chương bốn: Hà Bá
- Hôm nay ngày mấy hở chị?
- Mùng sáu rồi cô ạ, còn bốn ngày nữa là đến.
- Chết chửa, mùng mười tháng mười vừa là tết cơm mới vừa là ngày sinh của lệnh bà. Chị em ta phải mau chóng sửa soạn thôi.
- Giời ạ, cô chỉ được cái khéo lo. Lệnh bà có bao giờ để tâm đến mấy ngày này. Rồi đồ lễ đám người trần dâng lên lệnh bà cũng đến lượt chị em mình hưởng thôi.
- Em thừa biết lệnh bà không quan tâm rồi, nhưng cô Huyền lại khác. Năm ngoái em bị cô Huyền nạt cho một trận chỉ vì quên đôi hài châu của lệnh bà, đến giờ tai hãy còn ong ong đây.
- Ừ, cô nói cũng phải. Cô Huyền vốn kĩ tính, thường ngày khắt khe với kẻ dưới chúng ta đã đành, phàm là chuyện liên quan đến lệnh bà thì càng không được phép sai lệch một li.
- Ơ kìa, chị nói kẻ dưới như chúng ta là thế nào? Chính ra cô Huyền cũng là phận hầu như chị em mình mà thôi. Chẳng qua chị ta theo hầu lệnh bà lâu nhất, được lệnh bà chiều chuộng nên mới sinh thói kiêu căng.
- Bậy nào, cô be bé cái miệng thôi. Những lời này chị em ta nói với nhau còn được, chứ để đến tai người khác thì không hay đâu.
Câu chuyện giữa hai thị nữ nọ lọt vào tai Dịu không sót tiếng nào. Có lẽ chúng thừa biết nhưng chẳng thèm quan tâm. Trong mắt hai đứa hầu nọ, chị là ma mới, lạ nước lạ cái, còn chúng là người cũ tinh ranh đủ đường. Chị vào đây ắt hẳn phải nhờ đến tay chúng dẫn dắt, làm gì có gan bép xép chuyện chúng bất kính với bề trên. Vả lại, qua mấy hôm quan sát, chúng biết tỏng chị là kiểu người lầm lì, lành như cục đất, bảo gì nghe nấy, không bao giờ cãi lại nửa câu. Bởi vậy, thây kệ có chị bên cạnh, chúng vẫn cứ hồn nhiên nói xấu kẻ khác như đang ở chốn không người.
Dịu ở lại chốn làng mây cung nước được bảy hôm. Mới bảy hôm mà chị ngỡ mình đã chôn thân nơi đây hơn mươi năm đằng đẵng. Trong bảy hôm ấy, tay chân chị được thảnh thơi nhưng đầu óc không khi nào ngơi nghỉ. Chị nghĩ về gia đình ở cõi trần, về thầy u và các em bên ngoại, về mẹ chồng và chồng mà lòng như lửa đốt. Bảy ngày rồi, thế nào hai bên nội ngoại cũng nhận ra chị mất tích mà sai người đi tìm chị. Liệu họ có gặp được bác lái đứng tuổi chở chị hôm ấy, liệu họ có hỏi được đám con gái trẻ ngồi cùng chị buổi đò để biết Hà Bá đã bắt chị xuống thuỷ cung? Họ có hiểu việc này là ngoài ý muốn hay lại ngờ chị bỏ trốn cùng chàng tình lang vốn chẳng hề tồn tại? Càng nghĩ chị càng sốt sắng, mà càng sốt sắng, chị lại đâm ra liều lĩnh lạ thường.
Kể từ lần gặp mặt nọ, chừng như phật lòng vì Dịu dám làm trái ý mình, cô Gấm không còn gọi chị đến hỏi han thêm bất cứ điều gì. Chị tìm Huyền, cánh tay phải của Hà Bá đương nhiệm, định bụng nhờ thị chuyển lời đến cô Gấm cho kẻ hèn này được diện kiến nàng lần nữa nhưng rồi cũng bị gạt phắt đi. Bí quá, chị đành phải tự tìm đường thoát cho mình. Nhiều bận Dịu qua mặt đám lính canh và bọn hầu gái, toan rời khỏi cung điện mà bơi về dương gian song đều thất bại. Cung điện của Hà Bá như một mê cung đích thực, càng đi càng lạc lối. Những khi tưởng như thoát được rồi, thị nữ tên Hồ lại xuất hiện, nhìn chị với ánh mắt thương hại rồi bảo chị từ bỏ ý định đấy đi.
- Vô ích thôi, chị không rời khỏi đây được đâu. Cung điện này nằm tít dưới đáy sông, lại được bề trên phù phép nên kẻ ngoài không dễ vào mà người trong cũng khó ra. Nếu cô Gấm không thương tình mở đường cho thì chị có chạy đằng trời. Vả lại, có thoát được thì cũng chưa chắc chị sẽ toàn mạng trở về. Chị biết đấy, bao bọc quanh nơi đây là muôn luồng sóng cả, còn có thuỷ quái canh giữ chốn này suốt mấy trăm năm. Chị liệu sức mình có vượt qua nổi ba cửa ải đấy không đã?
Ban đầu mới nghe Hồ nói thế, Dịu còn tưởng là người nơi đây hùa với nhau doạ mình, bèn hỏi lại với vẻ không tin.
- Có thật là từ trước đến giờ, không một ai bị bắt xuống đây tự tìm đường trở về được?
Chẳng thèm nghĩ ngợi, Hồ xẵng giọng đáp:
- Đương nhiên là không rồi, chị đừng nghĩ ai cũng như mình. Trước giờ chỉ có người cùng đường phải cầu cạnh cô Gấm hoặc đám người trần đến hẹn xuống đây đàn sáo mua vui cho lệnh bà. Họ một mực nghe lời cô Gấm, lệnh bà cũng chiều ý họ, ở thì cho ở, về thì đuổi về, cần gì phải làm mình làm mẩy rồi nằng nặc đòi trở lại trần gian như chị.
Vậy ra Dịu là người đầu tiên dám làm trái ý Hà Bá. Chị nhìn nàng hầu trước mặt, lại nhớ đến Huyền thường túc trực bên cô Gấm, bèn tò mò hỏi thêm một câu:
- Cô cũng nằm trong đám người cùng đường phải cầu cạnh lệnh bà?
Hồ ngẩn ra một chốc trước câu hỏi của ma mới rồi cũng thoải mái trả lời, chẳng thèm giấu giếm:
- Phải.
Dịu hỏi tiếp:
- Còn cô Huyền hay theo hầu lệnh bà thì sao?
Hồ đáp:
- Chuyện chị Huyền, ai mà biết được. Tôi chỉ biết chị ấy là người theo hầu lệnh bà lâu nhất. Khi tôi mới về đây, chị ấy đã theo lệnh bà lâu lắm rồi.
Ngày đầu gặp Hồ, Dịu ngỡ cô là người khó gần hệt như Huyền hay theo hầu cô Gấm, nào ngờ nói chuyện rồi mới biết cô cũng dễ quen. Tính cô thẳng nhưng bụng dạ không xấu. Mấy lần bắt gặp chị bỏ trốn Hồ đều nhắm mắt làm ngơ. Cô chỉ lôi chị về, nhắc nhở đôi câu lấy lệ chứ không bẩm báo để bề trên biết mà trách phạt. Chính cô cũng là người đứng ra thu xếp chỗ ăn chỗ ở cho Dịu khi chị còn lạ nước lạ cái, để đám ma cũ tinh ranh không có cơ hội bắt nạt. Những khi chỉ có hai người, Dịu hỏi gì, cô đáp nấy, không thèm giấu giếm điều chi, cũng chẳng kiếm cớ nói xấu ai bao giờ. Nhờ vậy mà trong bảy ngày này, cuộc sống của Dịu ở chốn làng mây cung nước tạm gọi là yên ổn. Chị cũng quen dần với nếp sống và con người nơi đây, biết họ kiêng kị những gì để tránh cho khỏi chuốc vạ vào mình.
- Ơ kìa, tôi bảo chị cứ nghỉ đi mà, sao lại ra đây rồi ngồi xe tơ thế này?
Giọng nói lanh lảnh vừa quen vừa lạ của người bạn mới vang lên, kéo hồn Dịu trở về từ dòng tâm tưởng. Chị nhìn quanh, thấy hai cô hầu ban nãy đã biến đâu mất, cả gian buồng rộng chỉ còn mình chị. Hẳn là chúng nó biết Hồ sắp đến nên đành trốn để khỏi bị hỏi tội. Chị biết vậy nhưng ngoài mặt vẫn tỏ vẻ không liên quan đến mình.
- Các cô ấy bảo cứ mùng mười tháng mười là dưới này lại mở hội, lệnh bà muốn nghe đàn, mà đàn thì phải dùng đến dây tơ nên nhờ tôi xe sẵn cho chục cây cả thảy.
Hồ lắc đầu, kéo chị sang một bên giảng giải:
- Chúng nó bày việc hành chị đấy thôi. Nào giờ chỉ có đám người trần theo hẹn xuống đây đàn sáo hầu lệnh bà, cùng lắm là tôi và Huyền chơi nhị chơi bầu chứ làm gì còn ai nữa để chị phải thay dây, huống chi còn là chục cây đàn.
Bạn bất bình vì mình, còn Dịu, chị lại thấy chuyện này chẳng có gì to tát.
- Vậy cũng được. Vừa hay tôi rảnh rỗi, chẳng có việc gì để làm.
Nghe vậy, Hồ tặc lưỡi như thể bất lực lắm.
- Chị đấy, hiền quá để người khác trèo lên đầu lên cổ cho.
Dịu không muốn tiếp tục chuyện ban nãy nữa, bèn lảng sang điều mình vẫn canh cánh trong lòng suốt mấy hôm nay.
- Thế, chuyện tôi nhờ cô, cô hỏi được chưa? Lệnh bà bảo thế nào? Tôi nghe người ta nói cô Huyền là cánh tay phải còn cô là cánh tay trái của lệnh bà, nếu cô xin giúp, ít nhiều lệnh bà cũng thương tình mà xem xét cho tôi.
Hồ mới nghe đã gạt phắt.
- Ai đồn đoán linh tinh đấy chứ, ngữ tôi mà là cánh tay trái nỗi gì. Chị nghe này, ở đây lệnh bà lớn nhất, tiếp đến là chị Huyền. Mọi việc ở chốn làng mây cung nước này đều do lệnh bà quyết định, còn mọi điều muốn đến tai lệnh bà thì phải qua tay chị Huyền. Chị ấy vừa là cánh tay phải vừa là cánh tay trái của ngài, còn tôi, tôi cũng chỉ là một nàng hầu bình thường như bao người khác mà thôi.
Tức là chuyện mình nhờ Hồ vẫn chẳng đâu vào đâu. Dịu nghĩ thế, lòng buồn rười rượi. Đã bảy ngày rồi, ắt hẳn hai bên nội ngoại đều đang rối tung vì chị. Họ sẽ đi tìm mọi ngõ ngách chị hay đến, sẽ hỏi bằng được những người chị thường gặp. Họ sẽ sốt sắng lúc đầu, nhưng sau đó thì sao? Bảy ngày, nửa tháng, rồi một năm, mười năm, thế nào họ cũng nản chí mà bỏ cuộc, cho rằng chị cũng như bao bà nạ dòng khác bị Hà Bá nhắm đến, một đi không trở về. Rồi vị trí dâu cả họ Quý sẽ về tay cô Mến. Rồi người ta sẽ hưởng không cái cơ ngơi chị vất vả gầy dựng suốt mười năm trời. Rồi chị sẽ trắng tay, mọi nỗ lực khi xưa bỗng thành công cốc.
Chị phải trở về. Để trở về, chị phải lấy lòng cô Gấm. Nhưng trước khi lấy lòng cô Gấm, chị phải tìm cách để được diện kiến nàng một lần nữa. Ấy là cách duy nhất chị nghĩ ra được lúc này.
Thấy Dịu tự dưng im bặt, tưởng chị đang trách thầm cô Gấm, Hồ vội lên tiếng nhắc nhở bằng giọng điệu của người đi trước:
- Này, chị đừng vì mấy chuyện cỏn con không như ý mình mà nghĩ xấu cho cô Gấm. Lệnh bà tốt lắm, tôi nói thật đấy. Phàm là những người khốn khổ, rơi vào đường cùng phải cầu cạnh ngài, chẳng khi nào ngài làm ngơ mà luôn mở cho họ một con đường sống, cho ở lại, cho cái ăn cái mặc, sung sướng gấp ngàn lần trước kia. Chị thấy đấy, trước kia sống ở cõi trần, đâu phải năm nào trời cũng thương mà cho dân ta được no đủ. Kể cả không vướng cái hạn đói kém thì ngày ăn hai bữa cũng là chuyện thường, có nồi cơm độn khoai sắn với rổ rau luộc, ít tép kho đã là tươm. Rồi về đây, chị đâu phải làm lụng luôn chân luôn tay mà vẫn có cơm trắng ăn ngày ba bữa, bữa nào cũng có cá có thịt, thế không phải sướng thì là gì? Lệnh bà cũng có ăn ở bạc đức với ai bao giờ, đầy lần đám người hầu chúng tôi mắc lỗi mà ngài vẫn cười xoà cho qua, chẳng hề nổi giận, càng không giận cá chém thớt. Vậy sao chị còn nằng nặc đòi về?
Dịu chưa vội trả lời Hồ, cũng không định trả lời vì ý mỗi người mỗi khác, mà cô Gấm trong mắt họ cũng chẳng giống nhau. Chị biết với người nơi đây, cô Gấm là thánh, là thần. Họ cung phụng nàng không phải vì sợ như đám người ở trần gian mà bởi nàng đã vươn tay cứu giúp khi họ cần nàng nhất. Có người gian dâm, bị làng thả bè chuối trôi sông rồi được cô Gấm thương tình mà rẽ nước đón xuống. Có người bị cường hào ác bá cưỡng hiếp ngay bên bờ, được nàng hiển linh mà cứu một đời trong sạch. Họ trung thành với nàng hơn ai hết, họ quyết theo hầu nàng cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Dịu hiểu điều này, nhưng cũng biết rằng mình chẳng bao giờ nằm trong số ấy.
Dịu không muốn trả lời câu hỏi này của bạn, đành đáp lại bằng một câu hỏi khác:
- Chẳng phải ngày đầu tôi về đây, lệnh bà đã nổi giận với một cô bé người trần chỉ vì chơi nhị không đúng ý ngài đấy sao?
Nghe Dịu hỏi vậy, thoạt đầu Hồ nhìn chị như nhìn một kẻ ngốc, nhưng rồi cô nhớ ra chị mới về đây không lâu nên đành bấm bụng mà giải thích thật kĩ càng:
- Chúng nó khác, vì chúng nó là người trần được gửi xuống đây theo hẹn để hầu đàn sáo lệnh bà. Lệnh bà ghét lũ người trên trần lắm, tại sao hả, cái này tôi cũng không rõ, chỉ nghe phong thanh rằng lúc sinh thời, đám người ấy đối xử với lệnh bà tàn tệ vô cùng, sau này thấy ngài trở thành Hà Bá mới quay ra cung phụng. Loại người lá mặt lá trái như thế, ngài đâm ra ghét cũng phải thôi.
Rồi chợt nhớ ra điều gì quan trọng khác, Hồ lại vội vàng nói thêm:
- Hôm nọ lệnh bà nổi đoá với con bé đó cũng phải, vì con bé đó phạm vào điều cấm, dám đứng trước mặt ngài rồi gọi thẳng cái tên Hà Bá cơ mà.
Dịu dáo dác nhìn quanh, thấy căn buồng chỉ còn lại mình và bạn mới bạo gan hỏi một câu:
- Điều này tôi cũng nghe các cụ trên trần dặn rồi nhưng thú thực là tôi không hiểu. Lệnh bà là Hà Bá thật mà, vậy sao ngài lại ghét việc người ta gọi mình bằng cái tên đó thế?
Hồ đáp bằng giọng lí nhí:
- Có lẽ là bởi... lệnh bà vốn là người trần mắt thịt, ngài chỉ bị ép xuống thuỷ cung rồi trở thành Hà Bá chứ đâu phải ngài muốn vậy.
Hồ kể, thuở xưa, chắc cũng phải trăm năm có lẻ, Hà Bá cai quản con sông này là một con rắn nước. Nó không thuộc nòi rồng, cũng chẳng có cốt tiên, chỉ là một con rắn bé tẹo không độc, không doạ được bất cứ ai, thậm chí còn suýt chết dưới tay mấy đứa trẻ chăn trâu nghịch ngợm. Có lần nó rơi xuống con sông chảy qua làng Chiền, may sao gặp dịp Hà Bá mở cửa đón khách từ nơi khác đến nên chẳng những không vào miệng thuồng luồng mà còn vào được cung điện đang mở tiệc linh đình. Thừa dịp cả chủ lẫn khách ăn uống no say, con rắn lẻn vào buồng Hà Bá cướp thần trượng, vũ khí mà Hà Bá dùng để cai quản cả một con sông rồi chế ngự ngàn binh tôm tướng cá. Thế là cung điện đổi chủ, con rắn nước khi xưa nghiễm nhiên trở thành thần sông được người làng cung phụng.
Từ khi con rắn nước ấy trở thành Hà Bá, làng Chiền và các làng lân cận khốn khổ nhiều phen vì vị thần sông bạo ngược. Mưa gió chẳng được thuận hoà, người đi đò bỏ mạng nhiều không kể xiết. Cực chẳng đã, các làng mới phải ngồi lại bàn bạc, chọn ra những cô gái trinh trắng, trẻ đẹp dâng lên gã Hà Bá đương nhiệm để mình được yên ổn mà sống và làm ăn. Con rắn nước kia đồng ý, cứ năm năm một lại ngoi lên bắt gái làng xuống đó làm vợ.
Và cô Gấm chính là người vợ thứ mười tám của gã.
Trong mười tám bông hoa mà làng Chiền và các làng lân cận dâng lên Hà Bá, so về hương lẫn sắc, không ai qua nổi cô Gấm đẹp tựa tiên trên trời, so gan so chí, nàng cũng chẳng kém cạnh đấng mày râu. Bất bình trước cảnh yêu quái hoành hành khiến lòng người không yên, nàng quyết tâm phải giết bằng được vị thần sông giả mạo để trừ hại cho dân lành. Nàng thay chị dâu xuống thuỷ cung làm vợ Hà Bá. Nàng nhẫn nhục chờ dịp Hà Bá lơ là mà cướp lấy thần trượng. Để rồi khi giết được gã thần sông hung ác, nàng lại hi sinh hạnh phúc đời mình, mãi ở đây làm một thần sông cô đơn, gánh trên vai trách nhiệm cao cả, ban phúc cho muôn dân đời đời no ấm.
Giai thoại về cô Gấm được lưu truyền ở chốn làng mây cung nước khép lại trước mắt Dịu. Dẫu cho người bên đã ngừng kể một hồi, chị vẫn ngẩn ngơ như thể chưa thoát khỏi thế giới được vẽ nên trong thiên truyện ấy, bởi câu chuyện chị được nghe kể lúc này đây quá đỗi lạ lùng. Nó khác hẳn bao lời đồn đoán của người làng Chiền từ đời này sang đời khác. Nếu câu chuyện Hồ kể chị nghe là thật, không lí nào các ông già bà cả ở làng Chiền và các làng chung quanh lại không biết. Thỉnh thoảng đám người nọ vẫn xuống đây đàn sáo hầu lệnh bà theo hẹn cũ, điều ấy chứng tỏ đôi bên thường hay qua lại. Phải có lí do gì họ mới giấu nhẹm sự thật về Hà Bá và dặn dò những điều trái ngược cho con cháu mình.
Rồi trong óc Dịu chợt nảy ra bóng dáng cô thiếu nữ ngồi trên ghế ngọc mà chị gặp hôm nào. Người con gái chân yếu tay mềm bị ép xuống thuỷ cung. Cô vợ thứ mười tám nuôi mộng giết gã chồng bạo ngược. Vị thần bất đắc dĩ hi sinh đời mình vì hạnh phúc muôn dân. Toàn những điều không tưởng, những điều chị không ngờ đến và cũng chẳng ông già bà cả nào kể cho đám trẻ nghe trong những buổi tề tựu đông đủ ở đình làng. Chị không tài nào liên hệ cô Gấm trong giai thoại được lưu truyền với cô Gấm mà mình biết. Giữa câu chuyện chị nghe được từ người làng, từ cô bạn mới và những điều mình trông thấy, chị không biết nên tin ai, không biết đâu mới là sự thật.
Nhưng trong hết thảy các mối nghi ngờ, chị lờ mờ nhận ra một điều mà trước đây chị chưa bao giờ để ý. Ấy là đôi khi con người còn đáng sợ hơn cả quỷ quái, thánh thần.