Dưới sự kiểm soát của Thiên, Kỳ Anh chỉ mang theo một cái mỏ lết và chiếc rìu dã ngoại, toàn bộ số dao mà cậu đã tuyển chọn bị anh ta ném hết vào trong tủ kệ bếp trống một cách không thương tiếc.
“Cậu muốn mình chưa thành nạn nhân đã sắm vai tội phạm hả? Tính đi đâm ai? Vị tà thần kia sẽ để cho cậu đâm à? Ngốc ạ.”
Đức đã tỉnh lại vì các loại âm thanh lộn xộn mà họ tạo ra, nhưng dù có thế, cậu ta vẫn không có phản ứng gì ngoài chớp mắt rồi tiếp tục thu mình vào trong góc. Có vẻ như con chuột con này dù có hoá quỷ thì thể trạng yếu ớt vẫn được thừa kế từ hồi còn làm người, toàn bộ sức mạnh đã bị dùng hết trong đợt giãy dụa ngày hôm qua rồi.
“Cứ để thế thôi hả? Nhỡ nhóc con đó cần giải quyết nỗi buồn, đói hay muốn đổi tư thế nằm thì sao?”
“Tôi có để lại tờ note cùng kéo trong hộp nhựa gần đấy rồi. Một khi có ý thức, cậu ấy sẽ tự biết đường hành động thôi.”
Kỳ Anh thay một chiếc áo phông, quần jeans và giày thể thao, ngoài ra còn khoác thêm một chiếc áo khoác gió để phòng hờ nếu thời tiết trên núi trở lạnh. Thiên cũng có một chiếc ba lô để đeo trên vai.
Khi đã chuẩn bị xong, anh ta hất cằm về phía Kỳ Anh.
“Đi chưa?”
Kỳ Anh gật đầu.
“Đi.”
***
Lam An tỉnh lại, không một tiếng động, mi mắt hắn động đậy rồi hững hờ mở ra.
Đối diện thẳng mặt với hắn là bức tượng khổng lồ của Phật Tam Diện, khoảng cách gần tới bất ngờ.
Vị thần ấy có ba đầu, sáu tay, giữ hai cây trượng và thân mặc cà sa đỏ. Vàng bạc, hạt châu đen và ngọc quý hiện đầy trên thân Ngài.
Trong luật lệ theo hệ thống giáo lý, thần là tồn tại thiêng liêng của trời đất, Ngài không muốn nhìn thấy sự trần tục của thế gian. Chính vì thế mà trong những ngày không phải là dịp lễ đặc biệt, các thần quan sẽ dùng ba tấm khăn đỏ để che ba cái đầu lại.
Nhưng An biết đó chỉ là vỏ ngoài mà thôi.
Ánh mắt của vị thần này quá mức hung ác, nếu không che lại thì chính các tín đồ của nó sẽ bị loạn thần mất.
Hắn thất thần nhìn bức tượng trước mặt mình rồi lẳng lặng di chuyển tầm mắt.
Lâu lắm rồi không gặp, quả thực hắn đã quên gần hết hình dạng của nó rồi. Không thể ngờ rằng lại có ngày hắn phải đối diện với bức tượng ấy trong trạng thái thế này.
An bị đặt nằm trên một chiếc bàn nghiêng, các phần cơ thể không được ráp lại mà giữ nguyên trạng thái phân mảnh, bị ghim cố định bằng đinh sắt như những tiêu bản bướm trong các bộ sưu tập. Không biết nhóm người ở đây đã dùng phương thức nào để máu của hắn không chảy ra.
Bị treo như đồ chơi khiến An không thoải mái.
Nơi này không có cửa sổ, không thể xác định được thời gian.
Hậu cung, gian phòng sâu nhất, kín đáo nhất và linh thiêng nhất của một ngôi đền, địa điểm người thường tuyệt đối không được bước chân vào, giờ đây đã trở thành nơi giam nhốt hắn.
Chiếc bàn treo người An nằm ở chính giữa, thảm lễ lạy đã được thu hết đi để dành lại phần lớn không gian cho hắn.
Thứ quan trọng nhất trong đây chính là ngai thờ lớn như một ngôi đền thu nhỏ, cái được điêu khắc hình con rắn cuộn mình và gồng lên dữ tợn, thứ đang ôm trọn lấy bức tượng thần. Nó được đặt ở nơi cao nhất, trên một bệ gỗ đen đậm màu.
Xuống một bậc là hai bức tượng hầu nhỏ hơn ở hai bên. Áo mão đỏ chúng mặc có thêu hoa văn công phu nhưng tuyệt đối không được nhiều chi tiết hơn bức tượng chính. Để xung quanh là rương sắc phong và bảo vật.
Xuống thêm một bậc là bàn thờ hương án, nơi đặt lư đỉnh, đèn nến và bát hương cốt.
Các cành hoè lớn rũ xuống bàn thờ từ hai bên, dưới ánh đỏ cam của các bấc nến lưu ly, màu trắng ởn như xương của các chùm hoa lớn càng trở nên nổi bật.
Nhìn ra rộng hơn, bốn bức tường bao quanh gian phòng và cả trần trên, sàn dưới đều lấy màu đỏ làm chủ đạo, giống như cỗ xe rồng Kỳ Anh từng thấy qua, bên trong đây cũng hiện đầy những bức hoạ tôn giáo kỳ công.
Hai cây cột lớn đỡ lấy trần nhà nằm đối xứng với nhau. Chúng đều được nhuộm một màu đỏ son rực rỡ, trên đỉnh cột là các hoạ tiết màu xanh ngọc chồng lớp lên nhau. Không chỉ vậy, hướng mắt lên cao nữa là hàng chục đèn lồng hình đài hoa sen úp ngược màu cam vàng đang lơ lửng, yên lặng phục vụ cho chủ nhân của mình.
Chưa dừng lại ở đó, sóng đôi hai bên bệ thờ là những chiếc kệ gỗ đồ sộ. Trên kệ xếp chi chít vô số tượng vàng to bằng một gang tay người trưởng thành. Tất cả đều có tư thế ngồi thiền trên toạ cụ đỏ thẫm, sau đầu là vòng hào quang óng ánh ngũ sắc. Đó chính là bức tượng của những đời ngôn quan trước đây. Bên trong lớp vàng có chứa xương hàm và ngón tay út của họ.
“...”
An để ý ở trên một ngăn, người ta đã đã đặt sẵn một toạ cụ đỏ ở đó nhưng chưa có tượng vàng. Có lẽ, nó đang chờ để dành cho vị ngôn quan tiếp theo.
Ánh sáng trong đây quá u tối, bấc nến cháy leo lắt khiến bóng đổ trên mặt của các bức tượng xao động liên tục, tạo ra một loại ảo giác rằng bọn chúng có sức sống và đang không ngừng thay đổi biểu cảm.
An không thích nơi này.
Các bộ phận khác là bị đóng đinh trực tiếp vào da, còn đầu thì may ra không phải chịu chung số phận. Thần quan ở đây dùng ba cái đinh, hai cái ở sát mang tai, một cái dưới cổ để cố định đầu hắn không rơi xuống. Hắn không cử động đầu được do cột sống cổ và cơ chẳng còn, chỉ còn lại đôi mắt có thể liếc sang bên cạnh, nhìn cánh tay để ngang bằng vai của mình.
Hắn muốn cử động ngón tay nhưng cánh tay kia không có phản ứng.
An không có hi vọng nên cũng không thất vọng nhiều. Quả nhiên, dây thần kinh mà đứt đoạn thì có là quỷ cũng không điều khiển thân thể nổi.
Chậc.
Thế là, hắn đã bị ghim cố định mất rồi.
Lam An nhắm mắt lại. Nếu có hơi thở, hẳn người ta đã nghe thấy một tiếng thở dài đầy chán ngán của hắn.
Nằm không một chỗ khiến hắn trở nên bần thần, trong đầu liên tục nổi lên các suy nghĩ khác nhau.
Không biết bây giờ, Kỳ Anh đang làm gì. Cậu có chịu về nhà một cách ngoan ngoãn không hay lại tính làm chuyện liều lĩnh nào.
Cắt ngang sự trầm ngâm của hắn, một tiếng kéo cửa vang lên rất khẽ khàng. Tiếp theo đó là tiếng của lòng bàn chân di chuyển trên sàn nhà lát đá và âm thanh sột soạt của vải vóc.
Có người đang tiếp cận hắn từ đằng sau cái bàn.
Những tiếng động ấy vẫn chưa ngừng lại.
Dường như kẻ đó đang quỳ xuống rất sâu, vòng hạt châu đen đeo trên cổ rơi xuống mặt đất phát ra các tiếng lách cách lanh lảnh.
“Ngài đã tỉnh lại rồi.” Một giọng nói già nua vang lên.
Lam An không đáp lời, đối phương cũng không vì thế mà thay đổi thái độ.
“Chúng tôi đã chuẩn bị rất nhiều ‘thịt tươi’, bất cứ khi nào ngài muốn, tôi đều có thể cho người mang lên phục vụ ngài.”
“Thịt tươi” ở đây là để chỉ những người còn sống bị nhốt lại, khi ấy linh hồn vẫn còn ngợp dương khí, khi hấp thụ sẽ có vị ngon của cả khí và máu tanh hợp lại.
Nhưng An không hề quan tâm.
“Mặt nạ gì?”
Nghe thấy chất giọng khàn khàn của hắn, vị thần quan kia cúi xuống càng sâu hơn, dải vòng cổ xâu hạt đã nằm rạp hẳn ra sàn.
“Thưa ngài, là mặt nạ xương chó.”
Là xương chó chứ không phải xương rắn. Nơi này vẫn chưa có ngôn quan mới à?
Tôn giáo này có phân cấp bậc, dù là rất đơn giản.
Tầng thấp nhất là các tín đồ, ví dụ ở đây chính là dân thị trấn, những kẻ bị tẩy não và trở thành “nguồn sống” nuôi dưỡng ngôi đền.
Tầng thứ ba là tăng nhân, lực lượng chủ yếu hoạt động tay chân và quản lý các tín đồ. Nam sẽ đội mặt nạ bướm đen, còn nữ là mặt nạ xương chó. Từ tầng này, người ta bắt đầu được phép mặc áo cà sa đỏ.
Tầng thứ hai là thần quan, trực tiếp tiếp xúc với các ghi chép, điều hành ngôi đền, các hoạt động nghi lễ và bắt đầu có quyền ra vào những cung cấm trong đền. Từ đây chỉ có nữ còn trinh nguyên mới được tuyển chọn. Họ vẫn đeo mặt nạ xương chó và áo cà sa, nhưng đã có thêm một vòng hạt châu đen ở cổ.
Tầng cao nhất là ngôn quan, kẻ được cho là có thể biểu đạt được tiếng nói của thần, nhân tố quan trọng nhất của tôn giáo này. Trên đời không một ai có thể nghe hiểu tiếng của thần ngoại trừ họ, người thường vô tình nghe cũng sẽ tự nghĩ đó là tiếng hát. Chính vì có khả năng đưa ra giáo lệnh, không một ai được phép nghi ngờ, nên chỉ có họ mới được đội mặt nạ xương đầu rắn tượng trưng cho quyền lực tuyệt đối và đeo vòng hạt châu đen quấn ba tầng. Tất cả đều là nữ.
Việc cử một thần quan đến nói chuyện với An thế này, có nghĩa là ngôi đền chưa tìm được ngôn quan mới sau cái chết của vị đi trước.
Nếu cứ để thế thì nơi đây hoạt động kiểu gì?
“Sao chưa tìm ngôn quan mới?”
“Thưa, vị ngôn quan trước khi viên tịch đã thử gieo quẻ ba lần nhưng đều không thành.”
Điều đó có nghĩa, Phật Tam Diện không chịu tìm người mới.
Vì sao?
Vì trên đời vẫn còn một vị ngôn quan khác còn sống nhưng đã không còn ở trong đền, chính là vị đã chạy xuống thị trấn sau vụ cháy ba năm trước. Thần rất thích người đó nên không chịu đổi.
Lý do ấy cũng giải thích vì sao vị ngôn quan cũ lại phải đứng ra quản lý ngôi đền cho tới chết dù tuổi đã cao. Và vì ngôn quan mất mà không có người thừa kế nên ngôi đền này mới hoạt động sôi nổi như vậy dạo gần đây để tìm người thế chỗ.
Quả thực, mọi thứ đều có nguyên do của nó.
An không nói thêm gì nữa. Vị thần quan kia vẫn giữ nguyên tư thế quỳ không động đậy. Có vẻ như bà ta được giao nhiệm vụ ở đây để phục vụ lẫn canh trừng hắn.
Không gian rơi vào trạng thái tĩnh mịch tới mức chỉ còn nghe thấy tiếng cháy tí tách của các bấc nến lưu ly. Gian phòng có hai vật thể sống, ấy thế mà câm lặng như chẳng có ai.
Đúng lúc ấy.
Một tăng nhân vội vã đi từ ngoài chính điện vào đến cửa hậu cung. Kẻ đó không dám vén rèm bước vào mà chỉ có thể đứng ngoài hành lang nói vọng vào trong.
Vị thần quan kia ngồi dậy, nhìn tăng nhân hạ thấp thân thể, chỉ tay về hướng cửa chính. Ngay lập tức, đôi mắt bạc xám ẩn sau lớp mặt nạ vụt sáng lên.
Bà ta hớt hải điều chỉnh lại tư thế quỳ, cúi đầu vái ba lạy về phía ngai thờ rồi nhanh chóng rút ra khỏi hậu cung nhiễm sắc đỏ.
An một lần nữa đối diện với bức tượng thần trong tĩnh lặng.
Khi tâm trí không còn bị phân tâm bởi điều gì khác, cơn mệt mỏi hiện về rõ ràng hơn bên trong hắn.
Mi mắt chớp mở mỗi lúc một nặng nề. An có cảm giác sẽ chẳng bao lâu nữa, đợt tỉnh lại này của hắn sẽ kết thúc.
***
“Đừng có mặc cái áo hoa đó nữa, anh muốn trở thành người nổi bật nhất ở đấy à?”
Trước khi đi Kỳ Anh đã thử tìm trong tủ đồ của mình xem có bộ nào tối màu mà rộng cho Thiên mặc hay không. Nhưng tất cả đều không vừa hoặc không đúng ý anh ta.
Thiên bĩu môi nhìn đống quần áo trải dưới sàn rồi bảo cậu chờ một lát, sau đó rời khỏi nhà và quay trở lại với một chiếc áo hoodie đen chẳng biết trộm được từ nhà nào.
Đang độ cuối thu đầu đông, đứng dưới nắng sẽ có cảm giác hơi ran rát, nhưng chỉ cần vào bóng râm thì lại thấy tê tê lạnh. Càng là khu vực núi rừng thì tiết trời lại càng thiên lạnh nhiều hơn.
Kỳ Anh dựa theo chỉ dẫn của Lam An mà tìm đến nơi có treo hai hàng đèn lồng. Từ chân đi lên tới lưng chừng núi, địa hình chỉ có đá và đất, nhưng khi đã vượt qua được quãng đường này, quả nhiên, nơi từng treo hàng dây kết gắn đầu chó và da rắn lột giờ chỉ còn những mảnh vụn đỏ bị xé thành nhiều mảnh nằm vương vãi trên mặt đất, để lộ ra hàng trăm bậc cầu thang bằng đá dẫn lên đỉnh núi.
Thiên đội một chiếc mũ phớt lớn bên trong mũ áo hoodie không khỏi kinh ngạc.
“Bạn cậu đỉnh thật đấy.”
Nhìn đống đầu lâu chó và da rắn, thứ mà anh ta sẽ chẳng bao giờ dám chạm vào được xử lý gọn gàng chưa kìa.
Kỳ Anh không đáp lời. Cậu kéo chiếc mũ áo khoác gió chấm qua lông mày, tay giữ chặt quai ba lô, bước từng bước vượt qua đoạn cầu thang đá gần như dốc thẳng.
Cây cối rậm rạp xoè tán rộng, ngăn cản phần lớn ánh nắng rơi xuống cầu thang. Càng lên cao thì sự kỳ lạ càng nhân lên. Dù có dỏng tai lên nghe thì cũng chẳng bắt được một tiếng chim, tiếng thú hay loài côn trùng nào. Cũng bắt đầu từ đây, không cần có một chiếc mũi nhạy bén, cả hai người đều bắt được một mùi thơm nhàn nhạt bay từ trên xuống.
Mùi hoa hoè.
“Sắp đến rồi.” Thiên liếm khóe miệng, tay lại không tự chủ mà sờ vào vết sẹo trên cổ.
Lớp sương mỏng bao phủ đỉnh núi, mỗi khi họ nghĩ rằng mình sắp nhìn thấy lối vào rồi thì thứ đáp lại họ chỉ là ảo ảnh cho màn sương tạo ra.
Cơn lạnh sướt mướt khiến con người run lên trong sự khó chịu, bức bối.
Đúng là một ngôi đền quái dị, bắt đầu khởi hành vào lúc ban sáng thì khi bước lên đến đây không gian cũng đã tù mù như rơi vào buổi cuối chiều. Sương trên đỉnh dày tới mức ánh nắng không thể lọt qua.
Rõ ràng nhìn từ bên dưới, nó không hề lắm sương đến như vậy.
Kỳ Anh ôm cổ áo thở ra một làn khói trắng. Đằng sau, Thiên đút chai nước khoáng vào ba lô và sóng vai cậu đứng ở bậc thang cuối cùng.
Cả một vùng rừng xanh đã được đổi thành các hàng cây hoè chục tuổi. Thân chúng đồ sộ, sồ sề. Chiều cao của chúng có thể chạm được đến nóc của tòa nhà ba tầng. Vỏ thân màu xám đen, nứt vỡ thành các rãnh dọc sâu và dày, nhưng tuyệt đối không có rêu bám lên vì chúng không tài nào chịu nổi lượng âm khí tích tụ quá lớn bên trong loài cây thân gỗ này. Mật độ tán lá dày và chằng chịt lên nhau, nhưng màu lá lại bị áp đảo bởi màu trắng của vô số chùm hoa đang vào đợt. Đi bên dưới hàng cây hoè ấy quá lâu, Kỳ Anh còn tự đùa với mình rằng người ta sẽ quên mất mặt trời có màu gì.
“Có cánh cổng ở hướng đó.”
Mờ mờ trong sương xám và bóng đổ của hàng cây, một chiếc cửa gỗ bọc đai sắt nạm đinh đồng màu đen im lìm hiện ra. Bên trên đúc hình núi đồi, mây gió, sông suối và con người đang khom lưng trước vị thần ba đầu ở chính giữa đang dang ba đôi cánh tay, từ bi ôm lấy tất cả vào trong lòng. Ở phần mái trên của cánh cổng, người ta có treo hai chiếc đèn lồng và quấn hai cái da rắn đối xứng nhau.
Cánh cổng ấy không hề có dấu hiệu nứt nẻ của thời gian mà rất mới, chỉ có tay cầm do có nhiều người chạm vào mà bị nhám mờ đi.
Kỳ Anh điều chỉnh lại nhịp thở dồn dập của mình, cậu quay sang nhìn Thiên rồi đưa tay đập tay cầm.
Thùng thùng thùng!
Trong khoảnh khắc ba tiếng gõ kim loại ấy vang lên, cả hai người con trai đã căng thẳng luồn tay ra sau lưng, sẵn sàng rút vũ khí từ trong ba lô ra bất cứ lúc nào.
Chỉ là họ không thể nào ngờ rằng…
“Ồ, lại có người đến nữa này. Sao hôm nay đông vậy?”
“!”
Trước biểu cảm dại ra của cả hai, kẻ đẩy cổng và ngó ra ngoài nhìn lại là một người đàn ông đeo kính, mặc bộ đồ du lịch thoải mái không hề phù hợp với bầu không gian u trầm và xưa cũ của ngôi đền.
“Lại là nhà báo hả? Hay đến cầu may thế?”
Gì cơ? Anh ta vừa dùng từ “lại là” sao?
“Ơ…”
Trong lúc Kỳ Anh hoang mang không biết mình phải phản ứng như thế nào thì Thiên đứng bên cạnh đã thức thời buông tay ra khỏi ba lô, thành thạo bày ra vẻ mặt chân thật mà đáp lại.
“Gần giống như nhà báo nhưng không phải. Tôi và đàn em khóa dưới từ đại học xã hội và nhân văn Thủ đô về đây, muốn viết báo cáo về văn hoá của người dân Trung du Bắc bộ.”
“À, ra là sinh viên à.”
Thế là ông ta đẩy cổng mở rộng hơn.
Thiên đứng lên trước che cho Kỳ Anh, vừa đủ để có thể đẩy cậu đi nếu có nguy hiểm, vừa đủ để cậu có thể nhìn thấy được một khoảng sân sở hữu nền đá núi tự nhiên đằng sau cổng gỗ đang ken két mở chậm.
Có khoảng gần mười người hoặc đứng hoặc ngồi xổm, và tất cả đều ăn mặc rất hiện đại.
Họ không phải người sống trong ngôi đền này.
“Là nhà báo hoặc phóng viên gì đó. Thật là, nãy giờ cứ nhặng xị lên, ồn ào không cho người khác đi thắp hương cái gì hết.”
Người đàn ông đeo kính nhỏ giọng phê phán rồi nhún vai, bước gọn sang một bên để cả hai tiến vào trong.
Giờ đây, ai trong số hai người cũng phải tự ngộ ra, kế hoạch hoạt động mà họ đã dày công tính toán đã đổ bể cả rồi.