Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu

Cuối cùng, gã thổ hào nghiến răng.

“Năm mươi thạch. Ta cho xe, ngựa và người đưa tới khe Trâu Quỳ, không bước sâu thêm. Chiếc vòng ta giữ. Nếu quân Minh vẫn tìm tới đây, ta sẽ cho người đào mả cả nhà họ Đỗ.”

Hạo đứng dậy, chắp tay cúi đầu.

“Nếu quân Minh tìm được đường vào kho lão, khi ấy lão cứ đào.”

Quách Điền đẩy bát cơm trắng về phía Hạo.

“Ăn đi rồi sáng mai dẫn gạo về.”

Hạo nhìn bát cơm. Hơi nóng bay lên, mang theo mùi thơm ngọt khiến bụng y co thắt. Y đặt bát trở lại trước mặt Quách Điền.

“Người ở Trường Yên đang đợi tôi. Tôi không ăn trước họ.”

Y quay lưng bước ra. Chỉ khi cánh cửa phòng khách khép lại, đôi vai mảnh mai mới chùng xuống trong một nhịp. Rồi y lại đứng thẳng, đi xuyên qua sân trang viên như chưa từng dao động.

***

Chiều ngày thứ tư, đoàn vận lương của họ Quách men theo con đường nhỏ xuyên rừng trở về phía Trường Yên. Xe bò chỉ đi được đến những đoạn đất bằng, gặp dốc đá, đám dân phu lại phải dỡ từng bao xuống, buộc lên lưng ngựa rồi đi bộ dắt cương. Hạo cưỡi con ngựa gầy đi trước, vừa dò đường vừa tính xem phải chia số gạo ấy thế nào để không một người nào chết đói.

Trước khi tới khe Trâu Quỳ, đoàn người đi ngang qua một xóm nhỏ nằm nép bên bến nước. Hạo ra hiệu dừng lại trong chốc lát để buộc lại mấy sợi dây thồ đã sắp tuột. Y vẫn ngồi trên lưng ngựa, mắt không ngừng rà về phía con đường phía sau, đề phòng quân Minh bám theo.

Ở bến nước ven đường, một người đàn bà trẻ đang cúi bên chậu gỗ, giặt mấy bộ quần áo đã sờn. Nàng mặc áo vải thô, mái tóc vấn vội bằng một nhánh sậy khô. Gương mặt gầy và nhợt nhạt, nhưng những đường nét thanh tú vẫn hiện rõ dưới ánh chiều muộn.

Hạo chỉ định liếc qua rồi đi tiếp. Nhưng đúng lúc nàng ngẩng đầu, đôi mắt thăm thẳm, lặng lẽ và nhẫn nhịn ấy khiến bàn tay cầm dây cương của y bất giác khựng lại.

Một gã đàn ông to béo từ trong xóm bước ra. Hắn sặc mùi rượu, mặt đỏ gay, vừa tới nơi đã giật mạnh chiếc áo ướt khỏi tay người đàn bà.

“Đồ đàn bà vô dụng! Ta bảo về từ bao giờ mà còn ngồi đây?”

Nàng chưa kịp đáp, hắn đã túm lấy cổ tay kéo đứng dậy. Chậu gỗ bị hất nghiêng, quần áo rơi xuống bùn. Người đàn bà loạng choạng quỳ xuống, nhưng chỉ lặng lẽ cúi đầu nhặt từng món lên.

Gã đàn ông chửi thêm vài câu rồi bỏ đi trước, chẳng hề ngoái lại. Qua cách hắn sai khiến và cách nàng cam chịu, Hạo đoán hai người là vợ chồng, nhưng y không biết tên bất cứ ai trong số họ.

Bàn tay Hạo trượt xuống chuôi dao găm. Chỉ cần thúc ngựa vài bước, y có thể chặn tên kia lại. Nhưng phía sau y là năm mươi thạch gạo, là những người đang đói lả trong hang và là cả một con đường bí mật không được phép bại lộ.

Một cuộc ẩu đả giữa xóm lúc này có thể khiến lính tuần tra chú ý. Chỉ một lời đồn lọt ra ngoài cũng đủ làm số lương thực cứu mạng ấy không bao giờ tới được Trường Yên.

Hạo buông tay khỏi chuôi dao.

Người đàn bà vừa nhặt xong chiếc áo cuối cùng thì ngẩng lên. Ánh mắt nàng chạm phải ánh mắt Hạo trong một khoảnh khắc rất ngắn. Nàng không cầu cứu, cũng chẳng tỏ vẻ oán hờn, chỉ có một nỗi buồn phẳng lặng khiến ngực Hạo bỗng nặng xuống.

Hạo quay mặt, ra hiệu cho đoàn người tiếp tục lên đường. Tiếng vó ngựa và tiếng chân dân phu nhanh chóng rời khỏi bến nước.

Qua khỏi xóm một quãng, Hạo bất giác ngoái đầu. Người đàn bà vẫn quỳ bên chậu gỗ, giũ bùn khỏi những bộ quần áo ướt. Bóng nàng nhỏ dần dưới màu chiều xám, rồi bị rặng tre ven đường che khuất.

Hạo chưa biết tên nàng, chưa biết nàng từ đâu tới và cũng chưa từng nghe giọng nàng. Nhưng từ giây phút ấy, giữa vô số gương mặt mà y từng gặp trên đời, đã có một gương mặt không thể lẫn vào đám đông.

Rạng sáng ngày thứ năm, Hạo tới nơi và làm ám hiệu đã mật hẹn với Phạm Tung từ trước. Lão thầy đồ lập tức cho người mở tảng đá che lối và cử những ai còn đủ sức theo đường ngầm ra đón. Ở khe Trâu Quỳ, xe bò của họ Quách đã dỡ năm mươi thạch gạo xuống. Gia đinh và ngựa thồ chỉ chuyển lương đến đó rồi dừng lại. Từ khe núi vào căn cứ, người Trường Yên phải chia nhau gùi từng bao, có đoạn dỡ gạo thành những túi nhỏ để lách qua vòm đá. Hạo đi đầu, hết quay lại kéo ngựa lại cúi xuống đỡ người, đưa chuyến lương cuối cùng vào hang khi trời vừa sáng.

Khuôn mặt Hạo hốc hác, mắt trũng sâu, môi nứt đến bật máu. Vạt áo sẫm màu dính bùn, một bên vai rách vì cọ vào vách đá. Nhưng cuốn sổ đinh vẫn nằm nguyên trong ngực áo.

Tiếng gọi nhau vang khắp căn cứ. Những người còn sức chạy ra đỡ bao. Họ thay nhau chạm tay vào những bao lương, như muốn chắc rằng đó không phải giấc mơ.

Dị Nhân đứng bên cửa hang. Vết thương ở bụng và sườn đã khép miệng nhưng mỗi khi trời trở lạnh vẫn đau nhói. Chàng bước tới, nhìn em trai từ đầu đến chân.

“Về rồi.”

Hạo gật đầu, lấy cuốn sổ đinh ra trao lại.

“Tám mươi người. Chưa phải gạch thêm một tên nào.”

Dị Nhân mỉm cười, siết vai đứa em trai, giữ trong một nhịp rồi buông..

Phạm Tung cho cân lại lương. Năm mươi thạch lương thực, phần nhiều đã cũ và lẫn mọt. Nếu nấu cháo loãng, ưu tiên người bị thương và cắt khẩu phần xuống thấp nhất, số gạo ấy có thể giúp nghĩa quân cầm cự gần ba tháng.

Ngân đón Hạo ở khu bếp. Nàng nhìn cổ tay áo rách của y rồi nhìn xuống cổ tay trống của mình, nhưng không hỏi gì về chiếc vòng.

Nàng đặt trước mặt y một bát cháo khoai vừa nấu.

“Đệ vất vả rồi.”

Hạo húp một ngụm. Cháo nhạt, không muối, chỉ có vị khoai và nước. Y uống cạn rồi nói rất khẽ:

“Đệ xin cảm ơn!”

****

Thị Ngân cho nấu cháo trong những nồi lớn, mỗi ngày hai bữa. Người khỏe ăn loãng hơn, người yếu được thêm một vá. Những hạt gạo mốc nổi thưa trên mặt nước, nhưng chỉ cần mùi cháo bốc lên cũng đủ khiến cả hang im tiếng. Người ta ăn chậm, vét sạch đáy bát, rồi dùng nước tráng uống nốt.

Trương Thị Ngọc vẫn không chịu nhận phần của mình.

Sau trận động Sóc, cánh tay phải của nàng đã lành nhưng mỗi khi nâng quá vai vẫn đau buốt. Vết chém ở đùi khiến bước chân đôi lúc khập khiễng. Nàng vẫn chưa hết day dứt về việc khiến các anh em vong mạng khi cố gắng phá xích. Nàng cho rằng mỗi bát cháo mình ăn đều là phần của những người đã không trở về.

Ngày gạo về, nàng tiếp tục đẩy bát cho người khác. Đến chiều, nàng lại chèo thuyền đi dò bờ sông, mặc cho tay cầm mái chèo run lên. Khi trở vào, nàng lả đi ngay trên mạn thuyền. Đám dân chài phải khiêng nàng vào hang.

Minh Hải biết nàng nhịn ăn từ lâu. Gã cũng chưa lành hẳn. Nhát đao ngang ngực và vết dao ở bụng trong trận động Sóc để lại hai đường sẹo cứng. Mỗi khi trở mình, cơ bụng gã vẫn co giật vì đau. Nhưng gã không nói gì, chỉ nhìn Ngọc đẩy từng bát cháo khỏi tay.

Đêm ấy, Hải ngồi bên bếp, lấy phần cơm cháy dưới đáy nồi. Gã ép thành một nắm nhỏ, nướng trên phiến đá nóng cho mặt ngoài se lại. Mùi gạo mốc cháy khét lan ra rất nhẹ.

Gã bọc nắm cơm trong lá chuối khô rồi đi tới ngách hang nơi Ngọc nằm.

Nàng nằm nghiêng trên chiếu cói. Mái tóc xổ xuống trán, môi khô nứt, một bàn tay vẫn đặt trên cán lao. Hải ngồi xuống, đặt nắm cơm trước mặt nàng rồi gõ nhẹ chuôi đao xuống đá.

Ngọc mở mắt. Nàng nhìn nắm cơm, rồi nhìn Hải.

“Phần của ngươi. Ta không lấy.”

Hải nắm cổ tay nàng, kéo trở lại. Bàn tay to bè bao trọn cổ tay gầy đến mức gã cảm thấy rõ nhịp mạch yếu dưới da.

“Thuyền không người lái thì gạo cũng chìm. Ngươi chết đói, những kẻ theo ngươi ngoài sông cũng chết theo.”

Ngọc rút tay nhưng không đủ sức.

“Ta đã làm chết huynh đệ của mình.”

“Trương Sung cũng làm chết người. Hạ Hầu Giai cũng làm chết người. Ngươi định chết thêm để đủ số hay sao?”

Ngọc nhìn Hải. Rồi gã đẩy nắm cơm vào tay nàng.

“Ăn đi!”

Ngọc im lặng rất lâu rồi bẻ nắm cơm làm đôi. Nàng giữ một nửa, nhét nửa còn lại vào tay Hải.

“Chia đôi. Ta không ăn của ngươi.”

Hải cười khùng khục. Gã bỏ nửa cơm vào miệng. Ngọc cũng nhai phần của mình. Gạo cứng, lẫn mùi khói và vị mốc, nhưng cả hai đều ăn chậm như thể đó là món ngon nhất còn sót lại trên đời.

Hai người tựa lưng vào vách đá, không nói thêm. Tiếng nhai hòa với tiếng nước từ nhũ đá rơi tong tong.

*****

Đêm đã về khuya. Trong ngách đá sâu của động Sóc, Dị Nhân ngồi bên đống lửa leo lét. Cuốn sổ đinh đặt trên đầu gối. Ngón tay chàng dừng ở những cái tên có vạch đen bên cạnh, rồi lại dừng ở những khoảng trống nơi tên người chết đã được Hạo gạch đi.

Sau trận động Sóc còn đúng một trăm người sống. Những ngày sau, một số không qua khỏi vết thương, sáu người của Ngọc lại chết ngoài sông Đại Hoàng. Đến lúc này, nghĩa quân chỉ còn khoảng tám mươi người. Mỗi cái tên biến mất đều kéo chàng trở lại đêm Trương Sung lần theo con đường do chính chàng mở vào tận căn cứ.

Trần Thị Ngân bước tới, khoác áo tơi lên vai chồng. Nàng ngồi xuống bên cạnh, nắm bàn tay thô ráp của chàng.

“Ngân à...” Dị Nhân nói, giọng khàn đặc. “Ta đã trả được thù cho phụ thân, nhưng càng đi tiếp càng thấy tay mình đầy máu. Mỗi lần cầm cuốn sổ này trên tay, ta lại nghĩ những cái tên bị gạch đi đều do ta dẫn Trương Sung tới. Bây giờ người ta đói, Ngọc mất thêm anh em, Hạo phải một mình đi dọa cướp gạo. Ta muốn tìm con đường thái bình, nhưng sao càng bước lại càng giống đang dẫn mọi người đi sâu hơn vào bùn?”

Ngân siết chặt tay chàng, nói:

“Chàng đã sai ở làng Gạo. Không ai trong chúng ta quên điều đó, và chàng cũng không được phép quên. Nhưng nhớ lỗi không có nghĩa là nằm xuống cho nó đè chết.”

Nàng nhìn vào cuốn sổ.

“Những người còn sống không ở đây vì bị chàng ép. Họ ở lại vì ngoài kia không còn chỗ nào cho họ sống như một con người. Họ vẫn theo chàng vì chàng vẫn cho họ được một niềm hy vọng. Chàng không thấy điều đó sao? Chàng không nên cứ ủ rủ như vậy mãi. Nếu chàng biết lỗi của bản thân thì phải làm gì đó để sửa sai. Hãy lãnh đạo mọi người làm một điều gì đó đúng đắn để chuộc lại lỗi lầm. Thiếp tin chàng làm được!”

Dị Nhân cúi đầu. Ánh lửa hắt lên gương mặt chàng, để lộ những vết hốc hác mà trước đây chưa từng có.

Ngân khẽ mỉm cười. Nàng kéo bàn tay chàng đặt lên bụng mình.

“Vả lại, mười hai làng Trường Yên sắp có thêm một miệng ăn nữa rồi.”

Dị Nhân sững người. Bàn tay đang đặt trên bụng nàng bỗng run lên.

“Nàng nói thật sao?”

Ngân cúi mắt, gò má thoáng ửng đỏ.

“Thiếp đã chậm ngày. Dương thị cũng xem qua rồi.”

Giữa cái đói và bóng tối đặc quánh của lòng núi, một mầm sống đang lặng lẽ hình thành. Dị Nhân ôm chầm lấy vợ, vùi mặt vào hõm cổ nàng. Trong một khoảnh khắc, chàng không còn là chủ tướng, chỉ là một người đàn ông vừa biết mình sắp làm cha.

Niềm vui ấy vừa kịp bùng lên thì đất trời Trường Yên đột ngột chuyển mình.

Một cơn gió lạnh từ đâu thốc sâu vào hang. Đống lửa đang cháy đượm bỗng tắt phụt, để lại khoảng tối đen như mực.

Từ rặng tre ngoài bìa đầm, tiếng cú lợn kêu sương vang lên the thé, thê lương như tiếng khóc của oan hồn. Cùng lúc, bầy chó hoang trong mười hai làng đồng loạt tru dài dưới ánh trăng mờ đục.

Dị Nhân giật mình buông Ngân, tay theo thói quen vồ lấy chuôi đoản đao.

“Chuyện quái gì vậy?”

Chàng buông rơi thanh đao, ôm lấy lòng bàn chân trái rồi ngã vật xuống phiến đá. Bảy nốt ruồi đỏ mang hình Bắc Đẩu bỗng đau buốt như có đinh sắt nung đỏ xuyên qua xương. Cơn đau dữ dội khiến một kẻ từng chịu đao xuyên sườn cũng phải cắn nát môi, mồ hôi lạnh túa đầy trán.

Ngân hoảng hốt đỡ lấy chồng. Khi ngẩng lên nhìn ra cửa hang, nàng bỗng tái mặt.

Qua lớp sương mù, một vệt sao chổi đỏ rực như máu đang quét ngang bầu trời phương Bắc, kéo theo chiếc đuôi dài như một vết rạch trên màn đêm.

Theo quan niệm của người xưa, vạn vật đều có linh tính báo điềm. Lửa tắt ngang giữa đêm không mưa là dấu hiệu sinh khí lụi tàn. Cú lợn kêu sương, chó hoang tru trăng là tiếng gọi cửa của quỷ vô thường. Còn ngôi sao mang đuôi máu chính là Tảo bả tinh, dị tượng báo trước tai ương, máu chảy thành sông, thây chất thành núi.

Mầm sống trong bụng Thị Ngân vừa thắp lên một tia hy vọng thì đất trời đã dội xuống điềm dữ. Cơn đau nơi bảy nốt ruồi dưới lòng bàn chân Dị Nhân không giống bệnh tật. Nó như tiếng gào của bản mệnh Thất Tinh, báo rằng số mệnh của chàng sắp va chạm với một thế lực tà ác và áp đảo hơn gấp ngàn lần.

Cách Trường Yên hàng trăm dặm về phía Nam, trong đại trướng quân Minh, ngọn đuốc mỡ người cháy sáng rực rỡ.

Trương Phụ, con quái vật của Thiên triều, đứng chắp tay sau lưng, khoác áo choàng lông thú. Hắn ngước đôi mắt chim ưng lạnh lẽo và tàn độc nhìn vệt sao chổi qua khe cửa trướng.

Trên án trước mặt hắn là tờ tin báo vừa được đưa tới từ phủ Kiến Bình. Tờ giấy chỉ nói về một đám giặc cỏ trong vùng núi Trường Yên và về cái chết của Trương Sung.

Trương Phụ đọc xong, nhe răng cười khát máu. Bàn tay bọc giáp sắt từ từ bóp nát quả cam đang cầm. Nước cam vàng nhạt chảy qua kẽ giáp, nhỏ xuống tờ tin báo như những giọt máu loãng.

Ánh mắt đó, nụ cười đó chính là bản án tử hình đã được ấn định. Trương Phụ hướng tầm mắt nhìn về hướng Trường Yên.

 

Giặc Minh giăng xích chặn dòng,

Trường Yên cạn thóc, quặn lòng xác xơ.

Dùng mưu đoạt gạo bất ngờ,

Nắm cơm chia nửa, bến bờ tử sinh.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px