Hồi 6 - Thượng
HỒI SÁU
Cuồng phong bão giật dòng sông,
Dã nhân xé nước, bẻ gông cứu người.
Lưng trần hứng nhát đao rơi,
Tay không vặn cổ, rụng rời quân Minh.
Gần một tháng sau khi tin về cái chết của Đặng Quốc công truyền về. Dị Nhân cùng đám anh em đã cho lập bàn thờ vị ân nhân đã có công khai sáng cho cả bọn ngay bên trong hang đá. Dị Nhân tin rằng lão Quốc công tuy đã mất nhưng hương hồn ông vẫn phù hộ cho nghĩa quân.
Một hôm, khi đếm đong kho gạo, Hạo nhận ra kho gạo của nghĩa quân Trường Yên đang dần vơi đáy. Hạo nhẩm tính: còn đủ ăn mười lăm ngày, nếu tiết kiệm thì hai mươi. Phạm Tung phe phẩy quạt mo, nhấp ngụm rượu:
“Hai mươi ngày nữa thôi là chúng ta sẽ bắt đầu chết đói. Lão phu nghĩ Chúa công nên sớm có quyết định.”
Dị Nhân gật đầu, không nói gì thêm. Chàng đã sớm dự liệu được tình hình kể từ khi Trương Sung hạ lệnh siết chặt vòng vây tại làng Gạo. Sự biến mất của đội quân Cáp Sĩ đã khiến hắn ta đổ dồn sự chú ý vào làng Gạo và những khu vực xung quanh. Có thể hắn đã ngờ ngợ về hệ thống hang đá Trường Yên nên đã cho quân lính giám sát từng hộ dân trong làng, ngăn họ không tiếp tế lương thực cho nghĩa quân, đồng thời tạm ngưng những chuyến thuyền lương trên sông Đại Hoàng để ép nghĩa quân trên núi vào tình trạng thiếu lương thực. Kế hoạch của hắn có vẻ đã thành công phần nào.
Tuy nhiên, Trương Sung không ngờ rằng, quân Minh ở phủ Kiến Bình không hay biết gì về kế hoạch của hắn, và để động viên binh sĩ theo lệnh của hoàng đế nhà Minh, họ đã cho vận chuyển một chuyến thuyền lương đi bằng đường sông Đại Hoàng. Việc đó nhanh chóng đến tai hai tay thám báo của nghĩa quân đang hoạt động ở bến đò: Phan Văn Khoa và Trần Nguyên Thúy.
Chiều tà mưa bụi, bến đò Đại Hoàng nằm lọt giữa bãi lau sậy um tùm, dòng nước đục ngầu phù sa cuộn chảy xiết. Bến đò này vốn là chỗ dân chài cập thuyền buôn bán cá tôm, nhưng từ khi giặc Minh đóng đồn, nó trở thành bến chuyển lương thảo cung cấp cho quân đồn trú. Lính tuần tra qua lại không ngớt, giáo mây cắm san sát hai bên bến, cờ hiệu phủ Kiến Bình phất phới trên cột gỗ. Vài chiếc thuyền lương buồm nâu neo ở bến, mấy tên lính Minh mặc giáp mây ngồi xổm trên bờ, tay cầm bát cơm tay cầm giáo, miệng nhai nhồm nhoàm, mắt lơ đãng nhìn ra dòng sông xám xịt.
Mùi cá phơi khô trộn lẫn mùi bùn sông và mùi phân ngựa bốc lên nồng nặc. Ruồi nhặng bu đen xì trên đống rác ở cuối bến. Mấy mụ đàn bà bán nước chè ngồi xổm trên tấm ván gỗ, miệng nhai trầu bỏm bẻm, mắt lơ đãng nhưng tai vểnh lên nghe ngóng.
Trần Nguyên Thúy ngồi trên chiếc chõng tre xiêu vẹo ở góc quán nước bến đò. Lão vận bộ áo giao lĩnh lụa đã sờn bạc, đầu đội khăn xếp, chân đi guốc mộc, trông giống một lão nho sĩ già về hưu thong dong uống nước chè. Bàn tay gầy guộc bưng chén nước vối, mắt nhìn ra bến, vẻ mặt nhàn nhã vô hại. Thỉnh thoảng lão ho húng hắng mấy tiếng, nhổ nước trầu đỏ au xuống gốc cây, trông chẳng khác gì một ông già quê mùa đợi đò.
Tuy vậy, đôi mắt lão già không nhàn nhã chút nào. Dưới cặp mi sụp vì tuổi tác, ánh mắt Thúy sắc như dao, rà soát từng tên lính tuần, đếm số giáo mây, đánh dấu vị trí canh gác, ghi nhớ nhịp thay ca, quan sát hướng gió và dòng chảy. Mấy mươi năm làm tai mắt cho triều đình Trần không phải chuyện đùa. Mỗi cái quay đầu, mỗi cái nhấp nước, mỗi tiếng ho của lão đều đã tính toán kỹ càng.
Một bà lão bán nước mắt mũi nhèm nhẹp lết tới, đặt trước mặt Thúy một đĩa trầu têm. Miếng trầu têm cánh phượng nhưng đuôi lá bị tước mất, mép lá xé nham nhở, chỉ còn phần cánh nguyên vẹn.
Thúy liếc xuống đĩa trầu, khẽ nhíu mày. Lão nhặt miếng trầu lên, bỏ vào miệng nhai chậm rãi. Nước trầu đỏ ứ ở khóe miệng, lão phun một bãi xuống sạp gỗ, rồi gõ tay xuống mặt chõng tre ba tiếng ngắn, hai tiếng dài, rồi lại ba tiếng ngắn. Miệng lão hát vu vơ một điệu đò đưa cổ, giọng khàn đục run run:
“Đò ơi đò... chiều nay nước lớn... ai đưa ai đón giữa dòng...”
Tiếng hát lẫn vào tiếng mưa, tiếng sóng vỗ bến, chẳng ai để ý. Nhưng đó chính là ám hiệu để một kẻ khác hành động.
Cách chỗ Thúy ngồi chừng hai mươi bước, một gã dân phu gù lưng, mặt mũi nhem nhuốc, bắt đầu lê la dọn phân ngựa quanh bến đò. Gã đội chiếc nón lá mê rách bươm che kín nửa mặt, tay cầm cái xẻng gỗ mẻ, miệng lẩm bẩm hát nghêu ngao, thỉnh thoảng hắt hơi sặc sụa vì mùi phân. Mấy tên lính Minh nhìn gã nhăn mũi ghê tởm, xua đuổi bằng mấy cú đá vào mông. Gã lật đật cúi đầu, khúm núm lùi đi, miệng hề hề cười sún, nước dãi chảy ròng ròng trên cằm.
Kẻ đó không ai khác chính là Phan Văn Khoa.
Không ai thèm nhìn gã quá hai giây. Một thằng gù bẩn thỉu, hôi hám, ngu ngốc thì ai thèm để ý? Nhưng đôi mắt ti hí dưới vành nón không bỏ sót bất cứ thứ gì. Gã đếm số lính canh trên bến: mười hai tên, chia ba ca, mỗi ca bốn tên, thay ca vào giờ Mão, giờ Thân, giờ Hợi. Gã đếm số thuyền neo đậu: hai chiếc, buồm nâu cuốn gọn, mạn thuyền quét nhựa thông đen bóng. Gã ghi nhớ vị trí bốn tên lính nỏ trên mui thuyền, hướng bắn, tầm bắn. Rồi gã lết gần hơn, giả vờ nhặt một đống phân ngựa ngay sát mạn thuyền. Qua khe hở tấm bạt, gã liếc vào khoang và chợt khựng lại.
Dọc mạn trong mỗi chiếc thuyền, hàng chục người Việt bị xích cổ tay vào thanh gỗ ngang, nằm ngồi chen chúc. Đàn ông, đàn bà, có cả mấy đứa trẻ con. Quần áo rách tơi tả, mặt mũi bầm tím vì đòn roi, mắt lờ đờ tuyệt vọng. Một mụ đàn bà gầy trơ xương ôm đứa con nhỏ vào lòng, đứa bé gầy quắt, bụng phình to vì đói lả, mắt nhắm nghiền. Một gã đàn ông trung niên cổ tay sưng tấy, tím bầm vì xích siết, vết thương mưng mủ thối, ruồi bu đen xì.
Đây chính là kế sách đối phó của Trương Sung. Hắn không ngờ triều đình nhà Minh lại bất ngờ phát lương xuống bằng đường sông Đại Hoàng. Quân đội đều đã bị hắn điều đi canh chừng các nơi nên cũng không kịp huy động. Thế là hắn nghĩ ra cách dùng chính đồng bào Trường Yên làm bia đỡ đạn. Hắn lệnh binh sĩ xích họ dọc mạn thuyền. Những chiếc thuyền chở đầy người Việt này sẽ hộ tống hai bên của chiếc thuyền chở lương. Nếu nghĩa quân tấn công thì thứ thiệt hại đầu tiên sẽ là da thịt người Việt.
Khoa nuốt nước bọt. Hàm răng sún nghiến lại, nụ cười hề hề thường thấy biến mất. Yết hầu gã giật lên. Gã cúi đầu, tiếp tục xúc phân, nhưng bàn tay cầm xẻng run rẩy, và bước chân nhanh hơn, hướng về phía bìa rừng. Hắn đánh lạc hướng mấy tên lính Minh canh gác rồi nhanh chóng tìm cái hang nhỏ xíu, chui vào đó rồi từ từ bò lên.
Khi hắn lên đến hang Tràng An thì trời đã nhá nhem tối. Khoa vắt nước bùn từ vạt áo, phân ngựa vẫn dính lấm tấm trên ống quần, mùi hôi xộc lên nồng nặc khiến Phạm Tung nhíu mày quạt mo che mũi. Gã đứng trước mặt Phạm Tung và Dị Nhân, giọng ráo hoảnh nhưng mắt trầm xuống:
“Hai chiếc thuyền, có bốn tên nỏ trên mui. Nhưng cái đáng lo nằm ở chỗ khác.”
Gã dừng lại, mắt ti hí nheo lại:
“Bọn chó đó dùng dân mình làm tường thịt. Xích sắt to bằng ngón tay cái, khóa chặt vào thanh gỗ ngang dọc mạn thuyền. Đàn ông đàn bà trẻ con đều có. Dùng hỏa công thì cháy xém hết dân mình trước. Dùng tên bắn thì trúng dân mình trước.”
Phạm Tung ngừng phe phẩy quạt mo. Lão đặt quạt xuống mặt đá, đôi mắt đục ngầu trầm hẳn. Dị Nhân đứng khoanh tay, hàm nghiến ken két rồi cất tiếng:
“Chúng ta đã xác định được lộ trình chiếc thuyền lương của bọn chúng đi qua đêm nay. Nhưng giờ thì lại thêm vấn đề phải giải quyết. Chắc hẳn kế sách thâm độc này là do Trương Sung nghĩ ra? Phải làm thế nào để giải quyết hai chiếc thuyền hộ tống này đây?”
Phạm Tung lặng im hồi lâu, ngón tay gõ nhịp trên mặt đá. Rồi lão ngước lên:
“Phải có người lặn xuống nước, bẻ xích sắt, giải cứu người dân trước khi ta đánh thuyền. Người ấy phải bơi giỏi, sức dẻo dai, dám lặn dưới dòng nước xiết trong đêm mưa bão.”
Lão liếc về phía cửa hang, nơi một gã dã nhân đang ngồi lầm lì gặm khúc xương sườn lợn:
“Chỉ có một người mà thôi.”
Dị Nhân nhìn theo rồi kêu lên:
“Nguyễn Phụ!”
*
Đêm ấy, mưa bão kéo về.