ hãi, còn nếu họ trông đẹp đẽ, thân thiện và tốt bụng, thì họ chính là thần tiên. Trân thấy tiên xó nhà rất dễ thương, lại còn thường xuyên chơi cùng với cô. Nhất là tiên xó nhà ở trong nhà ông bà ngoại, mỗi lần cô về thì họ lại trốn trong góc tối để hù cô. Họ bảo rằng sẽ trêu đến khi cô không còn giật mình nữa thì mới thôi, nhưng Trân mới chỉ là một cô bé, vẫn còn nhạy cảm và mong manh lắm.
Nói về tiên xó nhà thì Trân vẫn còn thắc mắc một chuyện từ đó đến giờ. Trong nhà ông bà ngoại của Trân có hai tiên xó nhà, một người đàn ông và một cậu bé. Hai người họ rất hay đến chơi với tiên xó nhà sống dưới gốc cây liễu già đầu làng. Ba người họ thường bảo "bốn người chúng ta là một gia đình", nhưng Trân nhìn kiểu gì cũng chỉ thấy có ba bóng người, nếu tính cả cô nữa thì mới thành bốn. Nhưng bóng cậu bé lại bảo cô không phải, chị của cậu mới phải. Lần nào Trân cũng nhận lại câu trả lời y hệt. Trân nghe không hiểu.
Cô bé năm nào rồi cũng phải lớn lên, tần suất Trân gặp những "tiên xó nhà" cũng ngày một ít đi. Dần dần, cô không còn gặp lại họ nữa. Mẹ cô bảo rằng, những người bạn tưởng tượng sẽ dần biến mất khi con người gặp được người bạn thật sự của mình. Trân cũng nghĩ như vậy, bởi vì trên lớp cô có rất nhiều bạn, và ở bên cạnh nhà cũng có một bé gái vô cùng đáng yêu. Trân đã lâu không còn ở nhà lủi thủi tự chơi một mình như trước.
Có một thời gian trong làng muốn phục dựng lại hội diều của ông bà ngày xưa, khi ấy Trân đã lên mười, vừa được cha làm cho một con diều nên háo hức lắm. Nhưng mẹ bảo Trân chỉ có thể thả nó vào hội diều, còn bình thường thì nên dùng con diều giấy cũ để chơi với bạn. Cô bé có chút hụt hẫng nhưng vẫn vui vì chỉ còn vài ngày nữa là tới hội diều. Những ngày này, người ta quảng bá về hội diều ở khắp nơi, có rất nhiều người đổ về làng vì hội diều, Trân cũng vô cùng thích thú khi nghe những câu chuyện được ông bà trong làng kể lại, và cả những câu chuyện được những cô chú trong đoàn phục dựng kể lại từ quá trình nghiên cứu.
Chuyện kể rằng đầu làng xưa là một cái hồ lớn, đến mức người ta gọi là biển hồ. Cạnh biển hồ có một cây liễu già, người trong làng coi hồ và liễu là vật linh thiêng, nơi người trời hạ xuống. Vì vậy nên những chuyện quan trọng trong làng từ lễ tiết đến hội họp nếu không bị ảnh hưởng bởi thời tiết thì đều được tổ chức ven hồ, cạnh gốc liễu xanh mát và cao lớn. Hội diều cũng được tổ chức gần hồ, nơi có thửa ruộng lớn và con đường rộng uốn quanh.
Về hội diều, làng xưa kể rằng rất lâu về trước có chuyện người cha nọ đi khắp nơi để tạo ra chiếc chuyền có thể đi từ mặt nước lên trên mây để con gái mình có thể được sống tiếp. Tuy nhiên thuyền chưa thành hình thì con đã về trời, người cha đành cố gắng hoàn thành để đặt lên mộ con. Vào hôm chiếc thuyền hoàn thành, người con gái báo mộng cho cha, bảo ông mang thuyền ra biển hồ, nó sẽ từ từ trôi đến chỗ cô, dẫn cô về gặp cha. Người cha làm theo và thật sự gặp được con gái. Vì quá thương con và không muốn phải gặp nhau trong những giây phút ngắn ngủi như thế này, người cha đã ngồi thuyền lên trời để được đoàn tụ với con. Để tưởng nhớ ông, trong làng tổ chức hội diều vào ngày ông lên thuyền, với con diều được phỏng theo hình dáng của thuyền đi trên mây, có kèm theo lời nhắn gửi đến người đã khuất hoặc ước mong, tâm sự của người thả diều. Những con diều được thả trong ngày hội được gọi là thuyền trời.
Người ta bảo những chiếc thuyền trời mang theo ước nguyện không thể thành hiện thực hoặc lời nhắn không thể đến được với người nhận sẽ rơi xuống biển hồ. Nhưng biển hồ nay đã "teo" lại thành cái giếng ở cạnh gốc liễu, Trân thắc mắc liệu những con diều đó sẽ "chui"xuống giếng hay rơi xuống đất.
Chờ đợi luôn khiến người ta thấy ngày dài bằng năm, Trân cuối cùng cũng được mang chiếc thuyền trời xinh đẹp ra khoe với các bạn sau những năm tháng dài dằng dẳng mở ra đóng vào cánh cửa tủ cũ kỹ để ngắm. Chiếc diều làm bằng loại giấy đặc biệt được cố định trên khung tre, trông rất giống một con thuyền khi được nhìn từ xa.
Hội diều bình thường chỉ diễn ra trong một ngày, nhưng vì khách du lịch tới đông nên làng đã tổ chức thêm hai ngày nữa để du khách đến muộn vẫn có thể trải nghiệm. Làng rất rộng nhưng người ta chỉ cho phép thả thuyền trời trong không gian cố định quanh cái giếng nhỏ cạnh gốc liễu đầu làng. Trước khi bắt đầu hội diều, những người lớn tuổi trong làng sẽ đại diện làm lễ. Địa điểm làm lễ là ngôi miếu hoang đã được tu sửa lại. Nhờ việc sửa chữa mà Trân mới biết được tên gọi của nó là miếu Mẫu Tử, gắn với câu chuyện về tượng mẹ ôm con. Trân thấy bức tượng rất quen, và cả tên gọi nữa, dường như cô đã nghe "sự tích tượng mẹ ôm con" ở đâu rồi. Nhưng hiện tại cô không để tâm mấy, vì tâm trí cô hiện tại tràn đầy sự háo hức, nôn nóng được thả thuyền trời. Hình ảnh vô số con thuyền lượn lờ trên đại dương treo ngược trở nên ngày một phong phú và đặc sắc hơn trong tưởng tượng của Trân.
Không biết mọi người trong miếu làm gì mà đến giữa trưa mới kết thúc phần lễ. Mây đã kéo đến cuồn cuộn từng mảng, ai cũng mang theo thuyền trời của riêng mình đến bãi thả. Khoảnh khắc từng con diều từ từ bay lên cao theo sự điều khiển của người cầm dây đến khi lơ lửng chao nghiêng trên đỉnh đầu, cả Trân và mọi người ở đó đều kinh ngạc nhìn. Bằng cách nào đó, những con diều lại có thể tạo thành một dải uốn lượn, dù còn cách rất xa mới chạm được vào tầng mây nhưng hiệu ứng hiện tại đã đủ khiến người ta liên tưởng đến cảnh thả vô số thuyền giấy nhỏ vào bể nước.
Gió ngày một mạnh, bầu trời và mặt đất dần được lấp đầy bởi diều giấy và du khách. Cho đến khi mây cuộn trào như sóng cả, có người hô vang "cắt dây, thả thuyền!", tất cả mọi người đều đồng loạt cắt dây diều. Có diều bay nhanh, có diều bay chậm, cao thấp đủ cả, nhưng tựu trung lại thì tất cả thuyền đều về với biển. Thuyền trời chạm mặt biển, biển ngược ôm lấy tâm nguyện của tất cả người sống.
Gió dần dịu bớt, người ở bãi thả diều thưa đi, nhưng vẫn còn rất nhiều người muốn xem cảnh tất cả thuyền trời chìm vào đại dương trên cao. Không ít người dùng đủ loại điện thoại, máy ảnh để ghi lại khoảnh khắc đặc biệt này. Tuy nhiên, họ cũng vô tình ghi lại một khoảnh khắc khác cũng hoành tráng không kém
Trên những tầng mây, vô số thuyền trời bốc cháy, rơi xuống. Không biết bằng cách nào, diều giấy cứ như thể bắt lửa ngay giữa không trung rồi đảo ngược hướng, lao thẳng xuống dưới. Diều cháy rơi khắp nơi, nhưng phần lớn đều nhắm vào cây liễu. Mọi người bỏ chạy tán loạn, may mà không ai bị thương.
Những "con thuyền lửa" chạm đất là tàn, nhưng khi ngọn lửa bắt được đến cây liễu thì lại bùng lên dữ dội. Khi tất cả mọi người đều ra ngoài an toàn, nhìn lại thì thấy cây liễu chìm trong biển lửa. Ai cũng vừa sợ vừa trầm trồ, tâm lý con người khiến họ vô thức lấy thiết bị ra ghi hình lại giây phút cuối đời của một biểu tượng linh thiêng già cỗi.
Cây liễu cứ cháy như vậy cho đến tận khuya, tới khi ngọn lửa nhỏ xíu cuối cùng trên đám tro dần tàn thì đã là buổi sớm ba ngày sau. Khi tàn dư của cây liễu bởi gió mạnh thổi đi, trong làng dần xuất hiện những tiếng la:
"Con bé ở đây!"
Người ta thấy Trân nằm bất tỉnh ngoài ruộng, khi đưa vào bệnh viện thì cô dường như không còn dấu hiệu của sự sống.