Chim Về Đậu Nhánh Quen Thân
Cảnh báo
Đêm xuống chậm chạp trên Hoàng Nghiêu. Gió từ lòng núi thổi ra, mang theo hơi ẩm và mùi cỏ dại ngai ngái. Trong doanh trại, bếp lửa được nhóm lên lác đác, ánh than hồng hắt lên những khuôn mặt sạm nắng, mệt mỏi sau một ngày thao luyện.
Anh em tụm lại quanh bếp. Có người rút trong tay nải ra một chai rượu nếp nhỏ, chuyền tay nhau từng ngụm. Rượu chẳng bao nhiêu, mỗi người chỉ nhấp môi cho ấm cổ, cốt xua cái lạnh đầu đêm. Diêu ngồi xếp bằng, ngửa cổ uống một hớp rồi cười ha hả.
“Đánh giặc mà không có miếng rượu vô bụng, khó ngủ lắm,” hắn nói, giọng khàn khàn.
Nhuế ngồi cạnh, còn trẻ, chỉ ôm bát nước nóng, nghe mấy anh lớn kể chuyện mà mắt sáng rỡ. Người thì nhắc chuyện ruộng đồng hồi còn ở nhà, kẻ lại nói đến chợ phiên, đến vợ con nơi quê cũ. Tiếng cười bật lên rồi lắng xuống, như sợ làm kinh động núi rừng đang ngủ.
Diêu bỗng xoay sang phía bếp lửa, giọng đượm men rượu:
“Nhà tôi ở quê, khó tính lắm. Chuyện chi cũng càu nhàu được.”
Mấy người cười rộ lên. Nhuế tò mò hỏi:
“Vậy chị Bông thích chi nhất hả anh?”
Diêu gãi đầu, nghĩ một lát:
“Cũng chẳng có chi cao sang. Mấy món lặt vặt ngoài chợ là mừng cả ngày, rồi còn tật ăn quà nữa cơ.”
Nhuế xuýt xoa:
“Con gái chắc ai cũng thế nhỉ.”
Diêu cười khà khà đáp:
“Kệ, ăn quà nhiều về nhà đỡ tốn cơm.”
Tôi ngồi cạnh, nghe mà chỉ cười, tay xoay xoay cành củi trong lửa. Lửa bén lên, táp vào mặt nóng ran, chẳng biết vì hơi lửa hay vì mấy câu chuyện kia mà lòng tôi cứ gợn lên, không yên.
Diêu quay sang, nheo mắt nhìn tôi, giọng đùa cợt:
“Sau này mi lấy vợ, biết con gái người ta thích chi để mua cho không?”
Tôi giật mình, khựng lại một nhịp, rồi đáp qua loa:
“Ờ… đàn bà con gái thì chắc… thích mấy thứ đó thôi nhỉ, vải vóc, trâm cài...”
Nói xong, chính tôi cũng thấy câu mình rỗng tuếch. Tôi cúi đầu, giả vờ chăm chú thêm củi vào bếp.
Cách đó không xa, dưới mái hiên bằng gỗ thô, Nguyễn Chích ngồi một mình. Trước mặt là bát rượu đã rót sẵn nhưng vẫn còn nguyên. Anh không uống, chỉ đặt tay lên thành bát, để hơi men bốc lên phảng phất. Ánh lửa xa xa hắt đến, làm nửa khuôn mặt anh sáng lên, nửa còn lại chìm trong bóng tối.
Tôi tưởng anh không để ý, nào ngờ anh cất giọng, rất bình thản, không ngẩng đầu:
“Thế cậu Sa có biết con gái thường thích chi không?”
Câu hỏi nhắm thẳng vào tôi, gọn và nhẹ, mà khiến tim tôi thót lên. Tôi ngẩng đầu, cổ họng khô khốc:
“Dạ… mấy chuyện đó tôi không rành.”
Nguyễn Chích lúc này mới lộ vẻ bất ngờ, ánh mắt lướt qua tôi một thoáng:
“Không rành?”
Tôi cứng họng, không dám đối mặt với ánh mắt anh. Bao nhiêu lời định sẵn trong đầu đều nghẹn lại, chẳng thốt ra được chữ nào.
Diêu thấy vậy liền cười ha hả, vỗ đùi đánh đét:
“Chủ tướng hỏi sai người rồi!”
Hắn nghiêng người về phía anh:
"Mấy cái chuyện ni phải hỏi thằng có vợ như tui nì. Thằng Sa hắn chưa có chò mô thương, biết răng được!"
Nhuế cũng cười theo, không khí quanh bếp lập tức giãn ra, tiếng nói lại râm ran như cũ.
Nguyễn Chích bật cười rất khẽ, khóe môi nhếch lên một chút rồi thôi:
“Ừ. Hỏi nhầm.”
Anh quay sang Diêu:
“Vậy ngươi nói thử xem.”
Diêu được thể thao thao bất tuyệt, kể thêm dăm ba chuyện vặt vãnh hồi mới lấy vợ, tiếng cười lại rộ lên quanh bếp lửa. Tôi thở ra một hơi thật nhẹ, tưởng như vừa thoát khỏi một sợi dây siết vô hình.
Một cơn gió thổi qua, làm ngọn lửa khẽ rung. Trăng lên cao hơn, ánh sáng nhạt dần phủ xuống doanh trại.
Khi mọi người còn đang nói cười, Nguyễn Chích đứng dậy, bước ngang qua chỗ tôi ngồi. Anh không dừng lại, chỉ nói rất nhỏ, đủ cho mình tôi nghe:
“Không biết cũng không sao.”
Anh đi thêm một bước, rồi nói tiếp, giọng vẫn đều đều:
“Biết rồi mà không nói, thì cực thân lắm”
Tôi ngồi lặng, nhìn theo bóng lưng khuất dần trong ánh trăng nhạt. Trong lòng chợt dậy lên một cảm giác khó gọi tên. Anh không hỏi nhiều, cũng chẳng vạch ra điều gì. Nhưng tôi biết, có những điều nơi tôi, anh đã tỏ từ lâu rồi.
Nguyễn Chích nói xong câu ấy thì đứng dậy, áo chàm khẽ lay, đoạn rời đi, không ngoái lại. Tôi còn ngồi nguyên bên bếp lửa, hai gối chạm đất, lưng thẳng mà lòng đã rối như tơ vò.
Quanh bếp lửa, quân sĩ vẫn chuyện trò như cũ, tiếng cười tiếng nói lẫn trong gió núi. Không ai để ý đến ta. Ấy vậy mà trong khoảnh khắc ấy, tôi bỗng thấy mình đứng tách khỏi mọi người, như người lạc giữa phiên chợ đông.
Gió đêm thổi mạnh, tàn than bay lên, sém vào tay, rát buốt. Ta khẽ rụt tay lại, coi như một lời nhắc. Bèn đứng dậy, lặng lẽ rời khỏi bếp lửa, men theo lối cũ về lều. Bước chân tuy đều, nhưng trong lòng đã có quyết định.
Không thể cứ để việc này treo lơ lửng mãi.
Ngày ngày đối diện chủ tướng, trong dạ luôn phải dè chừng từng ánh mắt, từng lời nói. Đợi đến lúc sự tình bị khui ra trong thế bị động, chẳng bằng tự mình thưa rõ, còn giữ được chút ngay thẳng.
Đêm ấy, ta nằm trong lều, mắt nhìn lên nóc vải sẫm màu, nghe gió núi thổi qua rừng cây xào xạc. Ngoài kia, doanh trại vẫn im lìm như cũ. Chỉ có trong lòng ta, bí mật kia không còn là thứ để trốn tránh, mà đã trở thành một lời chưa nói, lặng lẽ treo giữa ta và người đứng đầu nghĩa quân.
…
Sáng sớm hôm ấy, sương còn dày đặc, hơi lạnh ngấm dần vào da thịt như kim châm. Cả dãy núi Hoàng Nghiêu chìm trong một màu xám nhạt, cây cối mờ đi sau màn sương dày đến mức đứng cách vài trượng đã chỉ còn thấy bóng. Doanh trại vẫn im lìm, tựa như còn đang ngủ vùi sau một đêm dài. Chỉ lác đác vài bóng người đã thức từ canh tư, khoác áo cũ, bước chậm trên nền đất ẩm, tiếng chân khe khẽ như sợ đánh thức núi rừng.
Lửa bếp còn âm ỉ trong những hố đất đào sâu, than hồng đỏ lẫn trong tro xám. Khói mỏng bốc lên, không bay cao mà quẩn quanh, hòa vào sương sớm, treo lơ lửng trên những mái lều thấp lợp lá. Thỉnh thoảng có tiếng củi nổ lách tách, tiếng ai đó khẽ ho một tiếng rồi lại im bặt. Không trống thúc, không tiếng hô quân, chỉ có hơi thở đều đều của doanh trại nghèo, yên tĩnh đến mức nghe rõ cả tiếng gió lùa qua tán cây ướt sương, mang theo mùi đất lạnh và mùi khói bếp quen thuộc của những ngày đóng quân nơi núi rừng.
Trong trại, tài sản quý giá nhất có thể không phải lương thảo, càng không phải binh khí, mà là mấy con ngựa gầy. Tổng cộng chỉ chừng ba, bốn con. Phần lớn anh em đều xuất thân nông dân, cả đời quen cày cuốc, hiếm ai biết cưỡi ngựa, có người còn chưa từng được chạm tay vào ngựa. Bởi thế, chuồng ngựa được chăm chút kỹ lưỡng, nước uống, cỏ ăn đều không dám sơ suất.
Phần việc sáng nay của tôi là gánh nước về chuồng ngựa, rồi cắt cỏ khô ở bìa rừng. Việc nặng, nhưng trong quân, ai cũng làm như thế. Tôi tự nhủ đã quen rồi, chưa bao giờ hé miệng than nửa lời.
Tôi gánh thùng nước từ giếng nhỏ dưới chân dốc lên. Nước lạnh buốt, thấm qua thùng tre làm hai bàn tay tê dại. Vai vẫn còn âm ỉ đau từ ngày bị rách ngày trước, bước chân có lúc chao nhẹ, nhưng tôi cắn răng giữ lưng cho thẳng. Chỉ cần chậm lại một chút thôi, tôi sợ người khác sẽ nhìn ra sự yếu mềm mà tôi cố giấu.
Đang đi, bỗng có bóng người áp sát bên cạnh.
Chưa kịp hiểu chuyện gì, thùng nước trên vai đã nhẹ hẫng. Một bàn tay thò tới, động tác nhanh nhẹn, nhấc luôn cả đòn gánh trên vai tôi.
Tôi giật mình quay sang.
Là Nguyễn Chích.
Anh xách thùng nước đi trước, không nói lời nào. Tôi vội thốt lên, theo phản xạ:
“Tôi làm được ạ.”
Anh đáp gọn, không quay đầu:
“Ta biết.”
Lời anh nói nghe nhẹ tênh, như một điều vốn dĩ phải vậy. Tôi khựng lại một nhịp, lòng còn vương chút ngỡ ngàng, rồi lặng lẽ bước theo sau.
Vừa đi, anh vừa nói thản nhiên:
“Hôm qua có người còn than thân thể nóng lạnh, đầu đau như búa bổ, nên xin khất đấu vật sang lần sau.”
Tim tôi đánh mạnh một cái. Đó chính là lời tôi đã bịa.
Anh nói tiếp, giọng vẫn đều đều:
“Nếu hôm nay ta lại bắt người đó gánh nước từ sớm…”
Anh dừng một nhịp.
“Lỡ ngất xỉu giữa đường, chẳng phải là lỗi ở ta sao?”
Tôi cứng họng.
Bao nhiêu lời định biện minh, bao nhiêu cớ chống chế vừa kịp nhen lên trong đầu, đều bị câu nói ấy chặn đứng. Lý lẽ của anh quá thẳng, quá trơn tru, không có chỗ nào để cãi. Tim tôi đập dồn, lòng rối như tơ vò, chỉ sợ mình lỡ buột miệng nói thêm điều gì càng lún sâu hơn.
Nhưng Nguyễn Chích không chờ tôi đáp.
Anh bước thêm vài bước, rồi nói như đã quyết xong một việc rất nhỏ:
“Ngươi đi cắt cỏ đi.”
Anh nói tiếp, giọng bình thản:
“Cỏ non phía bìa rừng, ngựa thích hơn.”
Nói rồi, anh xách nước đi thẳng về phía chuồng, không ngoái lại.
Tôi đứng yên giữa làn sương lạnh, thở ra một hơi thật khẽ, rồi lọ mọ cầm liềm xuống dốc quanh co dưới Hoàng Giang, cắt cỏ non cho bầy ngựa.
Cắt cỏ xong, bó cỏ còn vương hơi sương lạnh, tôi gánh về trại. Đi ngang qua lều chủ tướng, bước chân chợt chậm lại.
Nắng sớm nghiêng bãi đất trước mái lều.Nguyễn Chích ngồi xổm bên bãi đất khô, thong thả rắc từng nắm vụn thức ăn xuống nền đất. Mấy con bồ câu trắng muốt từ đâu lần lượt kéo đến, tụ thành một đám dưới chân anh. Con nào con nấy bộ lông cánh sạch sẽ, cổ ngẩng cao, bước đi khoan thai như đã quen thuộc chốn này từ lâu. Tôi từng nghe người ta bảo, giống chim ấy dầu có bay đi xa đến mấy, rồi cũng lần tìm được lối về nơi cũ. Quả nhiên, chúng chẳng sợ người. Nguyễn Chích vừa đưa tay ra, một con đã vỗ cánh bay lên, sà xuống đậu trên cổ tay anh, cái đầu nhỏ nghiêng nghiêng mổ từng mẩu thức ăn trong lòng bàn tay.
Tôi chưa vội đi, vẫn đứng lại bên lều, nhìn mấy con bồ câu trắng muốt lúp xúp dưới đất, lần lượt nhặt từng hạt cám. Dáng chúng nom vừa lạ mắt, lại có vẻ sạch sẽ, thong thả, khiến tôi đứng ngắm mãi mà chẳng hay. Nguyễn Chích hẳn đã nhận ra tôi đang nhìn. Anh ngẩng đầu lên, tiện tay rắc xuống thêm một nắm cám. Đợi lũ chim sà lại, anh mới thong thả lên tiếng:
“Con này là Tuyết Hoa. Con kia Tuyết Mai. Con đậu bên trái là Tuyết Đào.”
Anh lần lượt chỉ từng con, chẳng cần ngó nghiêng hồi lâu mà vẫn nhận ra đúng con nào với con nào. Tôi nhìn một hồi đã thấy lóa cả mắt. Con nào con nấy cùng một màu lông trắng phau, đứng chen bên nhau thì đến người tinh mắt cũng khó lòng phân biệt. Giống chim này quả có phần tinh khôn. Lại được nuôi quen tay, hễ thấy Nguyễn Chích cầm thức ăn là chúng tự sà xuống, đậu lên bàn tay anh.
Nguyễn Chích quay sang, chia cho tôi một nắm vụn cơm trộn cám.
“Thử xem.”
Tôi chìa tay ra. lòng còn rôi bối rối chẳng biết phải làm thế nào, còn lo đám chim ấy không dám bén mảng lại gần người lạ. Nào ngờ tôi chỉ lo xa, mấy con lần lượt bay tới, đậu lên một thoáng, mổ dăm ba hạt rồi lại vỗ cánh bay đi, nom chừng đã nhận ra tôi là người lạ. Tôi đang tiếc rẻ thì có một con nhỏ hơn cả bầy, lông chẳng trắng phau mà điểm mấy chấm đen li ti ngay bộ cánh, cứ nhất quyết ở lại.
Nó cúi đầu, chăm chú nhặt từng hạt trong lòng bàn tay tôi. Ăn chẳng nhanh, song cũng chẳng chịu bay đi, cứ thế lần lượt mổ hết hạt này đến hạt khác.
“Tên nó là Hột Tiêu,” Nguyễn Chích nói. “Ăn nhiều mà chẳng lớn.”
Tôi ồ lên một tiếng, gật gù ra vẻ đã hiểu, rồi còn lẩm nhẩm:
“Cậu bé Hột Tiêu, ăn nhiều mà chẳng lớn…”
Nguyễn Chích hình như nghe thấy, bật cười thành tiếng. Nhưng có vẻ anh đã nhận ra mình thất thố, bèn thu lại trở về dáng vẻ điềm nhiên như cũ.
Tôi còn đang cúi xuống ngắm con chim thì chợt thấy mu bàn tay ươn ướt, dính dính. Cúi mắt nhìn xuống, tôi giật mình hoảng hốt, theo thói quen vung mạnh tay. Con chim sợ hãi, vỗ cánh phành phạch rồi vụt lên mái lều, để lại tôi đứng ngây ra giữa sân. Nguyễn Chích trông thấy cảnh ấy, lần này chẳng còn giữ được vẻ nghiêm nghị thường ngày. Anh ngửa mặt cười lớn, tiếng cười vang ra giữa khoảng sân vắng, nghe đến mức tôi càng đứng sững, chẳng biết nên giấu bàn tay vào đâu.
“Chim chọn trúng tay cậu,” anh nói, “chẳng phải chuyện xui đâu. Là có phúc đấy.”
Tôi thấy hơi nóng dồn lên tận mang tai. Trong bụng đã tính, phen này mà bắt được con Hột Tiêu, nhất định phải đem hầm canh với hạt sen cho bõ tức. Nghĩ vậy nhưng cũng chẳng giải quyết được gì. Tôi đưa bàn tay lên ngửi thử, vừa đưa tới mũi đã muốn ói ngay tại chỗ. Liếc xéo Nguyễn Chích một cái, rồi rảo bước xuống bờ Hoàng Giang tìm chỗ rửa tay.
Nước cuối đông mang một màu xám đục, lững lờ trôi giữa hai bờ đất thấp, mặt sông chỉ có từng gợn nước nhỏ nối nhau trôi theo dòng. Tôi cúi xuống, kỳ cọ bàn tay dưới làn nước buốt. Một lượt chưa sạch, tôi lại rửa thêm lần nữa. Mùi hôi vẫn còn vương nơi lòng bàn tay khiến tôi cau mày, càng chà càng thấy bực mình.
Sau lưng chợt vang lên tiếng chân lội qua đám cỏ ướt. Chưa kịp quay lại nhìn thì chợt nghe có giọng cất lên:
"Dùng cái này đi!"
Nguyễn Chích chẳng biết đã theo xuống từ lúc nào, nhìn thấy tôi thì trên mặt như cố nhịn cười, trên tay anh là một nắm lá chè xanh giống nom như vừa mới tiện tay hái xuống ở đâu đó.
“Dùng cái này đi,” anh lại gần tôi, giọng bỗng dưng hạ thấp nghe chẳng khác nào đang dỗ dành đứa trẻ con.
“chà vào tay ấy, đỡ hết mùi lắm.” Anh đưa nắm lá sang cho tôi.
Tôi vốn còn đang bực mình mà tự nhiên nghe giọng anh như nỉ non làm lòng tôi cũng dịu lại đôi phần. Thầm nghĩ tôi thật hết thuốc chữa, bệnh nặng thật rồi, Chẳng qua anh nói chuyện với tôi cũng giống như nói với những người lính khác thôi, vậy mà chẳng biết từ bao giờ, hễ nghe anh hạ giọng một chút, tôi đã tự cho rằng người ta đang dỗ dành mình.
Nghĩ đến đó, tôi lại thở dài.
Nguyễn Chích cuối đầu nhìn tôi.
Tôi chẳng nói gì.
Anh nhướng mày, nghiêng đầu cẩn thận nhìn tôi thêm một lúc.
Tôi vẫn chẳng nói gì. Chỉ nhìn nắm lá trong tay anh, lòng thầm mắng bản thân chẳng biết trời đất đâu nữa.
Thấy tôi lúc ngẩn ngơ, lúc lại thở dài mà chẳng có phản ứng gì, anh rốt cuộc cũng không nhịn được. Bàn tay đưa lên che miệng, đôi mắt cong cong ánh rõ ý cười rồi lập tức quay mặt đi, như thể chẳng có chuyện gì xảy ra, rồi dúi nắm lá chè vào tay tôi.
"Cầm lấy."
Nói xong, anh chẳng đợi tôi đáp mà quay người vác đống cỏ mới cắt xong mang về cho ngựa.
Tôi cúi xuống nhìn nắm lá chè trong tay.
Lá còn xanh mướt, hơi ẩm vẫn đọng trên mặt lá. Tôi vò chúng trong lòng bàn tay cho lá dập ra rồi chà thật kỹ lên chỗ vừa rửa. Quả nhiên, thứ mùi hôi khó chịu dần dần nhạt đi, chẳng bao lâu đã chỉ còn lại mùi lá xanh ngai ngái, thanh thanh, quyện cùng hơi nước lạnh thấu xương.Tôi đưa tay lên ngửi thử.
Ừm.
Cuối cùng cũng hết hôi rồi!