Gấm Hoa Giữa Trời

Xuân Trong Đã Nảy Một Miền Không Tên.

Cảnh báo

truyện chỉ lấy yếu tố về lịch sử, không có giá trị tham khảo

Bếp lửa giữa trại chỉ còn than hồng, không còn bùng lên nữa, chỉ âm ỉ cháy, đủ soi rõ khuôn mặt người ngồi đối diện. Gió đêm thổi nhẹ, mang theo mùi tro và mùi cỏ khô. Chung quanh đã yên tĩnh, chỉ còn vài tiếng côn trùng rời rạc trong bóng tối.

Không hiểu vì sao, câu chuyện lại rẽ về những năm tháng rất xa. 

Tôi nhớ lại ngôi làng cũ, nơi có con đường đất chạy men theo bờ sông, mùa mưa thì lầy lội, mùa nắng thì bụi mù. Tôi kể về những buổi chiều theo bà ra bến nước, về hàng tre già trước ngõ, về những ngày tưởng như rất dài, mà nay ngoảnh lại chỉ còn là một mảnh ký ức mỏng manh. 

Tôi đã nghĩ tất cả những điều ấy đã bị chiến tranh vùi lấp từ lâu, chẳng còn ai nhớ nữa.

 Nguyễn Chích ngồi đối diện, im lặng nghe. Anh không ngắt lời, chỉ lặng lẽ nhìn than hồng co lại từng chút một. Cho đến khi tôi kể đến một chi tiết rất nhỏ,rằng ngày ấy, có một đứa trẻ thường đứng nép sau hàng rào tre, không chạy nhảy, không cười nói, chỉ lặng lẽ nhìn người qua lại bằng một ánh mắt rất khác. 

Tôi vừa dứt lời, anh bỗng khựng lại. Khoảnh khắc ấy rất ngắn, nhưng đủ để tôi nhận ra. Bàn tay anh đặt bên bếp lửa dừng hẳn, ánh mắt không còn thản nhiên như trước.

 “Ta nhớ rồi,” anh nói chậm rãi. “Nhớ rất rõ.”

 Tôi sửng sốt quay sang nhìn anh. 

Anh kể, năm ấy, trong đám trẻ con ồn ào chạy theo người lạ, chỉ có một cô bé đứng im sau hàng rào tre. Không cười, không trốn, cũng không tỏ ra sợ hãi. 

“Ta chỉ nhìn vào đôi mắt của nàng” anh nói, “ ánh mắt đó… không giống ai khác, trong khắc đó, ta đã nhận ra là nàng.”

 Anh ngừng lại một chút, rồi nói tiếp, như đang tự nhắc lại với chính mình:

 “Ta chưa từng nghĩ, nhiều năm sau, lại gặp ánh mắt ấy giữa khói lửa binh đao.” 

Tôi sững người.

 Hóa ra, cậu bé gầy nhom năm đó… lại đứng ngay trước mặt tôi lúc này. Than hồng trước mặt khẽ sụp xuống, phát ra một tiếng rất nhỏ. Tôi bỗng thấy cổ họng mình khô lại, tim đập chậm hơn, nặng hơn. Những mảnh ký ức tưởng rời rạc, bà, hàng tre, bến nước, con đường đất ven sông, bỗng nối liền với ánh mắt anh đang nhìn tôi lúc này. Đến lúc ấy, tôi mới hiểu. Vì sao có những lần anh nhìn tôi lâu hơn mức cần thiết.

 Có những điều, hóa ra đã bắt đầu từ rất lâu rồi lâu đến mức chính tôi cũng không hay biết.

Than hồng trước mặt khẽ sụp xuống, phát ra một tiếng rất nhỏ. Tôi bỗng thấy cổ họng mình khô lại, tim đập chậm hơn, nặng hơn. Những mảnh ký ức tưởng rời rạc, bà, hàng tre, bến nước, con đường đất ven sông, bỗng nối liền lại, chồng khít lên ánh mắt anh đang nhìn tôi lúc này.

Tôi khẽ cười.
 “Tựa hồ có số an bài…”

“Vòng vèo qua bao năm tháng,” tôi nói tiếp, chậm rãi, “rồi lại gặp nhau đúng chỗ cũ.”

Anh không đáp ngay. Chỉ nhìn tôi lâu hơn một nhịp, như thể đồng ý, nhưng không cần nói ra.

Đến lúc ấy, tôi mới hiểu.

Vì sao có những lần anh nhìn tôi lâu hơn mức cần thiết.
Vì sao ánh mắt ấy chưa từng là ánh mắt của một người xa lạ.

Có những điều, hóa ra đã bắt đầu từ rất lâu rồi, lâu đến mức chính tôi cũng không hay biết.

Tôi chần chừ một chút, rồi vẫn không kìm được mà hỏi.
 “Vậy ra… ngay từ ngày đầu tiên gặp nhau, chủ tướng đã nhận ra tôi rồi sao?”

Anh lắc đầu.

“Không,” anh đáp. “Lúc đầu chỉ thấy nàng quen mắt.”

Anh nhìn than hồng một lúc, như đang lục lại ký ức cũ.
 “Càng nhìn lại càng thấy giống một cô bé năm nào,” anh nói tiếp, giọng bình thản, “suốt ngày đứng sau hàng tre, chuyên đi bắt nạt ta.”

Tôi sững ra một nhịp, rồi dẩu môi.
 “Ta bắt nạt chàng lúc nào chứ?”
 Giọng tôi vô thức cao lên một chút, nửa phản bác, nửa làm nũng.
 “Rõ ràng là chàng tự đi qua làng ta, còn nhìn chằm chằm vào ta trước.”

Khóe môi anh cong lên rất khẽ.
 “Ừ,” anh nói. “Có lẽ là vậy.”

Tôi hít một hơi, rồi hỏi tiếp, giọng nửa đùa nửa thật, nhưng tim lại đập chậm đi:
 “Vậy… chủ tướng đã biết ta là nữ từ khi nào?”

Anh không nhìn tôi.

Ánh mắt anh quay đi chỗ khác, nhìn ra ngoài khoảng tối phía sau lều. Khóe môi vẫn cong, nhưng vành tai thì đỏ lên rất rõ, không giấu được.

“Mùa thu năm ngoái,” anh nói.
 Giọng bỗng hạ thấp đi.
 “Nàng bị trúng tên, suýt không qua khỏi.”

Tim tôi khẽ thắt lại.

“Khi đó, vì phải cầm máu cho nàng nên ta…đã thấy...”

Tôi nghe xong, mặt nóng bừng lên. Vội cúi đầu, không biết nên nhìn vào đâu. Còn anh ngập ngừng một chút rồi nói tiếp.

“Ta không tiện nói. Chỉ đưa nàng đến nhờ cụ Tía chăm sóc.”

Hóa ra là vậy. Bao nhiêu nghi hoặc trước đây, những lần anh sắp xếp chỗ đứng cho tôi, những lúc ánh mắt anh dừng lại lâu hơn, bỗng dưng liền mạch lại với nhau.

Nguyễn Chích nói tiếp, lần này không vòng vo nữa.
 “Cũng từ lúc đó,” anh nói, “ta nghĩ mình phải chịu trách nhiệm.”

Tôi ngẩng lên nhìn anh.

“Ta đã đợi nàng,” anh nói. “Đợi nàng tỉnh lại. Đợi nàng quay về doanh trại.”
 Anh dừng một nhịp.
 “Đợi đến tận bây giờ, khi nàng đủ mạnh mẽ để đứng trước ta.”

Bếp lửa giữa hai người khẽ lách tách. Than hồng co lại, ánh đỏ chập chờn hắt lên gương mặt anh, làm những đường nét vốn trầm tĩnh ấy mềm đi một chút.

Lúc ấy, tôi mới chợt hiểu.

Hóa ra, cái “đợi rất lâu” anh nói…  bắt đầu từ những ngày thu se lạnh ấy.

Ngoài kia, gió khẽ lay hàng tre. Âm thanh rất nhẹ, nhưng đủ để tôi biết, có những điều đã âm thầm bén rễ từ lâu, chỉ chờ đúng lúc mới chịu nói ra.

Dọc theo bờ sông, hoa đào đã kịp bung nụ, cánh hoa mỏng phủ nhẹ lên lối đi giữa doanh trại. Trên những mái lều còn phảng phất mùi khói cũ, sắc xuân lặng lẽ đậu xuống, không xua đi dấu vết chiến tranh, chỉ làm chúng bớt gai góc hơn.

Những ngày trời quang, tôi theo anh ra bến sông xem quân tập trận. Nước lên xuống theo con nước đầu mùa, không ồn ào nhưng đều đặn. Anh đứng bên cạnh, thỉnh thoảng nhắc vài câu ngắn gọn. Tay anh chỉ bản đồ, nhưng khi quay sang tôi, ánh nhìn lại mềm đi rất khẽ, như thể đã quen với việc tôi đứng ở đó.

Có lúc, tôi chợt nghĩ, nếu không có chiến tranh, có lẽ chúng tôi cũng chỉ là hai người bình thường, gặp nhau ở một khúc sông nào đó, rồi lặng lẽ đi cùng nhau qua năm tháng. Nhưng suy nghĩ ấy chỉ thoáng qua, như cánh hoa rơi xuống mặt nước, chưa kịp giữ đã tan.

Chiến sự ngoài kia vẫn chưa yên. Tin tức từ các trấn dồn dập đưa về. Những cuộc bàn bạc kéo dài đến khuya, đèn dầu leo lét soi những gương mặt mệt mỏi. Tôi thấy rõ trong mắt anh không chỉ có tính toán của một chủ tướng, mà còn có một thứ nặng hơn, trách nhiệm với nước nhà, với từng sinh mạng đang đặt cả niềm tin vào quyết định của anh.

Có một buổi sáng, khi đào đã nở gần tàn, anh đứng cùng tôi dưới tán cây ven sông. Cánh hoa rơi lác đác trên vai áo, mỏng và nhẹ đến mức tưởng như không có trọng lượng.

“Giữa binh đao,” anh nói, giọng trầm và chậm, “ta chẳng nghĩ lòng mình còn vương được chuyện khác.”

Anh ngừng lại, như cân nhắc từng chữ.

“Nhưng duyên xưa nay lại đến.”

Chỉ là một câu nói mộc mạc, giống hệt cách anh từng nói với dân làng khi kêu gọi họ đứng lên giữ đất nước đang lâm nguy. Tôi nghe mà thấy tim mình lặng đi, không còn cuộn sóng, chỉ âm thầm chảy theo một hướng đã định.

Tôi không đáp ngay. Chỉ đứng đó, để gió xuân lùa qua tay áo, để mùi cỏ non và khói bếp hòa vào nhau. Trong khoảnh khắc ấy, tôi bỗng hiểu, tình cảm này không phải để níu chân anh, cũng không phải để tôi rời bỏ con đường mình đã chọn. Nó chỉ tồn tại, bền bỉ như dòng nước, như hàng tre trước ngõ năm nào.

Rồi chúng tôi lại quay về nhịp cũ của quân doanh. Quân lệnh ban ra, cờ hiệu phấp phới, binh sĩ chỉnh tề hàng ngũ. Mọi việc đâu vào đấy, xoay vần như thường nhật, tựa hồ buổi sớm thanh bình vừa rồi chưa từng hiện hữu giữa chốn binh đao.

Chỉ có tôi biết, và anh biết.

Rằng giữa những ngày gươm giáo, đã có một mùa xuân rất khẽ đi qua.

Mùa xuân năm đó, nước nhà đang rầu rĩ trước vó ngựa của quân Minh.

Nhưng hoa đào vẫn thuận theo bốn mùa mà đơm bông rực rỡ, cánh hoa bay lên, tựa dải gấm hoa giữa trời.

-HẾT-

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px