Hồi 10 - Thượng
HỒI MƯỜI
Áo điều nhuộm máu sương pha,
Nón mê rơi giữa quan hà gió lay.
Một người đổi lấy một ngày,
Một người quỳ xuống, giữ bầy sống qua.
Đầu hạ năm Giáp Ngọ.
Hơn bốn năm đã trôi qua kể từ đêm sao chổi quét ngang bầu trời Trường Yên. Trong bốn năm ấy, Trường Yên không có thêm một trận thắng nào đủ lớn để người đời nhắc tới, cũng không có một thất bại nào đủ sức xóa tên họ khỏi núi rừng. Hạ Hầu Giai vẫn giữ nguyên vòng phong tỏa quanh chân núi. Hắn không nóng nảy đem quân xông vào những hẻm đá đã từng nuốt gần hết binh mã của Trương Sung. Hắn chỉ khóa đường, chặn bến, kiểm soát chợ, lần lượt cắt từng mối liên lạc giữa nghĩa quân với mười hai làng.
Nghĩa quân Trường Yên sống qua ngày bằng những khoảnh đất nhỏ giấu giữa các thung đá, bằng củ mài đào dưới rừng, bằng cá bắt trong những dòng nước ngầm và những chuyến hàng lén lút đi qua khe núi phía Bắc. Có tháng họ no được vài bữa. Có tháng cả hang chỉ nghe tiếng bụng đói réo lên trong đêm.
Năm mươi thạch gạo Hạo mang về cuối năm Kỷ Sửu đã cứu họ khỏi chết đói, nhưng không thể nuôi một đội quân mãi mãi. Số người cầm được giáo có lúc tăng lên nhờ những trai tráng trốn khỏi làng, rồi lại giảm xuống vì bệnh tật, thương tích và những cuộc truy quét âm thầm. Cuốn sổ đinh của Phạm Tung cứ dày lên một chút rồi mỏng đi một chút. Đến đầu hạ năm Giáp Ngọ, nghĩa quân vẫn chưa đầy một trăm người.
Đỗ Túc đã biết chạy quanh các cột đá, biết gọi cha, gọi mẹ và biết sợ mỗi khi nghe tiếng tù và quân Minh từ dưới đồng vọng lên. Thằng bé chưa hiểu vì sao người lớn quanh nó luôn nói nhỏ, vì sao cha nó có lúc đang cười lại im bặt khi nhìn thấy tấm lụa điều treo trên vách. Nó chỉ biết mỗi lần bị ngã, người đầu tiên cúi xuống bế nó thường là Khoa.
Khoa vẫn đội chiếc nón mê rách bươm năm nào. Vết chém trong trận động Sóc để lại một đường sẹo kéo từ thái dương xuống sát mắt trái, khiến mí mắt bên ấy lúc nào cũng hơi sụp. Thị lực đã kém đi, nhưng tai gã vẫn thính, chân vẫn nhanh và cái miệng vẫn chẳng chịu yên. Những năm ấy, Khoa cùng Trần Nguyên Thúy thay nhau xuống núi. Một người giả làm kẻ ăn mày, người kia giả làm lão bán chữ, khi thì ngồi ở quán nước, lúc lại lẫn vào đám phu kéo xe. Tin tức từ phương Nam phần lớn đều qua miệng hai người rồi mới tới động Sóc.
Tin cuối cùng Khoa mang về khiến cả hang im lặng. Trùng Quang Đế đã bị bắt. Đặng Dung và Nguyễn Súy cũng sa vào tay quân Minh. Cờ Hậu Trần ở phương Nam đã tắt. Đại quân do Trương Phụ chỉ huy đang từ phía Nam kéo trở ra. Hạ Hầu Giai đã cho sửa đường, dựng trạm và tích cỏ khô cho ngựa dọc tuyến Tam Điệp. Mấy ngày gần đây, quân Minh dưới chân núi bỗng thu bớt các toán tuần tra nhỏ, nhưng cờ lệnh trong đồn lại thay đổi liên tục.
Phạm Tung nghe xong, ngồi rất lâu bên đống lửa. Lão lấy quạt mo gõ nhè nhẹ vào đầu gối rồi bảo:
“Con cáo nằm im không có nghĩa là nó ngủ. Nó đang chờ con hổ đi ngang qua để mượn móng vuốt.”
Dị Nhân hiểu lời ấy. Nhưng khi đó, chàng vẫn chưa biết móng vuốt của Trương Phụ đã ở gần Trường Yên đến mức nào.
*
Rạng sáng hôm sau, sương từ vùng đầm lầy bò lên, phủ kín hẻm Đá Trắng.
Một mối tin cũ ở làng Gỗ báo rằng có toán quân Minh chừng vài chục người sẽ theo hẻm ấy đi dò đường. Tin rất cụ thể, có cả giờ xuất phát, số ngựa và màu cờ hiệu. Đó là loại tin mà Khoa hiếm khi mang về nếu chưa kiểm tra hai lượt.
Dị Nhân vẫn không yên tâm. Chàng chỉ dẫn theo hơn hai chục người, phần lớn là những kẻ còn khỏe, tới phục sẵn ở hai vách đá. Minh Hải, Ngọc và Nguyễn Phụ đều đi cùng. Hạo giữ đường lui. Phạm Tung ở lại động Sóc trông coi hậu cần.
Khoa nằm áp bụng trên một mỏm đất cao phía ngoài hẻm, có nhiệm vụ quan sát đường cái. Trời lạnh trái mùa. Gió luồn qua cổ áo khiến gã run lên cầm cập.
Dị Nhân ngồi tựa vào vách đá, dùng mảnh vải cũ lau thanh đoản đao. Tấm lụa điều khoác trên vai chàng đã bạc màu, mép vải được vá bằng mấy đường chỉ thô. Nó không còn rực rỡ như ngày Hạo khoác lên vai chàng trước thi hài Đỗ Sán, nhưng giữa màu đá xám và áo vải nâu, nó vẫn đỏ như một đốm lửa.
Khoa bò từ ngoài sương vào, hai tay xoa vào nhau rồi than:
“Lạnh chết mất. Đệ nằm ngoài kia thêm nửa canh nữa chắc phải nhờ Phụ cõng về phơi bên bếp.”
Nguyễn Phụ đang ngồi ôm cây giáo bên cạnh, nghe gọi tên thì ngẩng lên:
“Ta không rảnh rỗi đâu mà cõng ngươi.”
Khoa nhăn mặt, trách:
“Huynh đúng là đồ vô tình. Ngày thường ăn của đệ bao nhiêu củ mài mà đến lúc đệ chết cóng lại không chịu cõng.”
Phụ đáp rất thật:
“Ngươi có cho ta củ nào đâu.”
Mấy người quanh đó bật cười. Khoa ngồi xổm xuống cạnh Dị Nhân, mắt liếc sang tấm lụa điều rồi khẽ gọi:
“Chúa công.”
Dị Nhân không ngẩng đầu, đáp:
“Không.”
Khoa sửng sốt, vội nói:
“Đệ còn chưa nói gì.”
Dị Nhân đáp:
“Ngươi nhìn cái áo từ lúc bò vào đến giờ. Muốn gì ta còn lạ sao?”
Khoa xoa hai bàn tay, cười hề hề:
“Đệ chỉ định hỏi hôm nay tấm lụa này có lạnh không. Nếu nó lạnh thì cho đệ mượn người ủ ấm hộ một lát.”
Minh Hải phì cười:
“Ngươi nói thẳng là muốn khoác thử đi. Lòng vòng nghe ngứa tai.”
Khoa lập tức quay sang, phân bua:
“Lão Hải nói thế oan cho đệ quá. Đệ là người biết nghĩ cho của cải nhà họ Đỗ. Áo đẹp mà cứ khoác lên cái lưng to như cột đình của Chúa công thì phí. Phải khoác lên người thanh tú như đệ, thiên hạ mới biết lụa tốt đến đâu.”
Ngọc vẫn chăm chú kiểm tra đầu lao, chẳng thèm ngẩng lên mà buông một câu:
“Ngươi mà thanh tú thì con cóc trong đầm cũng là Tây Thi.”
Khoa cười càng tươi. Dị Nhân nhìn gương mặt gầy guộc, đường sẹo kéo xuống mắt trái và chiếc nón rách đã theo gã suốt mấy năm. Chàng chợt nhớ đêm cắt máu ăn thề, Khoa cũng là kẻ phá tan không khí nghiêm trang bằng một câu chuyện nước mắm. Đã lâu lắm rồi chàng không nghe đám người quanh mình cười như thế.
Dị Nhân tháo nút tấm lụa, ném sang rồi dặn:
“Cầm lấy đi! Nhưng nhớ giữ cẩn thận đó!”
Khoa chụp lấy, suýt để rơi xuống bùn. Gã phủi phủi mấy hạt sương trên mặt lụa rồi cẩn thận khoác qua vai. Tấm vải đỏ ôm lấy thân hình còm nhom, bên dưới vẫn là chiếc áo vá và đôi ống quần thấp cao không đều. Cả người gã trông vừa buồn cười vừa lạ lẫm.
Khoa chống nạnh, quay một vòng rồi hỏi:
“Thấy chưa? Có ra dáng quý nhân không?”
Minh Hải nhìn gã từ đầu xuống chân, đáp:
“Có. Quý nhân vừa bị người ta đuổi khỏi chợ.”
Tiếng cười lại bật lên giữa hẻm đá. Khoa cũng cười. Gã kéo vành nón xuống, quay người bò trở ra mỏm quan sát. Trước khi đi, gã còn ngoái lại:
“Chúa công cứ yên tâm. Mạng đệ có thủng vài lỗ thì tấm lụa này cũng không bẩn đâu.”
Dị Nhân lườm gã, mắng:
“Nói gở. Đi đi.”
Khoa giơ hai ngón tay lên chào, rồi bóng áo đỏ nhanh chóng bị sương mù nuốt mất. Dị Nhân nhìn theo một lát mới cúi xuống lau tiếp lưỡi đao.
**
Gió đổi hướng khi Khoa vừa bò lên tới sườn đồi ngoài hẻm. Màn sương bị xé ra từng khoảng. Qua những thân cỏ tranh ướt sũng, gã nhìn thấy con đường cái quan phía Nam.
Thoạt đầu chỉ là vài bóng kỵ binh hiện lên trong sương. Khoa nheo mắt phải, cố nhìn cho rõ. Sau những bóng ngựa ấy là một hàng cờ dài. Cờ đi mãi không hết. Rồi tiếng trống từ rất xa vọng tới, trầm và đều, mỗi tiếng như nện thẳng xuống mặt đất.
Khoa nằm im.
Toán quân được báo chỉ có vài chục người. Thứ đang tiến đến trước mặt gã không phải toán quân ấy. Đó là tiền quân của Trương Phụ.
Những kỵ binh đi đầu mặc giáp sắt, ngựa được che phần ngực bằng lớp da dày. Sau họ là quân cầm khiên, quân mang nỏ, rồi từng cỗ xe chở hòm thuốc súng phủ vải dầu. Cờ lệnh dựng san sát, lớp trước vừa hiện khỏi sương thì lớp sau đã nối vào, kéo dài tới tận chỗ con đường khuất sau gò đất.
Khoa cảm thấy miếng củ mài trong miệng bỗng khô cứng như đá. Gã quay đầu nhìn về phía hẻm Đá Trắng. Dị Nhân cùng hơn hai chục người đang nằm phục bên trong. Nếu tiền quân tiếp tục tiến thẳng, họ sẽ bị ép giữa vách đá trước khi kịp nhận ra cái bẫy.
Khoa lùi lại một chút. Ngay lúc ấy, tiếng vó ngựa vang lên rất gần. Một tên quân Minh cưỡi ngựa từ dưới đường cái tách khỏi hàng, men theo lối nhỏ lên sườn đồi. Hắn là quân truyền lệnh đi kiểm tra đường bên trái. Chỉ thêm vài chục nhịp thở, hắn sẽ nhìn thấy Khoa.
Gã ăn mày áp sát xuống bùn. Bàn tay lần tới con dao găm giắt sau lưng. Trong đầu gã thoáng hiện ra con đường trở về. Nếu bò ngược xuống khe cỏ, gã có thể tránh tên kỵ binh kia. Nhưng khi tới hẻm Đá Trắng, tiền quân cũng đã chặn kín cửa hẻm. Gã có báo được tin thì cả bọn vẫn không đủ thời gian rút.
Tiếng vó ngựa gần thêm. Khoa nhìn xuống tấm lụa điều đỏ đang phủ trên vai mình. Mấy năm qua, quân Minh ở Trường Yên chưa từng nhầm màu áo ấy. Trương Sung từng cho người vẽ lại hình dáng Dị Nhân. Hạ Hầu Giai còn treo thưởng cho kẻ nào chỉ đúng người khoác tấm lụa đỏ giữa trận.
Khoa khẽ nuốt nước bọt. Gã sợ chết.
Nỗi sợ ấy không có gì cao đẹp. Nó làm hai đầu gối gã mềm đi, làm bụng gã thắt lại, làm bàn tay cầm dao trơn nhẫy mồ hôi. Gã muốn lùi vào bụi cỏ, muốn nằm im cho đoàn quân đi qua, muốn trở về động Sóc để tối nay còn giành phần cháo với Minh Hải.
Tên kỵ binh đã tới sau lưng mô đất. Khoa cúi nhìn tấm lụa. Khóe miệng gã giật nhẹ.
Khoa nói rất khẽ, gần như chỉ để mình nghe:
“Chúa công à... Lần này đệ làm bẩn thật rồi.”
Tên kỵ binh vừa vòng qua mô đất thì một bóng người từ trong cỏ bật dậy. Khoa ném cả thân mình vào chân hắn. Con ngựa hí vang, chồm hai vó trước. Tên lính mất thăng bằng, ngã nghiêng khỏi yên. Khoa lăn theo, rút dao đâm một nhát vào khe giáp dưới nách. Tên lính chưa kịp kêu đã bị gã bịt miệng.
Khoa giật lấy dây cương, trèo lên yên ngựa. Gã chưa từng cưỡi ngựa cho ra hồn. Hai chân vừa kẹp vào bụng con vật đã bị nó hất nghiêng sang một bên. Gã ôm chặt cổ ngựa, miệng chửi thề, rồi kéo mạnh dây cương quay đầu ra đường cái.
Tấm lụa điều bung khỏi vai, đỏ rực giữa màn sương. Khoa thúc gót chân vào bụng ngựa, lao thẳng xuống sườn đồi. Một toán kỵ binh Minh phía dưới lập tức nhìn thấy.
Gã giật chiếc nón mê xuống, vung cao con dao găm, gào bằng tất cả hơi trong lồng ngực:
“Đỗ Dị Nhân ở đây! Lũ chó phương Bắc, có giỏi thì theo ta!”
Tiếng quát bằng tiếng Việt khiến nhiều tên lính không hiểu, nhưng cái tên Đỗ Dị Nhân và tấm áo đỏ thì chúng đều nhận ra. Viên bách hộ đi đầu lập tức chỉ roi ngựa về phía Khoa, quát:
“Bắt sống tên áo đỏ!”
Hơn ba chục kỵ binh tách khỏi đội hình, phóng theo. Khoa không quay lại hẻm Đá Trắng. Gã kéo cương về phía bãi Lau Sậy, nơi con đường đất hẹp chạy vòng quanh một vùng lầy sâu. Đó là hướng ngược hẳn với căn cứ. Phía sau, tiếng vó ngựa đuổi sát như sấm.
Một mũi tên lao qua vai, ghim xuống đất trước mặt. Khoa cúi rạp người trên cổ ngựa, vừa giữ dây cương vừa cười. Tiếng cười bật ra méo mó vì sợ, nhưng càng cười, gã càng thấy hai tay mình bớt run.
Gã dẫn toán kỵ binh qua một gò đất trống. Tấm lụa đỏ bay phần phật sau lưng. Đám quân Minh phía dưới đường cái nhìn theo, hàng tiền quân bắt đầu xô lệch. Viên tướng chỉ huy phải cho nổi tù và dừng đội hình, phái thêm người lên sườn đồi kiểm tra vì sợ trong hẻm có phục binh.
Khoảng thời gian ấy chỉ dài bằng vài chén trà. Nhưng với hơn hai chục người đang ở hẻm Đá Trắng, vài chén trà ấy là một con đường sống. Khoa nghe tiếng dây cung bật liên tiếp.
Mũi tên đầu tiên cắm vào vai trái. Cả cánh tay gã tê dại, dây cương suýt tuột khỏi tay. Mũi thứ hai xuyên qua bắp chân, ghim ống quần vào yên. Gã nghiến răng, ôm cổ ngựa, vẫn cố kéo nó chạy về phía bãi lầy.
Con đường trước mặt hẹp dần. Hai bên là lau sậy cao quá đầu người. Khoa biết chỉ cần qua khỏi khúc ngoặt cuối, đất sẽ mềm đến mức ngựa giáp nặng không thể chạy nhanh.
Gã chưa kịp tới đó.
Một mũi tên cắm vào lưng. Hơi thở bật khỏi miệng Khoa thành tiếng khục. Người gã đổ về phía trước, mặt áp vào bờm ngựa. Con vật vẫn lao thêm một quãng rồi vấp ổ đất, quăng cả người lẫn ngựa xuống ruộng cạn.
Khoa lăn qua mấy vòng. Chiếc nón mê văng khỏi đầu, nằm ngửa giữa bùn. Gã chống tay định bò dậy. Bàn tay vừa chạm đất đã bị một mũi tên khác xuyên qua. Khoa nhìn bàn tay mình bị ghim xuống bùn, bỗng cười khùng khục.
Toán kỵ binh đã tới. Viên bách hộ ghìm ngựa cách gã vài bước, nhìn tấm lụa điều đẫm máu rồi quát hỏi gì đó bằng tiếng Hán. Khoa không hiểu hết. Gã chỉ nghe rõ hai tiếng “Đỗ Dị Nhân”. Gã ngẩng khuôn mặt đầy bùn lên. Mắt phải nheo lại, mắt trái dưới đường sẹo chỉ còn một khe nhỏ.
Khoa hô lớn:
“Phải. Ông nội ngươi đây.”
Mũi giáo từ trên ngựa đâm xuống. Khoa không né. Gã chỉ kịp kéo vạt lụa điều che lên ngực, như sợ máu mình làm bẩn đất hơn làm bẩn áo. Khi toán kỵ binh quay lại đường cái, chúng mang theo tấm lụa đỏ. Chiếc nón mê rách bươm vẫn nằm giữa bãi bùn, và người nằm cạnh nó đã không còn cử động.
***
Trong hẻm Đá Trắng, Dị Nhân nghe tiếng tù và đổi nhịp. Chàng ngẩng phắt đầu.
Âm thanh ấy không giống hiệu lệnh của toán tuần tra nhỏ. Nó dày, dài và vọng tới từ nhiều hướng. Mặt đất dưới lòng bàn tay chàng bắt đầu rung nhẹ.
Hạo từ phía sau chạy lên, hơi thở gấp gáp, báo:
“Đại ca, có chuyện không ổn. Đường phía Nam có bụi lớn. Hình như quân số địch không đúng lắm…”
Dị Nhân quay sang chỗ Khoa đã đi. Sương vẫn đặc quánh. Không có bóng áo đỏ nào trở lại.
Minh Hải siết chuôi trường đao, nói:
“Để đệ ra tìm hắn.”
Dị Nhân đứng bật dậy, quát:
“Không.”
Minh Hải phản đối:
“Hắn chưa về mà!”
Dị Nhân nói:
“Chính vì hắn chưa về nên càng phải rút.”
Hải nhìn chàng, mắt đỏ lên, hỏi:
“Huynh định bỏ hắn lại sao?”
Dị Nhân không trả lời ngay. Tiếng vó ngựa từ ngoài hẻm đã vọng tới rõ hơn. Chàng nhìn từng gương mặt quanh mình, rồi nhìn lối đi hẹp chỉ đủ ba người chạy song song. Bốn năm trước, chính chàng từng không chịu nghe lời rút quân. Một lần cố chấp ấy đã dẫn Trương Sung vào động Sóc.
Dị Nhân nghiến răng, ra lệnh:
“Rút theo đường khe Sậy. Ngọc đi trước. Phụ giữ giữa. Hải bọc hậu với ta.”
Minh Hải vẫn đứng im. Dị Nhân bước tới, túm lấy cổ áo gã rồi quát:
“Đệ muốn Khoa quay về rồi thấy tất cả chúng ta chết ở đây sao?”
Hải thở mạnh. Hai hàm răng nghiến vào nhau. Cuối cùng gã quay đi, vung tay ra hiệu cho mọi người rút. Nghĩa quân vừa rời khỏi hẻm chưa đầy một khắc thì đội tiền quân Minh tràn vào. Chúng chỉ thấy những hòn đá mai phục còn nằm trên mép vực, vài dấu chân mới và một miếng củ mài Khoa đánh rơi trong bùn.
****
Khi Dị Nhân cùng những người còn lại trèo lên được mỏm đá phía Tây, sương dưới đồng đã bắt đầu tan. Chàng đứng giữa hai vách núi, nhìn xuống con đường cái quan. Thứ đang hiện ra dưới chân Trường Yên không giống bất kỳ đội quân nào chàng từng đối mặt.
Kỵ binh đi trước thành từng hàng đều tăm tắp. Sau họ là những khối bộ binh cầm khiên và giáo, bước cùng một nhịp, giáp sắt lóe lên dưới ánh mặt trời đầu hạ. Những toán quân mang nỏ đi xen giữa các hàng cờ. Phía sau nữa là xe lương, xe chở hỏa khí, hòm thuốc súng được bọc kín bằng da và vải dầu. Mỗi khi bánh xe bọc sắt nghiến qua đá, tiếng ken két vọng lên tận sườn núi. Đội hình ấy đi mãi không hết.
Cờ hiệu chữ “Minh” nối nhau từ chân Tam Điệp tới tận nơi con đường khuất sau màn bụi. Giữa biển cờ, một lá đại kỳ lớn hơn tất cả chậm rãi tiến lên. Quân lính hai bên đường đồng loạt dạt ra. Những viên tướng đang cưỡi ngựa đều ghìm cương, cúi đầu.
Bên dưới đại kỳ là Trương Phụ.
Từ khoảng cách rất xa, Dị Nhân không nhìn rõ mặt hắn. Chàng chỉ thấy một người mặc giáp sẫm màu ngồi trên chiến mã đen, áo choàng phủ xuống hai bên yên. Hắn không giơ đao, không thúc ngựa, cũng không cần quát tháo. Chỉ một lần hắn nâng tay, tiếng trống của cả đạo quân đồng loạt dừng.
Hàng vạn bước chân cùng dừng theo.
Cánh đồng rộng lớn bỗng chìm xuống.
Sự im lặng ấy khiến Dị Nhân lạnh hơn cả tiếng reo giết trong trận động Sóc. Trương Sung phải gào khản cổ mới ép được vài trăm quân xông vào cửa hang. Còn người dưới kia chỉ cần nhấc một bàn tay đã khiến cả một đạo quân đứng yên như bị đóng xuống đất.
Hạo đứng cạnh chàng, sắc mặt trắng bệch. Y không nói tới quân số. Không ai trên sườn núi có thể đếm nổi. Hạo chỉ khẽ bảo:
“Đại ca, đấy là Trương Phụ.”
Dị Nhân biết. Bảy nốt ruồi dưới lòng bàn chân trái bỗng đau âm ỉ. Không dữ dội như đêm sao chổi năm nào, nhưng từng nhịp đau đều rõ ràng, như có một bàn tay vô hình đang gõ vào từng khúc xương.
Chàng nhìn xuống thanh đoản đao bên hông. Lưỡi đao ấy từng cắt cổ lính Minh, chém chết Trương Sung, mở đường qua hàng giáo. Trước đội quân dưới kia, nó bỗng nhỏ đến đáng thương.
Minh Hải từ phía sau bước tới, nhìn quanh rồi hỏi:
“Khoa đâu?”
Không ai trả lời. Hải nhìn sang vai Dị Nhân. Chỗ tấm lụa điều thường nằm nay trống không. Gương mặt gã chợt cứng lại.
*****
Đại trướng của Trương Phụ được dựng trên gò đất cao ngoài làng Gỗ. Không phải một chiếc lều đơn độc mà là cả một lớp doanh trại vuông vức. Hào cạn được đào quanh. Cọc nhọn cắm kín các lối vào. Quân thân binh mặc giáp đứng thành hai hàng từ cổng trại tới tận trướng chính. Cờ lệnh trên cao đổi hướng theo từng tiếng trống. Người kéo xe, kẻ dựng bếp, quân coi ngựa, quân canh kho thuốc súng đều làm việc trong im lặng.
Hạ Hầu Giai xuống ngựa ngoài cổng, tháo kiếm giao cho thân binh rồi mới được bước vào. Trong trướng, Trương Phụ đang đứng trước tấm bản đồ trải trên án gỗ.
Hắn đã gần bốn mươi tuổi, vai rộng, người không quá cao nhưng đứng rất thẳng. Bộ giáp sắt đen phủ lên thân hình như một lớp vảy cứng. Phần cổ áo choàng lót lông thú trắng, sạch đến mức lạc lõng giữa mùi mồ hôi, da thuộc và thuốc súng trong trướng.
Trên án bên cạnh bản đồ là tấm lụa điều vừa được toán kỵ binh mang về. Máu Khoa đã thấm gần kín một nửa mặt vải. Trương Phụ dùng hai ngón tay nhấc một góc lụa lên, nhìn rồi hỏi bằng giọng bình thản:
“Kẻ mặc áo này là Đỗ Dị Nhân sao?”
Hạ Hầu Giai cúi đầu, đáp:
“Bẩm Anh Quốc công, không phải.”
Trương Phụ hỏi:
“Sao ngươi biết?”
Hạ Hầu Giai đáp:
“Đỗ Dị Nhân cao lớn, dùng đoản đao, thuận tay phải. Còn cái xác ngoài bãi là người thấp, gầy, trên mặt có sẹo cũ. Do đó, thuộc hạ nghĩ rằng không phải hắn ta.”
Trương Phụ buông tấm lụa xuống, nói:
“Vậy là một kẻ chết thay thôi sao?”
Trương Phụ không nói thêm về Khoa. Hắn đặt tấm lụa điều xuống, dùng đầu ngón tay gõ nhẹ lên vùng núi đá Trường Yên trên bản đồ rồi hỏi:
“Ngươi vây nơi này bao lâu rồi?”
Hạ Hầu Giai đáp:
“Hơn bốn năm, thưa Quốc công.”
Trương Phụ hỏi tiếp:
“Khi ngươi nhận việc, chúng có bao nhiêu người?”
Giai hơi khựng lại rồi đáp:
“Hơn năm trăm. Nhưng hiện chỉ còn chưa đầy một trăm kẻ cầm nổi binh khí thôi ạ.”
Trương Phụ gật đầu rất khẽ, như thể vừa nghe một con số không đáng để ghi nhớ. Hắn lại hỏi:
“Cờ của chúng còn không?”
Giai im lặng một nhịp:
“Còn ạ.”
“Thủ lĩnh còn không?”
“Thưa…Còn.”
“Mười hai làng còn tiếp tế cho chúng được không?”
Giai đáp:
“Bẩm Anh Quốc công, không còn như trước nữa ạ. Thuộc hạ đã khóa đường sông, đường bộ, kiểm soát chợ và các bến. Chúng chỉ sống lay lắt nhờ những khe núi nhỏ và nguồn thức ăn trong rừng.”
Trương Phụ quay sang nhìn hắn. Ánh mắt vẫn bình thản, không có lấy một tia tức giận:
“Vậy bốn năm qua, những việc ngươi làm được cho triều đình quả thực rất khiêm tốn đó. Ngươi điều binh khiển tướng bao lâu nhưng vẫn để lá cờ của chúng bay, thủ lĩnh của chúng sống, đường hành quân của Thiên triều mỗi lần qua đây vẫn phải đề phòng. Ngươi thấy vậy có ổn không?”
Hạ Hầu Giai quỳ xuống, hai tay chống đất:
“Bẩm Quốc công, địa thế Trường Yên hiểm trở, hang ngầm và đường nước chằng chịt. Trương Sung năm xưa nóng vội đánh sâu, gần như mất sạch binh mã. Thuộc hạ không muốn đem mạng quân sĩ ném vào đá núi. Chỉ cần thêm một thời gian, bọn chúng tự khắc kiệt quệ mà tan.”
Trương Phụ hỏi:
“Thế ngươi muốn thêm bao lâu nữa?”
Giai không trả lời ngay. Hắn đã tính toán mọi con đường ở Trường Yên suốt bốn năm, nhưng lần đầu tiên không tìm được một con số đủ chắc để nói ra trước mặt người đàn ông này.
Trương Phụ nhìn hắn, giọng vẫn đều đều:
“Một tháng? Một năm? Hay thêm bốn năm nữa?”
Hạ Hầu Giai cúi đầu thấp hơn:
“Thuộc hạ không dám chắc.”
Ngoài trướng, tiếng bánh xe chở hỏa khí nghiến qua đá ken két. Trương Phụ bước tới mép án, nhìn dải đường từ phương Nam vòng qua Trường Yên rồi tiếp tục kéo ra Bắc.
“Ta vừa dẹp xong cờ Hậu Trần. Đại quân còn phải đi. Ta không có bốn năm để chờ một ổ thảo khấu tự chết đói đâu, Hạ Hầu tướng quân à.”
Giai ngẩng lên:
“Bẩm Anh Quốc công, nếu dốc quân đánh thẳng vào hang, thương vong sẽ không ít. Bọn chúng có thể dựa vào địa hình để gây khó dễ cho quân ta. Thuộc hạ không cho rằng...”
Trương Phụ cắt ngang:
“Ai nói với ngươi ta định đánh vào hang?”
Hắn nhấc tấm lụa điều lên lần nữa. Máu Khoa đã khô cứng trên vải. Trương Phụ nhìn màu đỏ ấy một thoáng rồi đặt xuống:
“Người Trường Yên theo Đỗ Dị Nhân vì hắn bảo vệ được họ. Vậy thì dùng chính mạng của họ buộc hắn bước ra. Không cần tìm hắn trong núi làm gì cho phí công tốn sức. Chỉ cần cho hắn biết nếu hắn không xuống, mười hai làng sẽ không còn nữa.”
Hạ Hầu Giai siết hai bàn tay. Hắn hiểu kế ấy. Chính vì hiểu nên sắc mặt càng khó coi. Bốn năm qua hắn đã ép nghĩa quân đến sát mép vực nhưng vẫn luôn chừa dân làng một khoảng thở, bởi hắn biết giết sạch dân chỉ khiến những kẻ trong núi không còn gì để mất. Khi đó sẽ khiến cho vùng đất này vô cùng bất ổn vì nỗi oán hận thấu trời của người dân. Trương Phụ thì không cần cai trị Trường Yên bốn năm nữa. Hắn chỉ cần con đường này im tiếng trước lúc đại quân đi qua.
Giai chắp tay, giọng thấp đi:
“Thuộc hạ xin lĩnh mệnh. Xin Anh Quốc công cho thuộc hạ một cơ hội cuối cùng. Trước giờ Ngọ ngày mai, thuộc hạ sẽ buộc Đỗ Dị Nhân xuống núi.”
Trương Phụ nhìn hắn một hồi rất lâu.
“Ngươi vẫn chưa hiểu à?”
Hạ Hầu Giai khựng lại.
Trương Phụ rút kiếm.
Không một tiếng quát. Không một lời kết tội dài dòng. Chỉ có một tiếng thép rời vỏ lạnh ngắt. Giai vừa ngẩng đầu thì lưỡi kiếm đã quét ngang cổ. Máu nóng phun lên mép án gỗ, bắn thành vài giọt đỏ thẫm cạnh nét mực đánh dấu Trường Yên.
Thân hình Hạ Hầu Giai đổ nghiêng xuống thảm. Hai tên thân binh ngoài cửa lập tức quỳ rạp, không một kẻ nào dám ngẩng mặt.
Trương Phụ tra kiếm vào vỏ. Hắn lấy khăn lau vệt máu bắn lên mu bàn tay rồi nói:
“Bốn năm mà việc chưa xong, còn xin thêm một cơ hội. Đó không phải cẩn trọng. Đó là bất lực.”
Hắn chỉ xuống tấm bản đồ:
“Truyền lệnh. Khóa tất cả đường ra. Đưa xe thuốc súng tới trước mười hai làng. Trước giờ Ngọ ngày mai, Đỗ Dị Nhân phải hạ vũ khí và tự tới nhận tội. Kẻ nào không chống thì giữ mạng. Quá giờ, đốt làng, chặn nước, hun từng cửa động.”
Một viên thiên hộ quỳ xuống lĩnh mệnh.
Trương Phụ cầm tấm lụa điều đẫm máu ném cho hắn:
“Đem thứ này trả lại. Nói với Đỗ Dị Nhân: người chết đã làm xong phần của mình. Giờ đến lượt kẻ sống.”
******
Chiều hôm ấy, một lá cờ trắng xuất hiện dưới chân núi.
Người mang lệnh là một viên thiên hộ mặc giáp đen dẫn theo bốn thân binh. Hắn dừng ngoài tầm tên, sai người đặt tấm lụa điều lên một phiến đá rồi lùi lại.
Dị Nhân cùng Hạo, Minh Hải và Ngọc bước ra từ sau rặng cây. Gương mặt chàng hốc hác vì một đêm không ngủ, bàn tay vẫn đặt trên chuôi đoản đao.
Dị Nhân nhìn qua vai viên thiên hộ, hỏi:
“Hạ Hầu Giai đâu?”
Viên thiên hộ đáp bằng giọng lạnh tanh:
“Đã bị Anh Quốc công xử theo quân pháp.”
Cả bốn người Trường Yên đều sững lại. Minh Hải là kẻ phản ứng trước tiên:
“Chém rồi?”
“Chém rồi.”
Viên thiên hộ nói như thể đang báo một con ngựa què vừa bị loại khỏi đoàn. Dị Nhân không hỏi thêm. Người đã vây Trường Yên suốt hơn bốn năm, kẻ mà bọn họ phải dè chừng từng bước, vừa bị Trương Phụ giết chỉ sau một cuộc hỏi chuyện. Cái chết ấy làm đại quân dưới đồng bỗng trở nên đáng sợ hơn tất cả những cỗ hỏa khí đang chĩa lên núi.
Dị Nhân bước tới phiến đá. Chàng nhận ra máu đã khô trên tấm lụa rồi hỏi:
“Xác người mặc áo này đâu?”
Viên thiên hộ đáp:
“Ở bãi Lau Sậy. Kỵ binh đã đi qua nhiều lượt. Muốn tìm thì tự tìm.”
Minh Hải gầm lên, bước phắt tới. Ngọc lập tức chặn cán lao trước ngực gã. Viên thiên hộ không hề lùi, chỉ lấy từ trong áo ra một cuộn giấy niêm kín đặt cạnh tấm lụa.
“Tin về toán quân nhỏ ở hẻm Đá Trắng là do Hạ Hầu Giai tung ra trước khi đại quân tới. Người của các ngươi tự chui vào bẫy. Chuyện ấy đã xong.”
Hắn chỉ vào cuộn giấy:
“Đây là lệnh của Anh Quốc công. Trước giờ Ngọ ngày mai, Đỗ Dị Nhân dẫn người xuống núi, giao binh khí và chấp nhận giải tán nghĩa quân. Hộ tịch, ruộng đất cùng việc cai quản mười hai làng sau đó sẽ do quan phủ tiếp nhận. Đỗ Dị Nhân phải tự tới trước trướng nhận tội.”
Dị Nhân hỏi:
“Nếu ta không tới?”
Viên thiên hộ quay đầu nhìn xuống cánh đồng. Dưới chân núi, từng cỗ xe thuốc súng đang chậm rãi được kéo về phía các đường làng.
“Anh Quốc công không thích cái trò vây hãm của Hạ Hầu Giai đâu. Nếu quá giờ Ngọ mà không có kết quả ngài ấy muốn, quân ta sẽ đốt mười hai làng trước, chặn nguồn nước sau, rồi hun khói từng cửa hang. Người dưới đồng sẽ hóa tro còn người trên núi sẽ ngạt chết. Các ngươi có thể trốn thêm vài ngày, nhưng Trường Yên sẽ không còn nữa đâu.”
Hạo hỏi:
“Nếu chúng tôi quy hàng thì sao?”
Viên thiên hộ đáp:
“Người không chống thì giữ mạng. Nhà không giấu binh khí thì không đốt. Đại quân không ở lại lâu. Đấy là quân lệnh.”
Dị Nhân cười nhạt:
“Ngươi bảo ta lấy mạng cả Trường Yên cược vào một câu nói sao?”
Viên thiên hộ nhìn thẳng vào chàng:
“Không. Anh Quốc công bảo ngươi hãy suy nghĩ thật kỹ rồi tự ra quyết ra định.”
Hắn xoay người xuống núi. Đi được vài bước, viên thiên hộ dừng lại rồi nói:
“Hạ Hầu Giai cho các ngươi tận bốn năm nhưng Anh Quốc công chỉ cho các ngươi một đêm thôi. Cố mà suy nghĩ cho thấu đáo!”
Tiếng vó ngựa xa dần. Dị Nhân đứng lại bên phiến đá, hai tay ôm tấm lụa đẫm máu. Dưới chân núi, tiếng trống đại quân vang lên từng hồi, đều đặn như tiếng đếm ngược.