Trước khi lên núi, Kỳ Anh và Thiên đã bàn bạc với nhau.
Họ sẽ tiếp cận cổng chính thay vì lén lút tìm cách đột nhập vì ở nơi tà mị này, nếu cứ đi lại lung tung thì khéo có khi họ sẽ giẫm phải mìn nổ mà không hề hay biết. Khi gõ cửa xin vào, tùy theo tâm trạng của kẻ ra đón, họ sẽ bịa ra một thân phận phù hợp và lý do vì sao mình xuất hiện ở đó.
Nhưng còn hiện tại thì…
“Kính sợ thần linh. Cầu xin thần linh ban phước.”
Một thần quan tóc bạc đội mặt nạ xương chó xuất hiện trên bậc thềm chính điện, theo sau là các tăng nhân úp hai mu bàn tay vào nhau, đứng thẳng lưng đồng thanh cất lời xướng tụng.
Những nhà báo, phóng viên hoặc khách du lịch đi leo núi vô tình lạc vào đây đều bối rối trước câu nói đó, nhưng người đàn ông đeo kính tự xưng mình là người đến để cầu may cùng ba người đi cùng khác thì đồng đều úp hai mu bàn tay vào nhau, cũng ca lời xướng tụng để đáp lại nhóm tín đồ môn đạo.
“Cầu xin thần linh ban phước!”
Kỳ Anh nhìn bọn họ, ngay lập tức bắt chước làm theo. Thiên bắt được tín hiệu nên cũng khom lưng, thì thầm nhại giọng nhóm bốn người kia.
Giống như hiệu ứng domino, những kẻ còn đang ngờ vực khác cũng gấp gáp xướng tụng, tiếng xì xồ ngượng ngùng nối tiếp nhau nghe qua có hơi buồn cười.
Nhưng điều đó không hề làm hỏng tâm trạng của vị thần quan già. Thông qua lớp mặt nạ xương chó, đôi mắt xám bạc bình thản liếc nhìn qua dung mạo từng người đang đứng trong sân.
Kỳ Anh đếm cùng bà ta.
Mười một người.
Không biết đối với nhóm tín đồ đó thì con số này là ít hay là nhiều.
“Thiện nam tín nữ xa xôi lội núi tìm về, quả là duyên lành đã chín. Tọa chủ từ bi trên cao đã nghe thấy tiếng lòng mong mỏi của các vị. Bể khổ nhân gian không đáy, cửa thần tà uế không chê. Đã gặp được nhau đều nhờ vào số mệnh. Vào đây, vào đây.”
Nhóm tìm đến đền thờ này vì tin đồn ngọn núi Bách Tử đang cúng bái tín ngưỡng lạ biết giờ chưa phải lúc mở miệng nên im lặng theo sau cái vẫy tay của thần quan, lục tục cởi giày để đi vào chính điện. Kỳ lạ là nhóm tăng nhân đi sau đã tản ra hai bên, không vào trong cùng họ mà đứng bất động ngoài sân.
“Họ làm cái gì thế?”
“Chịu.”
“Chắc đó chỉ là nghi thức chào đón khách ghé thăm thôi nhỉ?”
Hai du khách đi lạc cảm thấy ngôi đền này có gì đó rất bất thường nhưng chẳng thể chỉ rõ đó là điểm nào nên đứng sát vào nhau, tìm cách để đi ở khúc giữa đoàn người. Họ sợ nhưng chưa vội vã quay ra ngoài cổng và chạy về chân núi. Có vẻ như họ chỉ nghĩ nơi này đáng sợ là bởi có quá nhiều sương mù khiến ngôi đền trông có vẻ tối tăm thôi.
Con người rất hay có thiên kiến bình thường hóa những hiện tượng không thể giải đáp, đánh giá thấp khả năng xảy ra thảm họa và cố gắng giải thích mọi thứ bằng những kịch bản quen thuộc để ngăn bản thân rơi vào hoảng loạn.
Đó cũng là thiên kiến đã xuất hiện ở Kỳ Anh những ngày đầu tiên sau cơn bão, chính vì thế mà cậu bỏ lỡ quá nhiều cơ hội để có thể xử lý mọi chuyện theo một hướng tốt hơn…
Mà thôi, đừng nghĩ nữa.
Kỳ Anh thở dài, nhanh chóng lập lại sự tập trung của mình.
Cậu và Thiên cố tình thả chậm bước chân để đi sau cùng, nhờ đó mà có thể quan sát được những vị khách khác mà không bị nghi ngờ.
Ba nhà báo cứ đi được vài ba bước là lại lén lút lấy điện thoại chụp trộm phong cách kiến trúc của ngôi đền, Kỳ Anh dám cá là trong chiếc túi du lịch mà một trong số họ cầm tay đang chứa camera quay lén.
Tất cả được dẫn vào trong chính điện, theo yêu cầu của thần quan, mọi người đều phải tự mình lấy một nệm quỳ và vái ba lạy, xin phép Ngài cho mình đi lại trong đền và cầu Ngài phù hộ bình an.
Tiếp đó, thần quan mang ra những dải vải đỏ, hỏi từng người một.
“Xin chư vị để lại tên họ đầy đủ, để tín đồ trình lên Toạ chủ cầu an.”
Nhóm của người đàn ông đeo kính đã khai tên từ trước nên được bỏ qua, lần lượt những nhà báo, khách du lịch đọc tên để thần quan nhúng đầu cọ vào chiếc nghiên đá mực đen, chậm rãi viết vào vải đỏ. Cứ khi có một cái tên hiện lên, người đeo mặt nạ xương lại tự viết thêm một dòng ngày tháng năm sinh của người đó ở bên dưới dù không một ai tiết lộ cho bà ta biết.
Cái này…
Đã đến lượt hai người đứng cuối.
Kỳ Anh đối diện với vị thần quan áo đỏ, vô tình cảm nhận được áp lực từ đôi mắt xám sau tấm mặt nạ. Cậu mím nhẹ môi một lát rồi bật ra một cái tên ngẫu nhiên hiện lên trong đầu.
“Trương Vũ Ninh.”
Người phụ nữ viết ‘Trương Vũ Ninh’ vào trong vải, ở khoảng trống còn lại bên dưới, không giống những người khác, bà ta để trống lại mục bát tự của cậu.
Kỳ Anh nghi ngờ, có phải do đó là tên giả nên bà ta không đọc được hay không?
Tới lượt Thiên, anh ta cũng xưng ra một cái tên giả: “Trần Trường Cương.”
Kỳ Anh: “...”
Thiên ghé sát vào cậu: “Cương chính, cương trực, cương nghị. Đừng có mà nghĩ bậy.”
Thần quan nhìn chằm chằm vào Thiên rất lâu, Kỳ Anh cũng phát ngại lảng mặt đi. Không hiểu sao lúc nghe tên Kỳ Anh nói, thái độ của bà ta rất bình thản, nhưng đến lượt Thiên, bà ta lại lộ ra vẻ tức giận sôi trào đè nén trong ánh mắt.
Kỳ Anh bỗng dưng lạnh gáy.
“Dưới tòa thần dám bày trò gian dối chính là tự tay điền tên mình vào danh sách độ hóa.”
Bị phát hiện rồi?! Không thể nào!
Nếu thế thì đáng lẽ ra người bị phát hiện phải là cậu chứ? Biểu cảm của Thiên lúc nói ra cái tên tự nghĩ ấy thản nhiên và thoải mái hơn cậu gấp nhiều lần, hoàn toàn không có sai lầm nào cả.
Cậu đã nghĩ cái nhìn hung dữ kia là vì cái tên có nội dung rất đáng ngại, nhưng hoá ra là không phải.
Tới cả Thiên cũng cứng đờ cả người rồi.
Dứt câu, bà ta ngoảnh mặt đi, tiến tới gần ban thờ, tay vuốt thẳng các mảnh vải đỏ trừ cái ghi của Thiên và treo hết chúng lên các thanh xà ngang ở trái phải ban thờ, nơi đã có hàng trăm mảnh vải đỏ khác cột trước đó. Có cái đã phai màu, sờn vải, có những cái còn rất mới. Khi thần quan đi lướt qua, gió sẽ làm các dải vải ấy bay lên phấp phới.
Bà ta đã quyết định bỏ qua Thiên, không đề cập gì tới tên của anh ta nữa. Cứ như vậy mà cho qua luôn.
Mà điều đó càng khiến Kỳ Anh và Thiên bất an tột độ. Thậm chí họ còn nghĩ, thà rằng bà ta cứ mắng thẳng mặt rồi đuổi họ đi còn hơn…
Xong xuôi, thần quan dẫn họ vào một toà nhà nằm thấp hơn so với ngôi đền lớn đặt chính điện và hậu cung.
Kỳ Anh nhận ra, lúc bước ra ngoài, chỉ còn có bảy người theo thần quan thôi. Bốn vị khách tới cúng bái vẫn tiếp tục ngồi lại trong chính điện.
“Sao thế? Muốn cảnh báo họ à?” Thiên đi bên cạnh thì thầm hỏi cậu với giọng điệu hứng thú dù sắc mặt vô cùng nhợt nhạt.
Tuy nhiên, Kỳ Anh lại trả lời với thái độ không mấy mặn mà: “Không có. Tin vào thứ đó là lựa chọn của họ, tôi sẽ không can thiệp vào nhân quả của người khác.”
“Ồ~!”
Kỳ Anh ngừng lại một lát, tiếng nói chuyện nhỏ hẳn xuống: “... Chúng ta chỉ nên tập trung vào chính mình thôi.”
Thiên không hỏi nữa mà kéo thấp chiếc mũ lưỡi trai đã dính hơi ẩm, hiển nhiên anh ta cũng đồng tình với câu nói ấy, nhất là sau tình huống bất ngờ vừa rồi.
Họ đi chuyến này chưa biết sống chết ra sao, hành động dại dột chỉ tổ khiến tất cả rơi vào rắc rối mà thôi.
Cả đỉnh ngọn núi này đều thuộc về tôn giáo của Phật Tam Diện. Ngôi đền thờ cúng chính đặt tại nơi cao nhất, để đến nhà tiếp khách và khu ở của tín đồ, họ phải đi vòng ra sau đền và bước trên các bậc cầu thang đá dẫn xuống dưới.
“Này, nhìn kìa.”
Một nam nhà báo khẽ huých nhẹ khuỷu tay vào đồng nghiệp đi bên cạnh mình, đầu hất xuống đất. Chẳng hiểu sao trên các bậc thang đá màu xanh xám lại xuất hiện những vết bẩn màu đen đã khô cứng. Chúng xuất hiện cả trên những dải dây đỏ treo chằng chịt nối qua các gốc cây hoè, được sử dụng như một chiếc lan can ngăn cách cầu thang và nơi khác. Hình dạng chất lỏng, cùng các vết kéo dài đứt quãng khiến một người có thể liên tưởng tới rất nhiều thứ.
Họ giữ trật tự và cố gắng rời mắt khỏi chúng, tiếp tục siết chặt vật dụng trong tay, bám theo sau kẻ đeo mặt nạ xương chó xuống đến địa điểm tiếp theo.
Giữa núi đá treo leo, gió thổi giật liên hồi, không khí loãng tới mức vận động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn cũng khiến phổi bị chèn ép, những dãy nhà hai tầng khép góc quây ở giữa một khoảng sân nhỏ, có nền móng kéo cọc găm sâu vào đá. Để chịu được giông bão, toàn bộ phần tường bao được đẽo trực tiếp từ đá phiến tại đỉnh núi và phết vôi mật mía. Mái nhà cong và dốc rất lớn, viền mái đua ra xa và được lợp bằng đá phiến đen xếp chồng lớp lên nhau như vảy cá. Trên bốn góc mái là bốn bức tượng linh thú thân chó có răng, đuôi rắn, và cánh bướm đè lên.
Tất cả đều thẫn thờ trước phong cách kiến trúc cổ xưa và lạnh lẽo ấy, chỉ tới khi vị thần quan mở một phòng tiếp khách, họ mới dần lấy lại được tỉnh táo mà ôm người đi vào để tránh gió.
Dù hai cánh cửa bức bàn đã đóng lại nhưng vẫn chẳng thể ngăn được tiếng gió rít gào ù ù ngoài kia lọt vào trong.
Nội thất bên trong thô sơ và đơn điệu, hầu hết đều được làm bằng gỗ.
Vị thần quan ngồi trên ghế cao nhất, những người khác sẽ tự chọn chỗ cho mình.
Nơi này không có dây điện nối từ dưới xuôi lên, nếu muốn thắp sáng, người ta chỉ dùng nến hoặc đèn dầu, đèn bão. Một tăng nhân nhỏ tuổi cẩn thận thắp một cột nến hương rồi cẩn thận lùi bước về một góc phòng.
Không gian tù mù, ánh sáng từ ngọn nến lay lắt phản chiếu lên khuôn mặt có phần bơ phờ, xanh xao của những vị khách chưa thể thích nghi ngay được với môi trường lạ.
Điệu bộ căm hận đối với Thiên đã biến mất như bốc hơi, để lại một chất giọng đều đều hoà nhã từ phía vị thần quan.
“Rất vui được đón tiếp các vị. Ta phụng sự thần linh, trở thành thần quan của ngôi đền thiêng liêng này.”
Hai bàn tay màu đỏ gạch chạm lên viền mặt nạ rồi đẩy nó ra sau đầu. Một khuôn mặt già nua, nhăn nheo như vỏ trám khô hiện ra. Đặc biệt nhất là đôi mắt lớn và to đến bất thường của bà, vô hồn nhìn về phía trước như đôi mắt của một con búp bê.
Những người khác dại ra, cơ thể biểu lộ sự căng thẳng. Còn Kỳ Anh và Thiên thì tái mặt, đại não trống rỗng, trong vô thức, cả hai đều cúi mặt xuống, vừa để tránh ánh nhìn gây khó chịu ấy, vừa là để che đi dung mạo của mình.
Thiên từng là linh hồn mắc kẹt ít lâu tại đỉnh núi này, đã lang thang quanh thị trấn suốt ba năm, nên anh ta biết được một số điều mà ít người nào sẽ nói cho.
Tăng nhân, thần quan trong đền không được phép để lộ mặt với người ngoài, bởi vì khi đã chấp nhận tôn thờ thần linh, thì toàn bộ tính mạng, sức khỏe và ngoại hình đều sẽ thuộc về thần. Tuyệt đối không được để lộ ra!
Trừ phi, đó là người chết…
Vị thần quan già với mái tóc hoa râm ra hiệu mời mọi người đặt câu hỏi. Lúc đầu tất cả vẫn rất ngượng nghịu, nhưng về sau đã mạnh dạn hỏi về vài chủ đề.
Một trong số những tò mò mà nhà báo đề cập đến có nguồn gốc của Phật Tam Diện.
Thần quan kể, ngày xưa, tại ngọn núi này tồn tại một hòn đá lạ. Không ai biết nó xuất hiện từ đâu và từ bao giờ. Một nhà sư đi qua đã bảo, đó là hòn đá tách ra từ quả tim của đấng tạo hoá, nó có linh tính nên khuyên người dân nên dựng cho nó một mái miếu nhỏ. Chỉ cần mỗi ngày mang đến một chén nước sạch, thắp một nén hương, đá sẽ che chở cho vùng núi này mưa thuận gió hòa, thú dữ không quấy phá, bệnh dịch không tràn qua.
Người dân nghe theo. Vì thế cái miếu ấy chưa từng dứt hương khói bao giờ. Mà đá cũng rất thương người dân. Núi này chưa từng biết đến gặt hỏng, mất mùa. Lúa trúng vụ, gia đình có người đỗ đạt làm quan, người người khỏe mạnh.
Nhưng đến một ngày, chiến tranh nổ ra, ngôi làng rơi vào cảnh loạn lạc. Những thổ phỉ từ nơi khác nhân thời cơ đó mà ra tay giết hại dân chúng, cướp bóc của cải, đốt cửa phá nhà. Những người còn sống đau khổ quỳ lạy hòn đá.
Ở nơi có nước mắt nhỏ lên, một vết nứt nhỏ xuất hiện trên hòn đá. Rồi vết nứt ấy to dần. Hòn đá vỡ ra, để lộ một vị thần quyền thế trú ngụ bên trong.
Ngài giúp dân dẹp loạn, khôi phục lại ngôi làng, giúp người dân ổn định cuộc sống.
Nhưng dần dần, những người từ nơi khác cũng tới ở, mang theo đủ mọi dục vọng, tật xấu và tín ngưỡng từ nơi họ nhập vào làng.
Vị thần ấy không thể chịu nổi những điều xấu xa đó nên đã nói với người trung thành với thần nhất, bảo hãy gom về những người còn theo ta và cùng hành hương lên đỉnh núi, tu dưỡng tâm tính, tránh xa phàm trần.
Đó chính là nguồn gốc của ngôi đền và cả Phật Tam Diện.
Câu hỏi được giải đáp một cách thoải mái khiến bầu không khí dần được buông lỏng hơn. Các nhà báo lần lượt đưa ra các câu hỏi khác về kiến trúc, về đời sống của tín đồ môn đạo trên này, mà không hề để ý rằng, có hai người tự xưng là sinh viên đang ngồi lặng ở một góc, không ghi chép, không quay tài liệu gì, nét mặt rất trống rỗng. Tới cả việc phải đóng vai là người tới tìm hiểu văn hoá họ cũng chẳng buồn thực hiện. Kỳ Anh và Thiên mỗi người chìm trong một suy nghĩ riêng.
Tới một lúc nào đó, khi đã có được kha khá tư liệu, một người đàn ông trong số ba nhà báo đã hỏi.
“Tôi có thể biết tên của ngài đây được không? Khi đăng bài, tôi cần ghi cả tên của người tôi đã phỏng vấn nữa.”
Yêu cầu tính chân thực cho bài viết mà.
Vị thần quan trầm ngâm, bà ta nhìn nhà báo kia, chậm rãi đưa ra câu trả lời.
“Ta không có tên. Tín đồ của thần không có tên. Chúng ta đã dâng tên của mình cho Ngài cả rồi.”
“……”
Ngọn nến hương chợt lay động trong thoáng chốc khiến những phần sáng tối trên khuôn mặt của bà ta lẫn lộn trộn vào nhau.
Nhận thấy đã không còn sớm nữa, vị thần quan đeo lại chiếc mặt nạ xương chó, nói rằng mình có việc phải trở về chính điện. Ít lâu sau, từ ngoài cửa, những tăng nhân đeo mặt nạ bê theo bảy cái bàn thấp và bảy khay đồ ăn xếp ở giữa phòng cho mọi người.
Có món rau và có cả món mặn, hình thức bày biện không được hấp dẫn cho lắm.
Kỳ Anh một món cũng không nuốt nổi, nhưng những tăng nhân nhỏ còn đứng góc phòng không rời đi nên cậu đành phải gắp vài miếng rau dại cho qua chuyện, hoàn toàn không động đến thịt.
Một cốc nước bằng gỗ được đặt xuống mặt bàn của cậu, bên trong đó là nước chè hoa hoè. Trên mặt nước, cánh hoa trắng mềm oặt nổi lềnh phềnh.
“Đây là món nước đặc biệt của đền ta, được pha từ lá và cánh hoa hoè trăm năm tuổi. Mời mọi người thưởng thức.”
Những người khác nghe vậy thì chăm chú nhìn cốc nước trên bàn, mùi thơm thanh ngọt toả ra từ nó khiến họ không cưỡng lại được, nhanh chóng cầm lấy cốc nước và đưa lên miệng nhâm nhi, sau đó là uống từng ngụm lớn. Có vị khách còn mong chờ nhìn tăng nhân như muốn xin uống thêm.
Kỳ Anh không thể trách họ dại dột, nhận thứ nước lạ của cái nơi kỳ quái này, bởi vì chính cậu cũng đang có thèm muốn được nếm thử nó.
Hoè trăm tuổi sao? Chắc vị của nó phải ngọt lắm, thanh lắm.
Mấy người kia cứ uống liên tục như thế thì hết chè của mình mất.
Xấu tính quá.
… Khốn thật! Mình đang nghĩ cái gì vậy?
Bờ môi của cậu vì mím chặt mà bắt đầu chuyển sang trắng nhợt.
Dù chỉ đứng im một góc nhưng Kỳ Anh biết các tăng nhân đó đang quan sát cậu. Thậm chí, có một tên còn hỏi.
“Sao thế? Quý ngài chê chè của ngôi đền không sạch sẽ ư?”
“Không phải…!”
Kỳ Anh cắn răng nở nụ cười rồi chạm ngón tay lên thành cốc.
Khi cậu sắp sửa nhấc nó lên, từ một hướng nào đó chợt vang lên tiếng nói.
“Nước còn nóng quá nên tôi để cho nó nguội bớt đi. Tôi từng bị bỏng một lần rồi nên sợ mấy thứ nóng nóng lắm.”
Người nói là một người phụ nữ thuộc nhóm ba nhà báo. Nhận được câu hỏi giống như Kỳ Anh, cô ấy đã đáp lại bằng một cái nhún vai và giọng điệu thành thật như vậy. Vị tăng nhân đứng sau lưng nghe thế cũng không nói thêm gì nữa.
Bỗng người đồng nghiệp ngồi bên cạnh cô ấy nhoài sang và giật lấy cốc chè, nốc thẳng vào miệng mà không màng tới việc khoé môi anh ta đã phỏng đỏ, nổi cả mụn nước.
“Không uống thì để cho tôi uống. Lúc nguội thì đâu còn thơm nữa? Bọn đàn bà chỉ biết phí phạm.”
“Này, cậu cũng không uống sao?”
Nhà báo còn lại ngồi gần Kỳ Anh nhỏ giọng hỏi cậu. Kỳ Anh không cần nghĩ nhiều liền đẩy cốc nước cho anh ta. Người đó sảng khoái nhận lấy.
“Lúc phỏng vấn anh nói nhiều chắc khô họng lắm.”
“Đúng vậy, ở trên này còn có gió lớn nữa. Cổ họng mà hỏng thì làm nhà báo thế nào được đây.”
Thiên cũng đã xử lý xong cốc nước chè của mình bằng cách tương tự.
Những tăng nhân kia không thể phản ứng gì vì đây là hành động có lý.
Nhìn người đàn ông chẳng biết một cái gì khen cậu là người tốt bụng, Kỳ Anh chỉ ngồi im, trong đầu lặp đi lặp lại từ “xin lỗi”.
Xin lỗi.