Hồi 10 - Hạ
Đêm xuống, Minh Hải và Trần Nguyên Thúy men theo lạch nước ra bãi Lau Sậy. Bùn còn mới dấu vó ngựa. Dưới những thân lau gãy rạp, Khoa nằm nghiêng, một bàn tay cắm sâu trong đất như đến phút cuối vẫn cố bấu lấy con đường chạy trốn. Mũi tên đã bị quân Minh rút đi, nhưng những vết thương thì còn đó. Chiếc áo vá vốn chẳng bao giờ lành lặn nay không nhận ra được màu cũ.
Minh Hải lao tới, quỳ sụp bên bạn. Gã luồn hai tay dưới thân Khoa, định nhấc lên. Một tiếng nấc nghẹn bật ra. Gã khựng lại. Những vệt máu đã đông lẫn vào bùn, thân thể người nằm xuống không còn nguyên vẹn để gã có thể ôm lên như thuở hai người vẫn dìu nhau trở về sau trận đánh. Xa xa, ánh đuốc tuần đêm bắt đầu quét qua rặng lau.
Nguyên Thúy quỳ xuống, tháo chiếc khăn đội đầu phủ lên mặt Khoa. Lão vuốt lớp vải phẳng lại bằng những ngón tay đã run vì tuổi tác. Hai người không thể đưa di hài ra khỏi bãi lúc ấy. Họ nhặt chiếc nón mê, con dao găm gãy và một nắm đất thấm máu, rồi lần theo lạch nước trở về. Trước khi rời đi, Hải ngoái lại. Giữa biển lau bạc trắng, Khoa ở lại một mình, nhỏ bé đến tàn nhẫn.
Trước cửa động Sóc, các nghĩa binh xếp đá thành một ngôi mộ gió. Đêm thường ngày, chỗ ấy là nơi Khoa ngồi xổm, vừa vá nón vừa kể những chuyện trên đường do thám, kể đến chỗ buồn cười thì tự cười trước. Đêm nay, không ai ngồi vào chỗ trống ấy.
Nguyễn Phụ mang tới nắm cơm nướng để dành. Gã bẻ lấy phần cháy giòn nhất, đặt bên vành nón rồi cúi đầu. Trương Thị Ngọc tháo sợi dây vải đen buộc tóc, quấn chặt quanh cán dao gãy. Đôi tay từng chèo thuyền giữa mưa tên không hề run; đến nút buộc cuối cùng, nàng phải làm lại ba lần.
Minh Hải mở vò rượu, nghiêng xuống đống đá. Rượu thấm vào đất nhanh đến mức gã chưa kịp đổ xong đã chẳng thấy vệt ướt đâu. Gã giữ chiếc vò lơ lửng giữa không trung, cuối cùng ném nút bần đi, uống nốt phần còn lại. Gã muốn chửi Khoa, muốn mắng đứa chết trước không đợi anh em, nhưng cái miệng quen gào thét giữa trận địa chỉ còn bật được một tiếng gọi đứt quãng.
“Khoa...”
Không có câu nói đùa nào đáp lại.
Trần Nguyên Thúy ngồi xuống cạnh chiếc nón. Lão nhớ cái gã ăn mày ngày trước ở bến Đại Hoàng, vừa giả làm phu xúc phân ngựa vừa cố tình lấy cán xẻng chọc vào chân lão để phá ám hiệu. Bao năm nằm vùng, lão đã học được cách giữ khuôn mặt trơ như đá trước đủ thứ hiểm nguy. Vậy mà chỉ nhìn vành nón sờn, lão phải quay mặt vào vách hang rất lâu.
Phạm Tung đem cuốn sổ đinh tới. Lão tìm tên Phan Văn Khoa giữa những hàng chữ chen chúc, thấy phần quê quán bỏ trống từ ngày ghi sổ. Dưới tên chỉ có mấy lời nhận xét viết vội: giỏi cải trang, chân nhanh, mắt tinh, nói nhiều. Ngòi bút mực đỏ dừng giữa trang. Mỗi lần có người chết, lão vẫn gạch tên họ, sổ mới còn phân biệt được người sống với người đã khuất. Nhưng đến cái tên ấy, lão cứ ngồi mãi, tưởng như chỉ cần chậm một chút thì người bị gạch vẫn còn có thể chạy về từ trong sương.
Sau cùng, một vệt đỏ xéo qua ba chữ Phan Văn Khoa.
Dị Nhân đứng phía ngoài vòng người. Tấm lụa điều trên tay chàng đã được nhúng nước, những mảng máu đen vẫn bám chặt vào từng đường chỉ vá. Mới sáng nay, Khoa còn chống nạnh xoay một vòng dưới hẻm Đá Trắng, hỏi mọi người trông mình có ra dáng quý nhân không. Tiếng cười khi ấy vẫn như còn mắc đâu đó trên trần động, nhưng chàng không sao tìm lại được.
Chàng bước tới, đặt tấm lụa bên chiếc nón. Đỗ Túc vừa tỉnh ngủ, lạch bạch chạy khỏi vòng tay mẹ. Thấy chiếc nón quen thuộc, thằng bé chực cúi xuống nhặt, miệng gọi tên người vẫn thường bế nó. Ngân vội ôm con lại. Túc vùng vằng một lúc rồi ngơ ngác nhìn người lớn, không hiểu vì sao hôm nay chẳng ai chịu nói cho nó biết Khoa đang ở đâu.
Dị Nhân khuỵu xuống bên mộ. Bàn tay chàng đặt lên vành nón, những đường lá rách cứa nhẹ vào đầu ngón tay. Trước mặt là kỷ vật của kẻ đã mặc áo đỏ chạy ngược hướng căn cứ để đổi lấy cho chàng vài chén trà đường sống. Sau lưng là những người Khoa cứu được. Chàng muốn nói một lời cho xứng với cái chết ấy, nhưng mỗi khi hé miệng lại chỉ nghe tiếng gió lọt qua cửa động.
Đầu Dị Nhân cúi thấp. Rất lâu sau, chàng mới thốt được:
“Ta đưa mọi người về rồi, Khoa ạ.”
Bên cạnh, đôi vai rộng của Minh Hải chợt rung lên. Gã đứng phắt dậy, quay lưng đi vào bóng tối. Không một ai gọi gã lại. Từ chân núi, tiếng trống quân Minh vọng lên từng hồi. Trên mộ gió, chiếc nón mê nằm im, phần chóp rách hướng về lối ra như vẫn đợi chủ nhân đội nó lên một chuyến nữa.
* * *
Trong ngách đá lớn, những người còn lại ngồi quanh phiến bản đồ của Đỗ Sán. Đỗ Dị Nhân đã cho gọi tất cả đến để bàn về việc quy hàng. Cuộn tối hậu thư đặt ngay giữa những đường núi ngoằn ngoèo. Mép giấy mang dấu niêm của Anh Quốc công đỏ chói dưới ánh lửa. Giờ Ngọ ngày mai, một tờ giấy mỏng ấy sẽ thành lưỡi đao đặt trên cổ mười hai làng.
Minh Hải đứng sát cửa động, không chịu ngồi. Gã còn nguyên mùi rượu trên áo. Vừa nghe nhắc chuyện giao binh khí, gã đập bàn tay xuống vách đá, quả quyết vẫn còn những hẻm hiểm đủ sức chôn quân Minh. Mấy nghĩa binh bên ngoài nghe thấy, lập tức ngẩng đầu. Họ đã quen nhìn gã xung trận; một lời của Hải đủ làm những người còn sức cầm giáo thấy máu nóng trở lại.
Trương Thị Ngọc trải bản đồ, lấy đầu ngón tay chặn lần lượt các bến sông và cửa núi. Nàng từng mất nhiều anh em trong những lần phá xích Đại Hoàng; không ai có thể bảo nàng sợ chết. Nhưng phía dưới những con đường nàng chỉ là nhà cửa, ruộng lúa, chuồng trâu và những đứa trẻ chưa kịp học chạy. Muốn rút vào núi, nghĩa quân phải đi qua các cửa hẹp. Muốn phá vòng vây, họ phải bỏ những người ấy lại phía sau.
“Giết được toán tiền quân rồi thì sao?” Ngọc hỏi.
Hải không trả lời. Gã nhìn về phía đống đá ngoài cửa, quai hàm bạnh ra. Chuyện một người chết gã còn có thể trả bằng máu. Nhưng lấy gì trả cho cả mười hai làng nếu ngày mai lửa tràn qua đồng?
Hạo đặt bản đồ đường ngầm xuống cạnh tờ tối hậu thư. Y đã tính các ngả suốt buổi chiều. Lối phía Bắc bị ngựa canh, đường nước bị chặn, khe ngầm qua Phụng Hóa quá hẹp. May lắm chỉ vài chục người khỏe mạnh thoát được trước rạng sáng; người già, đàn bà, thương binh và trẻ nhỏ không thể theo kịp. Hạo nói xong thì gấp bản đồ lại. Không ai hỏi y những người bị bỏ lại sẽ ra sao.
Bá Liêm ngồi thẳng lưng bên bàn. Khi nghe hai chữ quy hàng, lão nhìn bài vị Đặng Quốc công ở góc động, chòm râu khẽ rung. Trần Nguyên Thúy cũng ngước lên. Cả đời lão đã qua dưới bóng cờ nhà Trần; cái tin Trùng Quang Đế bị bắt chưa nguôi, nay lại phải chứng kiến những người cuối cùng ở Trường Yên tự cuộn cờ. Lão đưa tay lên mái tóc đã bỏ trống chiếc khăn đội đầu, rồi đặt hai bàn tay lên gối, nắm chặt đến bạc các đốt tay.
“Cậu chọn giữ dân, lão không trách,” Nguyên Thúy nói với Dị Nhân. “Nhưng bảo lão cúi đầu trước cờ Minh thì lão không làm được.”
Dị Nhân nhìn vị trưởng bối đã cùng mình đi qua những ngày đầu dựng nghĩa. Chàng không giữ lão lại. Cái gật đầu của chàng khiến Ngân ngồi phía sau khẽ siết Đỗ Túc vào lòng. Nàng hiểu, trước khi sáng, mái nhà bằng đá này sẽ bắt đầu mất thêm những người thân yêu dù không ai phải chết.
Nguyễn Phụ từ đầu chỉ ngồi sát Dương thị. Nghe mọi người tranh cãi, gã vươn bàn tay to bè che lấy bàn tay vợ, bỗng nói nhỏ hơn thường lệ:
“Đại ca đi đâu, ta theo đó. Nhưng ta không muốn nàng chết.”
Dương thị không khóc. Nàng chỉ nắm chặt lại tay chồng. Trong động có người từng thấy Nguyễn Phụ xông giữa mưa tên không chớp mắt. Chưa ai thấy gã phải cúi mặt lâu đến thế trước một câu nói của chính mình.
Phạm Tung mở cuốn sổ đinh, đẩy tới trước Dị Nhân. Những cái tên người chết bị gạch đỏ nằm chen với tên người còn sống. Có trang viết dày đến mép. Có trang giữa hai dòng chỉ còn chỗ trống cho một cái tên mới nhập quân rồi cũng đã mất. Cuối cuốn, lão kẹp một tờ ghi số thóc còn trong kho và danh sách những người không đi nổi nếu phải bỏ núi.
“Lão phu không còn mưu nào đưa tất cả ra khỏi đây,” lão nói.
Câu ấy khiến gian động lặng đi hơn bất cứ lời khuyên nào. Phạm Tung, người từng tìm được đường sống từ những hẻm đá tưởng như đã bịt kín, lần đầu tiên thừa nhận mình hết kế.
Dị Nhân nhìn từng người. Hải nghiến răng đến nổi gân hai bên thái dương. Ngọc rũ bàn tay xuống mép bản đồ. Bá Liêm khép mắt. Hạo đứng chờ, im lặng đến khó đoán. Phụ vẫn nắm tay Dương thị. Ngân không lên tiếng; đứa bé trong lòng nàng thiếp đi, hơi thở mỏng và đều.
Đêm đã quá nửa. Ngoài cửa động, tiếng trống giặc bỗng dồn ba hồi rồi im. Dị Nhân đưa tay giữ cuốn sổ đinh trước mặt. Chàng bảo mọi người lui xuống, chỉ nói sẽ quyết trước khi trời sáng. Không ai tranh cãi gì thêm. Những bóng người lần lượt rời ánh lửa, để lại trên vách đá khoảng tối mà họ vừa ngồi.
* * *
Đến lúc chỉ còn một mình, Dị Nhân vẫn không động vào tối hậu thư. Chàng nhìn phiến đá nơi Đỗ Sán từng trải bản đồ cho hai anh em, nhìn dấu đao chém trên cột đá từ trận động Sóc, nhìn chỗ Khoa thường ngồi vá chiếc nón mê. Những dấu vết ấy đã ở đây qua bao mùa đói rét. Sáng mai, dù chàng chọn thế nào, tất cả sẽ không còn như cũ.
Có lúc Dị Nhân đưa tay về phía thanh đoản đao. Chàng vẫn nhớ rất rõ tiếng người từng hô tên mình dưới lá cờ đỏ, những lúc tưởng chỉ cần kiên gan thêm một trận nữa là giữ được cả quê hương. Nhưng ngoài kia, quân Minh đã đưa những cỗ hỏa khí đến ngay trước mái nhà của dân. Trận đánh ngày mai không còn chỉ là chuyện của những người đã thề sống chết với chàng.
Trong ngách ngủ, một đứa trẻ trở mình khóc. Tiếng ru của người mẹ thấp thoáng qua vách đá. Dị Nhân nhìn cuốn sổ, lần theo những dòng tên đến vệt mực đỏ mới gạch tối nay. Rồi chàng lấy bài vị Đặng Tất đặt ngay ngắn lại, vuốt phẳng tấm lụa đã nhuộm máu Khoa.
Chàng chợt nhớ phụ thân. Chín tháng Đỗ Sán chịu tiếng hàng giặc, chàng đã nhìn ông bằng đôi mắt lạnh lùng của kẻ nghĩ mình chưa từng biết sợ. Đến đêm nay, cái nhìn ấy trở về như một món nợ không còn người để trả.
Dị Nhân cảm thấy nặng trĩu tâm can. Một lời thề còn nguyên; một đoàn người thì đang đứng trước vực. Chàng ngồi đến khi ngọn đèn chỉ còn một chấm lửa, rồi đứng dậy. Khi bước qua ngạch cửa, chàng phải vịn vào vách đá mới giữ được thăng bằng.
Phạm Tung và Hạo vẫn đợi bên ngoài. Dị Nhân nhìn họ, giọng khản đi sau một đêm thức trắng:
“Đánh thức mọi người. Trời sáng, ta xuống núi nhận hàng.”
Hạo cúi đầu lĩnh mệnh. Phạm Tung nhắm mắt một thoáng, như người vừa nghe tiếng cửa đá khép lại sau lưng. Trong chỗ sâu nhất của động, lá cờ “Phù Trần Diệt Minh” vẫn cuộn bên vách. Không một luồng gió nào chạm tới, vậy mà mép vải cứ rung nhẹ trong ánh đèn tàn.
* * *
Trước lúc mặt trời lên, toàn bộ nghĩa quân được gọi ra trước động Sóc. Những chiếc nạng chống lẫn giữa giáo tre; những cánh tay mất bàn tay giấu trong ống áo rộng. Chưa đầy một trăm người có thể cầm binh khí. Đã có thời chỗ sân đá này chật ních hơn năm trăm nghĩa binh, mỗi lần nổi trống tụ quân là vách núi dội lại như sấm. Giờ chỉ tiếng người ho vì lạnh cũng nghe rõ.
Dị Nhân bước lên nền đá cũ, nơi chàng từng nhận tấm lụa điều trước thi hài Đỗ Sán. Trên người chàng không có màu đỏ ấy. Chỉ chiếc áo nâu đã bạc và thanh đoản đao sứt lưỡi vẫn nằm bên hông.
Chàng thông báo nghĩa quân sẽ giải tán, quân khí phải nộp trước giờ Ngọ, mọi tội của những năm chống Minh do chàng đứng ra nhận. Có người bật khóc ngay khi nghe đến chữ giải tán. Một nghĩa binh mất hai ngón tay đưa bàn tay ấy lên che mặt. Một người khác tháo sợi dây buộc chuôi giáo, vuốt mãi đoạn thân tre như vuốt một vật vừa chết.
Một gã trai hỏi những người đã hy sinh có bị xem là chết uổng không. Dị Nhân nhìn xuống nền đá, nơi vẫn còn dấu cọc cờ cũ.
“Ta không biết làm sao trả đủ cho người đã khuất,” chàng đáp. “Ta chỉ còn giữ được những người đang đứng đây.”
Câu nói chưa dứt, Minh Hải đã rút thanh trường đao, cắm phập xuống đất. Gã đứng thẳng giữa vòng người, mắt đỏ quạch vì cả đêm không ngủ.
“Đệ không nhận giặc Minh là chủ.”
Dị Nhân bước xuống đối diện Hải. Họ đã cùng nhau vượt những khúc sông đầy tên, cùng rút khỏi động Sóc giữa xác người, cùng đói đến phải bẻ đôi củ mài. Nhưng lúc ấy, khoảng cách giữa hai người chỉ một sải tay mà không ai biết phải bước qua bằng cách nào.
“Ta không bắt đệ nhận,” Dị Nhân nói.
Minh Hải giật thanh đao khỏi đất, tra vào vỏ bằng một động tác thô bạo. Gã không bỏ đi; cũng không đáp rằng mình đã thuận. Ngọc đứng gần đó nhìn theo, hiểu cái im lặng ấy chưa phải cuối cùng.
Nguyên Thúy từ cuối hàng bước lên. Lão không mang hành lý ngoài một bọc nhỏ và cây gậy trúc. Ngân đưa Túc tới tiễn. Thằng bé níu tay áo ông Thúy, đòi ông ở lại kể chuyện như mọi tối. Lão cố mỉm cười, vuốt tóc đứa trẻ rồi nhìn Dị Nhân. Họ chắp tay với nhau thật sâu, không một lời oán trách. Khi bóng Nguyên Thúy khuất ở lối ngầm phía Bắc, Ngân vẫn đứng nhìn khoảng tối rất lâu, mặc cho Túc đã ngủ gục trên vai.
Dị Nhân dặn Hạo và Phạm Tung đem bản đồ đường ngầm, sổ ghi người từng theo nghĩa quân, bài vị Đặng Tất, chiếc nón Khoa và tấm lụa điều giấu trong hốc đá phía sau hồ nước sâu, qua một khe hẹp không liền với gian động chính. Miệng hốc được chèn đá kín đến mức người lạ khó biết nơi ấy từng có chỗ trống. Bản nộp cho quan phủ chỉ ghi hộ tịch, ruộng đất; không có lối thoát hiểm, không có danh sách những người từng cầm giáo.
Hạo đứng bên hồ ngầm, ôm chiếc nón mê trên hai tay. Khi Phạm Tung dời tảng đá cuối cùng vào chỗ cũ, cả hai nghe tiếng nước chảy đâu đó trong lòng núi. Những đồ vật ấy đã khuất mắt, nhưng chẳng người nào có cảm giác chúng đã chết.
* * *
Gần giờ Ngọ, cửa núi mở.
Giáo, đao, nỏ được bó thành từng gánh đưa xuống trước. Lá cờ “Phù Trần Diệt Minh” cuộn chặt, buộc vào gánh binh khí cuối cùng. Sau chúng là những người từng mang chúng. Không giáp trụ, không trống đồng, không lá cờ dẫn đầu. Dị Nhân đi trước, chuôi đoản đao quấn vải trắng. Phạm Tung ôm bản hộ tịch để giao cho quan phủ; cuốn sổ ghi tên nghĩa quân đã được giấu lại trong động. Phía sau chàng là Hạo, Phạm Tung, Ngọc, Minh Hải, Nguyễn Phụ, Bá Liêm và những nghĩa binh còn sức xuống núi. Ngân, Dương thị, trẻ nhỏ cùng thương binh tạm ở lại.
Hai bên đường, cửa các làng hé từng khe. Bàn tay đàn bà giữ chặt then. Mấy đứa trẻ đứng sau lưng cha mẹ, nhìn đoàn người áo nâu đi qua như nhìn một đám tang không có quan tài. Có người từng đặt cơm cho nghĩa quân trước cửa nhà, nay lặng lẽ quỳ xuống khi Dị Nhân đi ngang. Có người quay mặt. Một người đàn ông mất con trong trận động Sóc nắm cục đất ném ra đường; đất vỡ ngay dưới chân chàng. Dị Nhân không dừng, cũng không tránh.
Ngoài đồng, đại quân Minh xếp thành những khối dài tới bờ sông Đại Hoàng. Một tiếng tù và vang lên, hàng ngàn mũi giáo nghiêng về cùng một phía. Tiếng giáp chạm nhau chạy dọc đội hình như mặt nước rợn sóng. Những cỗ xe hỏa khí đậu ven lối làng; chỉ cần một hiệu lệnh, chúng có thể biến những mái tranh nhìn thấy từ đây thành đống than đen. Dưới đại kỳ Anh Quốc công, Trương Phụ ngồi trên đài gỗ, bình thản chờ.
Đoàn người dừng lại. Một viên thông ngôn bước ra, xướng tên thủ lĩnh Trường Yên và ra lệnh quỳ nhận tội. Minh Hải tiến nửa bước; bàn tay Ngọc lập tức khép lại trên cổ tay gã. Dị Nhân đưa một bàn tay ra sau, ra hiệu tất cả đứng nguyên.
Chàng tháo thanh đoản đao đã theo mình từ buổi đầu dựng cờ. Lưỡi thép sứt những vết nhỏ, chuôi gỗ láng bóng bởi bao mùa mưa nắng. Dị Nhân đặt nó xuống trước mặt. Giữa biển người khoác giáp, tiếng thép chạm đất ngắn ngủi và trần trụi.
Rồi chàng quỳ.
Đầu gối phải chạm đất trước. Đầu gối trái hạ xuống sau. Không có đất đá nào sụp đổ, cũng không có tiếng sấm báo điều dữ. Chỉ là một người đàn ông quỳ trên nền đất khô. Nhưng phía sau chàng, gần một trăm người đứng chết lặng. Họ đã quen nhìn tấm lụa đỏ đi trước hàng quân, quen thấy người ấy đứng lên sau mỗi lần ngã. Lần đầu tiên, họ phải nhìn lưng chàng thấp hơn đầu gối của một kẻ thù.
Trương Phụ hỏi người dưới sân có nhận tội chống quân Minh hay không. Dị Nhân đáp có. Viên thông ngôn vừa dịch xong, sự im lặng đã trùm xuống cả hai hàng quân. Trương Phụ nhìn những người đứng sau chàng, nhìn đống vũ khí được đặt ngay ngắn, rồi hỏi chàng muốn xin điều gì.
“Xin giữ mạng cho dân mười hai làng,” Dị Nhân nói. “Tội do tôi nhận.”
Trương Phụ không trả lời ngay. Hắn nhìn tấm vải trắng quấn chuôi đao rồi nhìn về những mái nhà thấp thoáng sau rặng tre. Dị Nhân nghe rõ tiếng một con ngựa phì hơi, tiếng gió lùa qua mũ giáp của người đứng gần. Chàng đã đặt cả một vùng đất vào mấy lời vừa nói, vậy mà câu trả lời của kẻ cầm quyền sinh sát vẫn chưa đến.
Cuối cùng, Trương Phụ ra hiệu đọc quân lệnh. Người đã giao đủ binh khí thì được về làm dân. Nhà cửa không tự tiện đốt phá. Quân đồn trú ở lại theo quan phủ; mọi tái phạm chống lệnh đều bị trị tội. Đại quân sẽ tiếp tục hành trình về Bắc. Những điều khoản được đọc bằng giọng khô khốc, xen tiếng gió đập vào cờ, nhưng dưới chân núi có người nghe đến câu giữ nguyên nhà cửa đã òa lên khóc.
Dị Nhân cúi đầu nhận lệnh. Chàng biết trước sự sống mà mình vừa giành được vẫn phải nằm dưới phép của kẻ chiếm nước, và những lời hứa giữa doanh quân có thể đổi khác. Nhưng hôm nay, đoàn người dưới đồng chưa bị đưa lên giàn hỏa khí. Hôm nay, trẻ con mười hai làng còn có thể trở về dưới mái nhà mình.
Một thân binh nhặt thanh đoản đao dâng lên. Trương Phụ rút khỏi vỏ, nhìn những vết sứt dọc lưỡi rồi tra lại. Hắn ném thanh đao xuống trước gối Dị Nhân.
“Giữ lấy. Từ nay dùng nó giữ yên vùng đất ấy.”
Dị Nhân nhận lại. Hai tay chàng từng dùng thanh đao này cắt dây trói cho dân làng, mở đường chạy khỏi hẻm đá, cùng anh em chống giặc. Từ hôm nay, kẻ thắng còn muốn chính bàn tay ấy giữ cho con đường hành quân của chúng được bình yên. Cổ họng chàng nghẹn lại, nhưng lời lĩnh mệnh vẫn bật ra, khàn và rõ.
Trương Phụ đứng dậy. Hắn dừng bên cạnh Dị Nhân, chỉ để lại một câu rằng ba ngày nữa phủ Kiến Bình sẽ định lại chức phận cho chàng ở đình Phúc Lộc. Rồi hắn bước đi. Một con người đã vây kín cả trời đất Trường Yên bỗng rời khỏi nơi ấy nhẹ như phủi bụi trên tay.
Mãi đến khi tiếng giáp sắt xa dần, Dị Nhân mới đứng lên. Hai đầu gối dính đất. Chàng quay lại. Minh Hải nhìn chàng bằng cặp mắt chưa bao giờ đỏ đến thế. Ngọc cúi xuống nhặt một gói vải rơi cạnh chân. Phạm Tung nép bản hộ tịch vào ngực. Không ai reo mừng vì thoát chết. Họ lặng lẽ đưa những người còn lại trở về núi, như sau một trận đánh mà chẳng người nào biết nên tính là thắng hay bại.
* * *
Chiều ấy, đại quân Trương Phụ nhổ trại. Trên đường cái, lớp cờ nối tiếp lớp cờ, xe ngựa nghiến đất suốt nhiều canh giờ. Hơi bụi vàng cuốn lên sau đoàn quân, phủ mờ cả những hàng cau và mái đình. Khi toán quân cuối cùng khuất sau rặng tre, người làng vẫn đứng trong nhà, như chưa tin mình được sống qua ngày ấy.
Ở sân đình làng Gạo, đám lính lưu lại đem lá cờ “Phù Trần Diệt Minh” vừa tịch thu quăng vào đống củi. Ngọn lửa bắt mép vải nhanh đến lạ. Những chữ từng được thêu trong ánh đuốc tụ nghĩa lần lượt quăn lại, đỏ rực rồi đen đi. Dị Nhân đứng trước ngọn lửa. Chàng nhớ ngày lá cờ ấy được dựng, hơn năm trăm người đã thề dưới chân núi; có những gương mặt đến giờ chàng vẫn thuộc, dẫu không còn một ai được gọi tên giữa sân đình.
Bá Liêm bước lùi, phải tựa vào gốc đa để khỏi khuỵu. Nguyễn Phụ đặt tay lên vai Dương thị, còn nàng đan những ngón tay vào bàn tay đầy sẹo của chồng. Trương Thị Ngọc nhìn những tàn tro bay lên như nhìn những chiếc thuyền từng bị xích sắt nghiền nát. Minh Hải đứng sát đống lửa, hơi nóng hắt vào mặt mà gã không nhúc nhích. Một tên lính Minh ném thêm củi vào, lửa phụt cao. Hải giật vai như định bước tới; Ngọc chỉ lặng lẽ đứng gần hơn.
Chẳng ai cứu lá cờ. Trên những mái nhà quanh sân, khói bếp chiều vẫn đang bốc lên. Tiếng chày giã gạo vọng từ phía làng Gạo. Một người mẹ cõng con chạy qua, chân trần dẫm lên nền đất còn dính tro, gọi chồng về ăn cơm. Những âm thanh ấy nhỏ bé đến mức ngày trước không ai để ý. Hôm nay, giữa mùi vải cháy, chúng khiến Dị Nhân thấy ngực mình đau như bị một lưỡi đao xoáy chậm.
Ngân đưa Đỗ Túc từ lối núi xuống. Thằng bé vùng khỏi tay mẹ, chạy tới ôm chân cha. Dị Nhân cúi xuống bế con, để mặc những vệt tro bám lên áo. Túc sờ lên vai chàng, tìm thứ màu đỏ vẫn thường nhìn thấy.
“Cha ơi, áo đỏ của cha đâu rồi?”
“Cha cất đi rồi.”
Thằng bé nhìn ngọn lửa, rồi lại sờ lên vai cha.
“Bao giờ cha mặc lại?”
Dị Nhân ôm con chặt hơn. Chàng không trả lời. Qua vai Túc, chàng nhìn về ngọn núi đang sẫm dần trong hoàng hôn. Ở một nơi kín sâu sau hồ nước, tấm lụa điều của cha chàng vẫn còn; ngoài sân đình, lá cờ của chính chàng đã hóa tro. Ba ngày nữa, người ta sẽ khoác lên chàng một cái danh mới. Chàng không biết dưới cái danh ấy, mình còn giữ được bao nhiêu của ngày xưa.
* * *
Ba ngày sau, sương sớm trùm lên sân đình Phúc Lộc. Dưới mái đình rêu phong, cờ Minh dựng sát bàn án phủ vải đỏ. Một chiếc ấn đồng và cuộn văn thư đặt cạnh lư hương, sáng lên giữa đám gạch cũ xám màu. Trên xà ngang, lớp sơn mới quét lên nét chữ xưa đã nứt ra vài đường mảnh. Ai đứng xa không thấy. Ai bước tới gần thì vẫn đọc được phần chữ bị che lấp.
Từ tinh mơ, dân mười hai làng đã kéo đến. Hàng trăm con người đứng từ sân ra bờ ruộng, lặng lẽ nhường chỗ cho người già và trẻ nhỏ. Trong đó có kẻ từng vào sinh ra tử với Dị Nhân, có người từng nhận gạo của nghĩa quân, cũng có cả những gia đình chôn con dưới lá cờ Trường Yên. Người ta đến vì muốn nhìn tận mắt điều sẽ xảy ra với người từng được gọi là Đỗ Động chủ. Có người mong chàng sống. Có người mong chàng chịu nhục cho đáng những mất mát của họ. Không ai biết lúc nào nên cất tiếng.
Nguyễn Bá Liêm đọc bài sớ thần phục trước tiên. Những hàng chữ Hạo chép trên giấy ngay ngắn, kính cẩn, mỗi câu như một nhát cưa đi qua giọng lão. Đọc hết, Bá Liêm khép cuộn giấy, cúi đầu lui về một bên bàn án. Bàn tay lão khuất trong ống áo run đến nỗi ông phải giữ lấy cổ tay kia mới có thể đứng thẳng. Lão chợt nhớ Đỗ Sán đã ngã xuống sau bao tháng chịu tiếng hàng giặc; giờ đến lượt người từng cùng con ông dựng cờ đọc sớ xin hàng.
Tiếng xôn xao ở cuối sân dội lên rồi nhanh chóng tắt đi. Đỗ Dị Nhân đã đến.
Chàng vận áo lam cũ, không mang đao, không khoác lụa điều. Bước chân chàng đi giữa hai hàng giáo Minh, nhưng ánh mắt vẫn nhìn thẳng về phía trước. Hạo đi sau một bước; tiếp đến Minh Hải, Ngọc, Nguyễn Phụ, Dương thị và Phạm Tung. Không còn ai mặc giáp. Những bàn tay từng nắm chuôi gươm giờ trống không. Thế mà mấy tên lính đứng hai bên vẫn nhìn theo, vô thức siết cán giáo mỗi khi một người trong bọn họ đi qua.
Ngân đứng giữa đám đông, ôm Túc trước ngực. Thằng bé vẫy tay khi thấy cha, định gọi lớn. Nàng khẽ áp môi lên tóc con, giữ nó lại. Dị Nhân đi ngang qua vợ con, đôi mắt dừng nơi ấy lâu hơn một nhịp rồi tiếp tục bước lên bậc gạch.
Phía sau bàn án là Vương Chí Nhân, Tri phủ Kiến Bình. Đây là lần đầu Dị Nhân gặp lão. Bộ quan phục đỏ thẫm chỉnh tề, khuôn mặt nho nhã và giọng nói tiếng Việt rành rọt làm lão khác hẳn đám tướng cầm đao ngoài doanh. Vương Chí Nhân bước xuống một bậc đón chàng, nở nụ cười hòa nhã, gọi bằng hai tiếng “Đỗ Tổng binh” trước cả khi văn thư được đọc. Lão giữ lễ rất đủ, đủ để ai đứng xa cũng thấy quan Thiên triều đang trọng đãi người vừa quy phục.
Một viên lại dịch mở văn thư. Theo lệnh quân và phép phủ Kiến Bình, Đỗ Dị Nhân được bổ nhiệm làm Tổng binh Trường Yên, chịu sự quản hạt của Tri phủ; cựu nghĩa quân trở về làm dân, cấm mang binh khí, tụ tập chống lệnh. Họ Đỗ từ nay được ấn để trông coi mười hai làng, nhưng mọi sổ sách và việc binh đều đặt dưới mắt nha môn. Những người đứng gần nghe tiếng ấn đồng gõ xuống mặt bàn một cái khô khốc. Giữa sân không ai đáp lời chúc mừng.
Vương Chí Nhân quay sang Dị Nhân, ôn tồn mời chàng quỳ thụ phong.
Dị Nhân đưa mắt qua sân. Bên mép gạch có một người đàn bà đeo khăn tang, chồng nàng chết trong lần phá xích Đại Hoàng. Nàng nhìn chàng không chớp mắt, vẻ mặt cứng lại giữa oán giận và đau xót. Cách đó vài bước, một cựu nghĩa binh cụt tay đứng bằng đôi chân run rẩy. Lão thợ rèn làng Gỗ đứng lẫn vào đám trẻ. Một bà già từng lén gửi cho nghĩa quân nửa thúng gạo chống gậy ngay đầu hàng. Những người ấy không có mặt trước trướng Trương Phụ ba ngày trước. Họ chỉ nhìn thấy cái quỳ của chàng hôm nay.
Dị Nhân khép tà áo, hạ đầu gối xuống nền gạch sân đình.
Tiếng vải chạm gạch rất khẽ. Chàng vẫn nghe nó. Đầu gối từng bám đá leo dốc, từng quỳ bên xác huynh đệ, từng đứng vững trước trận động Sóc, giờ nằm trên nền gạch lạnh ngay giữa quê hương. Sau lưng chàng có tiếng ai nấc lên. Bàn tay chàng đặt trước gối, ngón cái chạm đúng vết chai do chuôi đao để lại.
Chàng cúi người nhận lễ. Vương Chí Nhân lập tức bước xuống, đỡ lấy cả hai cánh tay, không để trán chàng chạm đất. Lão đỡ chàng đứng lên, nhưng vẫn giữ chặt hai cánh tay ấy. Giọng lão vang rõ khắp sân: Anh Quốc công đã chấp nhận sự quy phục; hôm nay là lễ thụ chức, không phải buổi xử tội. Triều đình hiểu Dị Nhân chịu nhục vì thương dân, nên đặc cách miễn đại lễ và để chàng tiếp tục giữ mười hai làng bình yên.
Một số người đứng ngoài ngỡ ngàng ngẩng lên. Viên Tri phủ vừa cứu lấy cái dập đầu của Đỗ Dị Nhân trước mắt họ; có bà cụ đã chắp tay tạ ơn. Chỉ một động tác ấy, lão khiến bàn tay mang ấn quan trông như bàn tay đã gìn giữ sự sống của Trường Yên.
Dù đã đứng dậy, Dị Nhân vẫn không thể nhích khỏi chỗ ấy. Chàng nhìn vào đám đông phía sau vai viên Tri phủ, nơi những khuôn mặt từng tiễn người vào rừng đang lặng đi giữa hai hàng lính giặc. Chàng nghe rõ tiếng Đỗ Túc gọi cha ở đâu đó, nghe tiếng chân người lạo xạo trên nền gạch. Cái quỳ này đáng lẽ chỉ mình chàng chịu. Trước khi cúi xuống, chàng đã nghĩ như thế.
Một tiếng động nặng nề bỗng vang lên phía sau.
Minh Hải đã quỳ.
Gã quỳ ngay trên nền gạch, hai đầu gối nện mạnh đến nỗi sương đọng quanh kẽ đá bắn lên vạt áo. Hai bàn tay gã nắm chặt trước ngực, những vết chai cũ trắng bệch. Gã không nhìn Vương Chí Nhân, cũng không cúi đầu trước lá cờ Minh. Mắt gã hướng thẳng vào bóng lưng người anh cả. Ba ngày trước, gã đứng cứng như cột đá giữa doanh Trương Phụ. Sáng nay, lòng gã vẫn chưa chịu hàng. Nhưng nhìn một mình Dị Nhân giữa sân đình, gã không sao cứ đứng được.
“Đại ca,” Hải gọi, giọng vỡ ra. “Đừng gánh lấy một mình.”
Trương Thị Ngọc bước tới cạnh gã. Nàng từng nhìn những chiếc thuyền của mình chìm dưới làn tên, từng tự trách đã không cứu nổi anh em. Nàng quỳ xuống, không nói câu nào. Nguyễn Phụ theo sau, hạ thân hình to lớn xuống nền gạch, một bàn tay vẫn giữ tay Dương thị. Người đàn bà quỳ cạnh chồng; khăn trùm đầu của nàng chạm đất. Lần đầu tiên từ khi quân Minh tới, gã dã nhân không cầm giáo, không che chắn trước ai. Gã chỉ chọn quỳ bên người đã gánh phần nguy hiểm ấy thay cho mình.
Bá Liêm, vị nho sĩ từng giữ từng chữ trên lá cờ khởi nghĩa, nay vừa phải đọc sớ thần phục bằng chính giọng mình. Lão chắp hai tay, chầm chậm quỳ xuống. Lưng vẫn thẳng, còn hai mắt đã đẫm nước. Phạm Tung quỳ bên cạnh, đặt bản hộ tịch lên đầu gối, cẩn thận như sợ làm rơi tên tuổi những người mà họ đang cố giữ lại.
Hạo là người cuối cùng bước lên. Trong một khoảnh khắc, mắt y dừng trên chiếc ấn đồng đặt cạnh văn thư, rồi chuyển sang bàn tay Vương Chí Nhân vẫn đang giữ chặt cánh tay anh trai. Hạo cúi đầu, quỳ xuống cạnh những người còn lại. Không ai biết giữa lòng y lúc ấy đang ngổn ngang những gì.
Những người gần bàn án chưa kịp hiểu thì từ mép sân lại vọng lên một tiếng bịch. Một cựu nghĩa binh cụt tay đã hạ gối. Anh dùng cánh tay còn lại chống xuống gạch để khỏi ngã. Người từng cùng anh khiêng xác đồng đội ở động Sóc tiến tới đỡ, nhưng đỡ một lúc rồi chính mình cũng bất giác quỳ gối.
Một người đàn bà bế con đứng sát cột đình cúi đầu. Một bác nông phu bỏ chiếc nón đang cầm xuống đất rồi quỳ theo. Ngoài bờ ruộng, người ta còn chưa nhìn rõ ai đã quỳ trước. Chỉ thấy lớp người trước mặt đang hạ thấp, để lộ bóng người áo lam ở giữa sân. Một tiếng sụt sùi vang lên. Rồi thêm nhiều tiếng nữa, lan qua khoảng sân vốn im như nín thở.
Mười người. Rồi những hàng người đứng liền nhau. Rồi một mảng áo nâu từ sân đình lan tới tận bờ ruộng đồng loạt thấp xuống.
Không có trống thúc, không có tiếng hô hiệu lệnh. Những đầu gối chạm gạch, chạm đất, chạm cỏ ướt vang lên thưa rồi dồn, như mưa đầu mùa gõ lên hàng trăm mái nhà. Người từng nhận nắm gạo cứu đói, từng giấu thương binh dưới sàn, từng mất anh em trong cuộc chiến, mỗi người mang theo một điều không thể nói. Họ không nhìn bàn ấn. Họ nhìn người ở giữa sân và những người đã quỳ bên chàng.
Không phải ai cũng quỳ. Người đàn bà mất chồng bên sông Đại Hoàng vẫn đứng, siết chặt đứa trẻ trong tay. Một ông lão đã chôn hai con không rời nổi đôi chân chống gậy. Có người quay mặt khóc. Có kẻ giận dữ bỏ đi. Sân đình không xóa được những món nợ máu chỉ bằng một buổi sáng. Nhưng ngay cả những người không quỳ cũng không còn nói được một câu nào.
Dưới gốc đa, mấy đứa trẻ thôi đùa nghịch. Chúng nhớ hồi các chú dưới núi trở về, Khoa vẫn hay lôi chiếc nón mê che mặt nhát ma chúng, Minh Hải thì gầm lên dọa rồi bật cười. Hôm nay chú Khoa không có ở đây. Chú Hải đang quỳ. Một đứa trẻ níu áo bạn, thì thào hỏi sao người khỏe nhất làng lại phải cúi xuống. Bạn nó chỉ lắc đầu. Chẳng đứa nào hiểu hết, nhưng tất cả đều im lặng.
Ngân đứng giữa những cái lưng cúi xuống, ôm con thật chặt. Nàng không quỳ; nàng muốn Túc nhìn thấy cha. Đứa bé đã không còn vùng vẫy. Nó nhìn quanh, rồi nhìn Dị Nhân ở giữa sân, hai bàn tay níu chặt cổ áo mẹ. Khi chàng ngẩng lên, giữa hàng trăm khuôn mặt chỉ có đôi mắt con trai nhìn mình không oán trách, không đòi giải thích. Dị Nhân chợt không giữ nổi hơi thở. Môi chàng run lên, nhưng chàng vẫn đứng đó.
Vương Chí Nhân từ từ buông hai cánh tay Dị Nhân. Viên Tri phủ nhìn khắp sân. Hàng giáo nhà Minh vẫn dựng thẳng, cờ nhà Minh vẫn phủ bóng lên bàn án, chiếc ấn Tổng binh vẫn nằm đúng chỗ. Nhưng người dưới sân không còn nhìn về phía lão. Nụ cười của lão giữ được trên môi; đôi mắt thì không.
Dị Nhân xoay người khỏi bàn án. Trước mặt chàng, những người từng cùng mình dựng cờ, chịu đói, lội đầm và chôn bạn đang quỳ lẫn với dân mười hai làng. Bấy lâu chàng sợ cái quỳ của mình khiến họ cúi đầu theo giặc. Đến giây phút ấy, chàng mới nhìn thấy họ đã chọn quay mặt về phía nào.
Một luồng nóng buốt dâng từ ngực lên cổ. Chàng muốn gọi tên từng người như ngày đầu lập đội, muốn chạy xuống đỡ Minh Hải, Ngọc, Phụ, Tung, Liêm, Hạo, rồi đỡ hết những người ngoài bờ ruộng. Nhưng chàng chỉ có hai bàn tay, còn trước mặt là cả Trường Yên. Dị Nhân đứng bất động. Nước mắt chảy xuống gò má, lẫn vào vệt sương còn bám nơi tóc mai. Chàng không lau.
“Đứng lên đi,” chàng nói.
Minh Hải ngẩng lên. Gã nhìn Dị Nhân một lúc lâu, rồi tự chống tay đứng dậy. Ngọc đứng bên cạnh, Nguyễn Phụ đỡ Dương thị, Bá Liêm vịn vào đầu gối, Phạm Tung ôm sổ sát ngực. Hạo cũng đứng lên. Từ sau họ, những người vừa quỳ lần lượt gượng dậy, người này đỡ người kia, tiếng nạng gõ xuống gạch xen tiếng guốc và tiếng chân trần. Làn sóng áo nâu lại dâng lên, từng hàng, từng hàng, cho đến khi sân đình kín những con người đứng thẳng.
Không một tên lính Minh nào ra lệnh. Không có tiếng tung hô. Chỉ một khoảng lặng mênh mông phủ xuống, thứ im lặng của những người vừa chứng kiến điều họ sẽ mang theo đến hết đời.
Dị Nhân quay về bàn án. Chàng đưa hai tay nhận chiếc ấn đồng. Khối kim loại nhỏ nằm gọn trong lòng bàn tay, mát lạnh và nặng trĩu. Viên Tri phủ chúc mừng. Dị Nhân cúi đầu đáp lễ. Hôm ấy, chàng đã nhận danh Đỗ Tổng binh trước mắt thiên hạ. Nhưng khi quay lại, thứ đầu tiên chàng thấy không phải những hàng giáo, cũng không phải chiếc ấn. Đó là những bàn tay dân làng còn đưa ra đỡ nhau đứng lên.
Buổi lễ kết thúc. Đám đông dạt hai bên nhường lối. Người đã quỳ, người chưa quỳ cùng nhìn đoàn áo nâu bước qua, không ai biết gọi họ là những kẻ thất trận hay những người vừa cứu lấy quê hương. Minh Hải đi gần cuối, bước chân nặng nề, không một lần ngoái nhìn lá cờ Minh. Bàn tay gã vẫn co chặt thành nắm đấm. Ngọc đi bên cạnh, lặng lẽ giữ cùng một nhịp chân.
Hạo theo anh ra đến cổng đình thì dừng nửa bước. Y ngoái nhìn chiếc ấn đã khuất sau bàn án rồi bước tiếp, đầu ngón tay vô thức miết lên mép tay áo. Phía sau, Vương Chí Nhân còn đứng dưới mái đình, lặng lẽ nhìn theo đoàn người đi xa.
Dị Nhân bế Đỗ Túc từ tay Ngân. Thằng bé tựa đầu lên vai cha, ngón tay lần tìm chỗ thường có tấm lụa đỏ rồi thôi. Qua cổng đình, chàng nhìn lên núi Tràng An. Giữa những tầng cây sẫm màu, cửa động Sóc chỉ còn như một nét đen nhỏ trên vách đá. Từ nơi ấy, chàng từng dẫn người đi, tưởng rằng chỉ có chết mới bắt mình ngừng bước. Giờ chàng sống, nhưng chưa biết sẽ phải giã biệt những gì để tiếp tục sống.
Gió đầu hạ thổi qua cánh đồng. Bên trong đình, một viên lại dịch gõ lên mặt bàn, thử độ rắn của chiếc hộp đựng ấn. Tiếng gõ khô khốc theo gió vọng ra. Ở cuối đoàn người, Minh Hải nghe thấy, bỗng bước nhanh hơn. Trên cao, những đám mây đen từ phía núi đang chậm rãi kéo tới, che mất vệt nắng cuối cùng trên bậc đá cũ.
Trường Yên đã sống qua giờ Ngọ.
Nhưng cái đêm phải trả cho sự sống ấy vẫn còn ở phía trước.
Nón mê còn gửi mây ngàn,
Áo điều khép lại muôn vàn đớn đau.
Một người chịu nhục cúi đầu,
Trăm người quỳ xuống, nỗi đau hóa thề.
- Hết hồi mười -