Chuyện của đom đóm

Những món quà vô giá

Cái Dần và Minh Châu chuẩn bị vào lớp 1. Bà Nhàn đạp xe lên tận hiệu sách trên huyện để mua sách cho Minh Châu. 

Minh Châu đã biết đọc. Giống mẹ nó ngày trước, thằng bé cũng rất thích đọc sách. Hàng ngày, ngoài lúc đi chơi với cái Dần, thời gian còn lại Minh Châu đều vùi đầu vào mấy cuốn sách Tường Vân để lại, nghiền ngẫm đọc.

Nhưng “Thép đã tôi thế đấy”, “Chiến tranh và hòa bình” quá khó hiểu đối với một đứa trẻ chỉ mới 6 tuổi đầu. Vì thế, ngoài tập sách giáo khoa lớp 1, bà Nhàn chọn thêm cho Minh Châu mấy cuốn truyện và tập thơ cho trẻ em.

Lúc bà bưng chồng sách đi trả tiền bắt gặp một người đang cầm cuốn Tiếng Việt 1 Tập Một đứng tẩn ngẩn.  

“Thủy!” Bà Nhàn lên tiếng gọi.

Thủy giật mình, quay sang.

“Cô Nhàn!”       

Bà Nhàn cười tươi.

“Ừ! Đi mua sách cho cái Dần hả? Đã chọn xong chưa?”

Thủy hơi cúi đầu.

“Cháu… không biết phải mua những gì.”

Bà Nhàn giúp Thủy chọn bộ sách giáo khoa và đồ đùng cần thiết cho học sinh lớp 1. Lúc ra khỏi hiệu sách, Thủy đưa cho bà Nhàn số đồ cô vừa mới mua.

“Cháu… phải đi làm. Nhờ cô cầm về đưa cho cái Dần hộ cháu. Cô… cũng đừng nói là cháu mua. Cứ bảo là cô mua cho nó.”

“Tại sao?” Bà Nhàn nhướng mày, “Cái Dần biết cháu mua sách vở cho nó đi học, nó sẽ vui lắm đấy.”

Thủy cúi đầu trầm ngâm.

“Con bé đó… Cháu tệ bạc với nó quen rồi. Cứ để cho nó ghét cháu đi. Nhỡ sau này… Cháu có làm sao, hay làm gì có lỗi với nó… Thì nó cũng không phải khóc.”

Thủy nói xong liền rời đi. Bà Nhàn nhìn theo bóng lưng của cô, thở dài. 

Bà đem sách vở mới mua về cho Minh Châu và cái Dần. 

Hai đứa nhỏ thích lắm, đặc biệt là cái Dần. 

Từ bé đến giờ nó mới được chạm tay vào những cuốn sách đẹp như vậy. Mặc dù nó chẳng hiểu những cuốn sách đó viết gì nhưng những hình vẽ trên đó đẹp ơi là đẹp. Lúc mở sách ra còn thơm mùi mực in nữa chứ. 

Nó ôm lấy cuốn sách Tiếng Việt vào lòng như báu vật, chạy lon ton vài vòng quanh sân rồi mới chạy lại chỗ bà Nhàn, rối rít: 

“Bà Nhàn là người tốt nhất trên đời! Cháu thích bà Nhàn lắm!”

Bà Nhàn trìu mến xoa đầu cái Dần.

“Bà Nhàn kể cho Dần nghe một bí mật nhé?”

Cái Dần gật đầu lia lịa, hai mắt long lanh.

“Sách này là mẹ Thủy mua cho Dần đấy.” Bà Nhàn nhẹ giọng.

“Òa!!!!”

Cái Dần mở to miệng, mắt càng sáng hơn.

“Sách này đắt lắm đấy!” Bà Nhàn tiếp tục, “Mẹ Thủy đã phải đi làm rất vất vả mới kiếm đủ tiền mua chỗ sách này. Vì thế, Dần phải học thật giỏi, để sau này kiếm thật nhiều tiền, cho mẹ Thủy đỡ vất vả nhé!”

“Học giỏi thì sẽ kiếm được nhiều tiền hả bà?”

“Ừ!”

“Dạ!” Cái Dần lại gật đầu như giã tỏi, “Thế thì cháu sẽ học thật giỏi. Để kiếm được nhiều tiền. Để mua đồ ăn ngon cho mẹ, cho bà Nhàn, cho cả Minh Châu nữa.”

Minh Châu đang vùi đầu vào cuốn “Dế mèn phiêu lưu kí” bà Nhàn mới đem về, nghe cái Dần nhắc đến tên mình thì ngẩng đầu lên. 

Cái Dần chạy đến trước mặt nó, ưỡn ngực.

“Chị Dần sẽ học giỏi. Có tiền, chị mua nhiều kẹo cho Minh Châu ná.”

“Dạ!” Minh Châu hô một tiếng thật to rồi nhoẻn miệng cười toe toét.

Khi đi học rồi, cái Dần mới nhận ra, học giỏi… khó ra phết! Nó chỉ thích mấy hình vẽ xanh đỏ, còn chữ, nó chả nhớ được mấy con. Tuy vậy, nó vẫn rất chăm chỉ. Ngày nào nó cũng cầm cuốn sách Tiếng Việt, ngồi vắt vẻo trên chõng nhà bà Nhàn đánh vần cho Minh Châu nghe.

“Ò ó o… Ò o o sắc ó… Ò o o huyền ò.”

“Ờ a a, cái ca… Ờ ô ô, cái ô… Ờ ơ ơ, quả mơ.”

Mỗi lần nó đánh vần hết một trang, nó lại vênh mặt lên đợi Minh Châu vỗ tay hoan hô rối rít. 

Minh Châu đã biết đọc, tất nhiên là biết cái Dần đánh vần sai bét nhè. Nhưng đúng sai thì quan trọng gì? Quan trọng là chị Dần của nó vui vẻ.

Tiếng Việt thì cái Dần còn huênh hoang được nhưng Toán thì nó chịu chết. Minh Châu nhìn mấy con số cái Dần viết ngược hết cả trên bảng đen, tự dưng muốn gõ cho cái Dần một cái. 

“Không phải như thế!” 

Minh Châu rất chấp nhất với mấy con số. Thấy cái Dần viết sai, nó liền cảm thấy bứt rứt khó chịu, ngay lập tức muốn sửa lại. Nó lấy tay muốn lau hết mấy cái kí tự xấu xí, sai bét trên bảng đi nhưng xoa mãi cái bảng vẫn trắng hếu những phấn.

“Đưa đây!” 

Cái Dần lấy lại cái bảng từ tay Minh Châu rồi nhổ nước bọt cái bẹt vào giữa. Sau đó, nó lấy vạt áo xoa miếng nước bọt ra khắp bảng. Mấy vết trắng dần biến mất hết, bề mặt đen bóng của chiếc bảng hiện ra. 

Cái Dần cười vui vẻ. Nó mới học trộm được chiêu này của con Loan “tẹt”.

Minh Châu cầm phấn viết lên tấm bảng đã được cái Dần lau “sạch sẽ” các con số từ 1 đến 10 rồi bắt cái Dần nhớ hết. Nhớ rồi, nó sẽ lau hết số ở trên bảng đi, rồi bắt cái Dần viết lại. Viết đến khi nào đúng mới thôi. 

Cái Dần không giỏi tính toán. Minh Châu bảo nó dùng tay để đếm. Khi 10 ngón tay không còn đủ đếm nữa, Minh Châu liền đi khắp nhà tìm đạo cụ. 

Một ngày, bà Nhàn trở về nhà, phát hiện ra, toàn bộ số đũa trong chạn đã được Minh Châu đem ra làm dụng cụ dạy học cho cái Dần. 

Được một thời gian, Minh Châu không cho cái Dần dùng đũa đếm nữa mà bắt nó tính nhẩm. 

Cái Dần cảm thấy Minh Châu còn nghiêm khắc hơn cả cô giáo ở trên lớp của chúng nó nữa. Mỗi lần nó tính sai, Minh Châu tuy không mắng nó, nhưng ánh mắt của Minh Châu sẽ quắc lên, khiến nó toát cả mồ hôi. 

Cái Dần không muốn học Toán nữa. 

“Chị Dần không muốn học giỏi nữa à?” Minh Châu giương đôi mắt xanh xám trong veo nhìn nó.

Cái Dần bần thần:

“Nhưng mà… học Toán khó quá.” 

Nó cúi đầu đăm chiêu một lúc rồi ngẩng đầu nhìn Minh Châu với ánh mắt sáng quắc:

“Hay là Minh Châu học giỏi đi. Minh Châu học giỏi kiếm tiền mua thịt. Chị Dần ở nhà nấu cơm.”

Minh Châu suy nghĩ một lúc cảm thấy lời cái Dần nói cũng khá hợp lý. Dạy cho cái Dần học giỏi khó hơn nhiều so với việc nó tự học giỏi. 

Thế thì để nó học giỏi đi, rồi sau này kiếm tiền mua đồ ăn ngon cho nó và cái Dần cũng được.

Khi cái Dần và Minh Châu bắt đầu đi học, những con đom đóm không biết đã trốn đi đâu mất tiêu. Đến khi hai đứa chuẩn bị hết lớp 1, bọn chúng mới trở lại, nhấp nháy không biết mệt mỏi quanh những bụi rậm ven đường.

Một ngày trước khi bọn Dần, Châu được nghỉ hè, bà Nhàn được gọi vào phòng Hiệu trưởng nói chuyện. Bà ngồi xuống chiếc ghế đệm mút mới cáu cạnh trong phòng, nhìn Hóa rót nước từ bộ ấm chén sứ Hải Dương đắt tiền. 

Sự bóng lộn của căn phòng này đối lập hoàn toàn với những mảng tường rêu mốc và mái ngói dột nát ở dãy lớp học mà bà đã đệ đơn xin sửa chữa không biết bao nhiêu lần suốt năm năm qua.

Hóa đẩy chén chè đến trước mặt bà Nhàn.

“Chị uống nước đi.”

Bà Nhàn nhìn Hóa tươi cười ngồi đối diện, lạnh nhạt lên tiếng: 

“Cậu gọi tôi vào đây có việc gì?”

Hóa vẫn giữ nụ cười trên môi, bưng cốc chè lên, nhấp một ngụm rồi mới từ tốn nói:

“Chuyện là… Chị vẫn còn nhớ bức thư nặc danh gửi đến trường vài tháng trước chứ? Bức thư tố cáo con gái chị lăng loàn, chửa hoang…”

“Không phải lúc đó tôi đã trình bày rõ ràng với chi bộ rồi sao?” Bà Nhàn ngắt lời Hóa, “Minh Châu có cha, có mẹ đầy đủ. Giấy khai sinh của thằng bé đã ghi rõ. Dấu đỏ của chủ tịch xã còn rành rành ra đó.”

Hóa cười khẩy:

“Cái dấu đó có như thế nào… Chị chắc là người rõ nhất nhỉ? Tôi không biết phải dành lời khen cho khả năng ngoại giao của chị hay là những tờ tiền mà con gái chị đem về nữa.”

Ánh mắt bà Nhàn trở nên lạnh lẽo. 

“Cậu có ý gì?”

Môi Hóa nhếch lên vẽ ra một nụ cười vô cùng giả tạo.

“Cái tay cán bộ hộ tịch xã ăn tiền của con gái chị để nhét tên thằng Tây nào đó vào trong giấy khai sinh của cháu chị, chiều qua đã bị huyện đình chỉ công tác rồi. Còn ông Bình chủ tịch xã, vừa hôm nọ cũng đã thừa nhận, ông ta vì nể mặt chị và người chồng quá cố của chị nên mới nhắm mắt đóng cho chị cái dấu đỏ kia.”

Bà Nhàn sững sờ. Ánh mắt bà trầm xuống.

Trên mặt Hóa hiện lên vẻ đắc ý.

“Quần chúng nhân dân rất bức xúc. Một người đường đường là Đảng viên, còn đang giữ chức vụ phó Hiệu trưởng của một trường học vậy mà không biết dạy con, dung túng cho lối sống buông thả của nó, đã thế còn hối lộ, đi cửa sau, làm giả giấy tờ của nhà nước. Một người như vậy có còn đủ tư cách đạo đức để tiếp tục giữ chức quản lý của nhà trường nữa không?”

Hóa thong thả mở ngăn kéo, lấy ra một tờ quyết định có đóng dấu giáp lai đỏ chót, đẩy về phía bà Nhàn.

“Trên huyện đã ra quyết định đình chỉ công tác của chị vô thời hạn. Trong vòng một tuần, chị cần phải bàn giao lại toàn bộ công việc, sổ sách và giấy tờ.”

Bà Nhàn cầm tờ quyết định lên, tay run run, trái tim như bị bóp nghẹt. 

Con gái bà quả thực đã chửa hoang rồi sinh ra Minh Châu nhưng đó chỉ là một sai lầm của tuổi trẻ. Bà tin Tường Vân chẳng phải là một con đàn bà buông thả như người ta đồn đại. 

Bà cứ nghĩ, những người làm giáo dục như bọn họ đáng lẽ không nên dùng một sai lầm để đánh giá cả một con người. Ấy vậy mà, hơn 20 năm làm nghề, cống hiến hết mình cho sự nghiệp trồng người của bà lại chẳng bù đắp nổi một lầm lỡ tuổi trẻ của con gái bà. 

Bà làm giả giấy khai sinh cho Minh Châu vì chỉ mong nó sẽ có một cuộc sống bình thường, không bị người đời dè bỉu. Nhưng có lẽ bà đã sai thật rồi. Xã hội này đầy rẫy những kẻ cạn tàu ráo máng giống như kẻ tiểu nhân đắc chí trước mặt bà, những kẻ sẵn sàng dồn người khác đến đường cùng chỉ vì lợi ích cá nhân của mình.

“Trong cái trường này, chẳng ai rảnh rỗi đi quan tâm đến nguồn gốc tờ giấy khai sinh của một đứa trẻ con... Trừ cậu. Chính cậu là người gửi bức thư nặc danh đó. Cũng chính cậu đã giật dây để trên huyện điều tra, có phải không? Đạp tôi xuống, cậu nhổ đi được cái gai thường xuyên soi mói cậu, để cậu có thể dễ dàng làm những việc bẩn thỉu hơn, đúng không?”

Hóa ngửa cổ cười khùng khục.

“Chị đừng nặng lời vậy chứ. Tôi chỉ đang cố gắng giữ gìn sự trong sạch cho cái trường này thôi.”

“Trong sạch?” Bà Nhàn nhướng mày, “Cậu nói hai từ đó mà không cảm thấy xấu hổ sao? Năm năm cậu nhậm chức, ngân sách bên trên cấp xuống để tu bổ lại trường, đóng góp của phụ huynh học sinh, bao nhiêu phần rơi vào túi cậu, đừng tưởng tôi không biết.”

Hóa nở một nụ cười rộng đến mang tai. Trong mắt bà Nhàn hắn trông không khác gì một con chão chuộc đang há rộng cái miệng xấu xí.

“Ơ kìa chị Nhàn! Ngân sách rót xuống bao nhiêu, phụ huynh đóng góp thế nào, kinh phí hoạt động trong trường ra sao, đều được ghi rõ ràng trong sổ sách cả. Tôi biển thủ thế nào được. Còn nếu chị cảm thấy có khuất tất thì cứ việc tố cáo lên trên. Tôi sẵn sàng đứng ra đối chất.”

Bà Nhàn lạnh lùng nhìn Hóa.

“Các ông lớn ở trên huyện đã bị cậu dùng lời ngon tiếng ngọt mua chuộc hết cả rồi thì cậu còn sợ cái gì nữa? Nhưng cậu Hóa à…” Giọng bà Nhàn gằn lại, “Cuộc sống này có nhân, có quả cả đấy. Những kẻ tiểu nhân hèn mọn như cậu không đắc ý được lâu đâu.” 

Nói rồi, bà đứng dậy, dứt khoát quay gót, bước ra khỏi căn phòng ngột ngạt kia.

***

Bà Nhàn thắp ba nén hương, vái ba vái, đứng bần thần một hồi rồi với tay lấy khung ảnh của ông Mậu trên bàn thờ xuống. Bà ôm khung ảnh ra chõng ngồi, dùng tay áo lau qua lau lại mặt kính đến sáng bóng. Tấm hình ông nằm bên dưới, chỉ to bằng nửa lòng bàn tay, đã ố vàng, còn lấm tấm vết mốc, được bà cẩn thận cắt ra từ ảnh cưới của hai người.

Ngày đó, ông dốc hết vốn liếng, chở bà lên tận hiệu ảnh quốc doanh trên tỉnh để chụp hình cưới. Ông mặc áo sơ mi trắng, đầu chải ngôi lệch, vuốt sáp bóng lộn, đẹp trai ngời ngời. Bà mặc áo dài lụa trơn, khoác tay ông, cảm thấy mình là cô dâu hạnh phúc nhất trên đời.

Nhưng hạnh phúc ngắn ngủi tày gang. Khi con gái hai người còn đang bi bô tập nói, ông nhét tấm hình duy nhất của ông bà vào túi áo, khoác ba lô, cùng thanh niên trai tráng làng Đoan vác súng lên vai, ra chiến trường giết giặc. Hai năm xa cách biền biệt, ông chỉ gửi về cho bà được hai bức thư. 

Bà vẫn nhớ như in cái ngày rụng rời tay chân ấy, khi người lính giao liên tìm thấy bà và bà Lan cùng giặt quần áo ở cái giếng giữa làng, trao cho mỗi người một tờ giấy báo tử. Chồng của hai bà… đã hi sinh tại chiến trường Khe Sanh khốc liệt.

Tay người lính giao liên run run đưa cho bà kỉ vật cuối cùng của ông. 

Khi ông ngã xuống, đạn pháo địch đang cày xới mù mịt, đồng đội chỉ kịp lấy ra tấm hình trong túi áo trước ngực ông. Khi họ quay trở lại, ông đã mãi mãi nằm lại với đất rừng Quảng Trị. 

Máu nhuộm đỏ nửa tấm ảnh, che khuất đi khuôn mặt tươi cười của bà. Máu của ông. 

Cũng may phần hình chụp ông vẫn còn nguyên vẹn, sạch sẽ. Không thì ngay cả một tấm ảnh thờ, ông cũng chẳng có.

Ngón tay bà Nhàn khẽ vuốt ve khuôn mặt ông qua tấm kính. Bà nở một nụ cười:

“Hơn 30 năm rồi! Ông vẫn cứ trẻ như vậy, đẹp trai như vậy… Còn tôi đã trở thành một bà già nhăn nheo, xấu xí. Sau này gặp lại… Ông sẽ nhận ra tôi chứ?”

Một giọt, hai giọt… Nước mắt nóng hổi thi nhau rơi tí tách trên mặt kính. Giọng bà Nhàn nghẹn lại:

“Ông Mậu ơi… Con gái chúng ta… Nó… Chẳng cần tôi nữa…”

Tiếng của Minh Châu và cái Dần ríu rít ngoài cổng. Bà Nhàn lau vội nước mắt. 

Nhìn hai đứa quanh miệng lem luốc vết than, trong vạt áo cái Dần còn bọc cái gì đó, bà Nhàn bật cười. Hai đứa này chắc lại vừa đi nướng khoai ăn đây mà.

Quả nhiên, khi hai đứa lại gần, cái Dần liền lấy ngay củ khoai nướng cháy đen, còn nóng hôi hổi trong vạt áo ra mời bà:

“Bọn cháu phần bà Nhàn củ to nhất đấy. Bà ăn đi. Ngon lắm!”

Bà Nhàn xoa đầu cái Dần một cái rồi cầm lấy củ khoai.

“Bà xin Dần nhé.”

Minh Châu thấy khóe mắt bà Nhàn hơi ửng đỏ, vội hỏi:

“Bà ngoại sao thế?”

Cái Dần nghe Minh Châu nói cũng nhìn kĩ bà Nhàn hơn một chút, rồi hỏi:

“Sao bà Nhàn lại khóc thế? Bà Nhàn bị đau ở đâu à?”

Bà Nhàn mỉm cười trìu mến:

“Bà không sao. Bà… chỉ nhớ ông ngoại Minh Châu một chút thôi.”

Minh Châu tròn mắt:

“Ông ngoại?” 

Lần đầu tiên nó nghe bà nhắc đến ông.

Bà Nhàn gật đầu rồi đưa khung ảnh ông Mậu cho Minh Châu xem.

“Ông đây này.”

Minh Châu cùng cái Dần chụm đầu vào ngắm bức hình đen trắng nhỏ xíu trong khung ảnh to đùng. Người trong ảnh vẫn còn rất trẻ, trông chẳng giống như một người ông chút nào cả. 

Cái Dần nhớ đến bức ảnh của bà ngoại nó trên bàn thờ nhà mình, như chợt hiểu ra điều gì. Nó ngước nhìn bà Nhàn, mắt cũng hơi ngấn lệ.

“Có phải ông ngoại Minh Châu cũng bay lên trời giống như bà ngoại của cháu không hả bà Nhàn? Bà nhớ ông nên bà khóc à? Lúc cháu nhớ bà ngoại, cháu cũng khóc đấy.”

Bà Nhàn chẳng thể ngăn dòng nước mắt tuôn ra.                     

Minh Châu và cái Dần nhìn nhau. Minh Châu đặt khung ảnh của ông Mậu vào lòng bà, rồi cùng cái Dần, không nói một lời, chạy biến đi.

Trẻ con suy nghĩ khác thường, bà Nhàn cũng chẳng để bụng. Bà ngồi đó, ôm ảnh ông cho đến khi bóng tối lặng lẽ bao trùm lên mọi thứ mới sực nhớ ra mình còn chưa nấu cơm tối cho bọn trẻ. Lúc bà toan đứng dậy thì hai đứa kia từ đâu lon ton chạy về, đến trước mặt bà.

Cái Dần cười toe toét:

“Bà Nhàn nhìn nhé!”

Nói rồi, nó và Minh Châu cùng hất hai tay lên trời. 

Giống như một phép màu, từ lòng bàn tay nhỏ xíu của hai đứa trẻ, hàng chục con đom đóm túa ra. Những đốm sáng xanh lục, lấp lánh tỏa đi muôn hướng.

Chúng chao lượn quanh gốc ổi đầu hè, len lỏi qua mấy tàu lá chuối, rồi sà xuống, nhấp nha nhấp nháy xung quanh ba bà cháu.

Khoảng sân gạch vốn đang chìm trong bóng tối lạnh lẽo, bỗng tràn ngập thứ ánh sáng bồng bềnh, lấp lánh như những vì sao đang rơi.

“Bà Nhàn thấy đẹp không? Đom đóm đang múa hát cho bà xem đấy. Đom đóm còn bảo là: Bà Nhàn ơi, bà vui lên nhé!” Cái Dần cất giọng lanh lảnh.

“Ông bay lên trời rồi, nhưng còn Minh Châu, còn cả chị Dần nữa ở bên cạnh bà mà.” Minh Châu tiếp lời.

Nước mắt bà lại rơi. Chẳng còn là những giọt nước mắt của buồn tủi, đau lòng mà là của bình yên và ấm áp. Bà vươn tay ôm chặt hai đứa trẻ vào lòng.

Phải! Ông bay lên trời rồi. Con gái cũng chẳng cần bà. Người ta lại vừa mới tước đi công việc bà yêu mến và gắn bó nửa đời người. Cuộc đời dẫu có khắc nghiệt, đối xử bất công với bà, nhưng nó cũng đem đến cho bà những món quà vô giá. Là Minh Châu. Là cái Dần. Là sự thiện lương của hai đứa trẻ đáng yêu này.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px