Giang Sơn Hùng Ca

Nghỉ chân


NGHỈ CHÂN

   Bản người Thái dưới chân đèo Pha Phanh chỉ chừng hơn chục nóc nhà, khói bếp vắt ngang sườn núi như một dải khăn mỏng. Đoàn Thiên Trường kéo xe tới, bùn ngập quá mắt cá. Thấy người lạ, già bản cùng mấy thanh niên mặc áo tơi ra đón. Giọng già bản trầm, từng tiếng rơi chậm như tiếng mưa:

   “Khách đi đường à? Có việc gì nhờ bản ta chăng?”

   Ngô lão gia chắp tay, giọng suồng sã mà vẫn giữ lễ:

   “Dạ, thưa già, đoàn tôi lên Mường Xia đổi hàng. Đường núi mưa trơn, người mỏi, ngựa mệt, xin được tá túc một đêm cho ấm lửa, sáng mai đi sớm. Với lại mai lên đèo, xe nặng, nếu bản có trai tráng rảnh tay, cho tôi xin vài người phụ đẩy qua dốc, tôi xin gửi công xá sòng phẳng.”

   Già bản gật đầu, dáng điềm nhiên như đã quen những đoàn buôn ghé chân. Ông chỉ về ngôi nhà sàn lớn giữa bản, nơi khói bay mờ trong mưa phùn:

   “Chuyện nhỏ thôi. Các vị cứ đến đó mà nghỉ. Đã có người tới trước rồi, cứ tự nhiên.”

   Mưa lất phất rơi. Căn nhà sàn lớn ẩn trong làn khói bếp, mùi khói quyện mùi sắn khô ngai ngái. Khi đoàn Thiên Trường bước vào, lửa trong bếp đã cháy sẵn.

   Ba người đàn ông ngồi quanh bếp, áo tơi còn nhỏ nước, thấy khách thì nhích ra nhường chỗ. Người ngồi giữa vóc cao, mặt vuông, giọng trầm mà hòa nhã. Bên trái là một gã trẻ hơn, gò má cao, miệng hay nhoẻn cười. Người còn lại lớn tuổi, râu điểm bạc, ngồi điềm tĩnh, cặp mắt bình thản như người đã quen đường dài.

   Ngô lão tháo chiếc rương gỗ sẫm khỏi vai, đặt gọn cạnh chỗ ngồi rồi chắp tay:

   “Xin phiền các vị một đêm. Đường núi xa, mưa nặng hạt, chỉ mong có chỗ lửa ấm.”

   Người ngồi giữa gật đầu, cười nhạt như ánh lửa:

   “Đêm mưa gặp người đồng hành cũng là cái duyên. Mời ngồi. Các vị đi đường từ đâu tới?”

   Ngô lão gia đáp, vẫn cái giọng thân tình của người đi buôn:

   “Dạ, tôi người Thiên Trường, vẫn quen đi các mường đổi hàng. Chuyến này tôi trực tiếp dẫn đoàn lên mường Xia.”

   Người kia nhìn Ngô lão, rồi như nhớ ra, nói nhẹ mà đúng mực:

   “Thiên Trường, đoàn đông thế này chắc là Ngô lão gia rồi. Tôi từng nghe người ta nhắc. Đoàn Thiên Trường đi đâu cũng có tiếng.”

   Ngô lão cười, xua tay:

   “Tiếng tăm gì đâu. Chẳng qua đi nhiều nên quen đường, quen người. Nói cho cùng cũng là cơm áo cả thôi.”

   Người ngồi giữa đưa tay giới thiệu, giữ lễ như người trong giới:

   “Chúng tôi cũng là kẻ buôn bán. Lần này đi tuyến trên.”

   Ngô lão nghiêng đầu, giọng cởi mở hơn:

   “Vậy càng tốt. Người trong giới gặp nhau giữa núi rừng, coi như có duyên. Còn ba vị đây không biết từ đâu tới?”

   Người kia đặt chén xuống, nói gọn:

   “Cũng không dám nói lớn, chúng tôi là người của Thiết Hội.”

   Ngô lão gia như nhẹ hẳn mặt, nụ cười rạng hơn:

   “Thiết Hội ư? Ở Đông Kinh ai mà chẳng biết. Hóa ra gặp người một nhà giữa núi rừng. Thật có may.”

   Người ngồi giữa gật đầu, nói như giới thiệu hàng hóa:

   “Không dám rồi, cũng chỉ là vài cái cuốc, cái liềm. Không đáng nói tới.”

   Ngô lão cười, chắp tay:

   “Ba vị đây lại khiêm tốn quá rồi. Thiết Hội gần chục năm nay là thương hội bậc nhất. Đi đâu cũng thấy có người.”

   Ba người kia cũng cười, như không muốn để lão Ngô nói thêm nữa. Họ dịch ra, nhường chỗ gần bếp. Mọi cử chỉ đều đúng mực, song trong từng động tác lại có vẻ gọn và chắc của người quen luyện thân.

   Lê Thục Đoan nhận ra trước tiên. Ánh mắt nàng lướt qua bàn tay người đối diện. Nàng nghiêng sang chồng, nói rất khẽ, như gió lùa qua vạt áo:

   “Người buôn sắt mà tay như người luyện.”

   Trần Quân Vũ nhìn một vòng rồi đáp khẽ:

   “Thiết Hội có bốn phường. Trông thân thủ thế này, e là Phường Vệ.”

   Ngô lão gia vẫn giữ nụ cười, đặt bọc rượu xuống, rót ra mấy chén đất nhỏ:

   “Đường xa, uống chút cho ấm. Thiết Hội đi khắp Đại Việt, hẳn chuyện làm ăn nhiều lắm. Năm nay sắt ở Đông Kinh lên giá hay xuống giá? Lò rèn phía Đa Sỹ dạo này có còn đều tay không?”

   Người ngồi giữa đón chén, cụng nhẹ. Hắn đáp vừa đủ, như người nói cho qua chuyện:

   “Giá cả lên xuống theo mùa thôi. Việc lò rèn thì chúng tôi không nắm tường tận. Đi đường nhiều, biết mỗi việc phải giữ hàng cho chắc.”

   Ngô lão cười theo, nhưng trong cái cười đã có một vệt thắc mắc mảnh như sợi khói. Người của Thiết Hội mà nói chuyện giá cả, chuyện lò rèn lại nhạt thế này.

   Ông liếc sang Trần Quân Vũ một cái, như hỏi không lời. Quân Vũ đặt chén xuống, giọng thẳng mà vẫn giữ lễ:

   “Thiết Hội có bốn phường. Phường Trung thì không mấy khi đi xa, ba vị lại không rành chuyện lò rèn, chuyện giá sắt, chắc không phải người của Phường Buôn, cũng không phải thợ của Phường Rèn.”

   Quân Vũ nhìn thẳng vào người ngồi giữa.

   “Nếu vậy, e ba vị là người Phường Vệ?”

   Ba người kia nhìn nhau rất nhanh. Người ngồi giữa vẫn cười, nhưng nụ cười đã mỏng đi. Hắn gật đầu một cái, đáp gọn:

   “Phải. Phường Vệ.”

   Quân Vũ khẽ nghiêng người.

   “Tôi là Trần Quân Vũ. Đây là vợ của tôi, Lê Thục Đoan. Vợ chồng tôi cũng ăn cơm bảo tiêu, theo đoàn buôn đã nhiều năm.”

   Ba người kia “à” một tiếng, ậm ừ cho qua. Cái kiểu đáp cho có, rõ là không biết, cũng không định hỏi sâu. Quân Vũ không bận tâm, chỉ nhấc câu chuyện trở lại, giọng vẫn đều nhưng ép sát hơn:

   “Đã là bảo tiêu trông hàng, sao tối nay ba vị lại không theo hàng mà nghỉ ở đây?”

   Người ngồi giữa nhấc chén lên, đặt xuống ngay, như cân lại lời.

   “Hàng của hội đã qua đèo trước rồi. Chúng tôi có chút công việc ở chân đèo, nên tối nay nghỉ lại. Sáng mai mới vượt.”

   Câu trả lời trơn tru, hợp lý. Nhưng càng hợp lý lại càng khiến người ta khó nắm được “công việc” ấy là việc gì.

   Ngô lão gia nghe “mai mới vượt” thì mắt sáng lên, giơ tay gạt Quân Vũ đi rồi xoay câu chuyện theo kiểu thương hồ, không vòng vèo:

   “Thế thì quý hóa. Mai đoàn tôi cũng vượt Pha Phanh. Xe hàng nặng, dốc lại dài. Nếu ba vị tiện tay, cho tôi xin mấy sức đẩy xe qua đoạn dựng, tôi xin hậu tạ. Cùng người trong giới buôn bán cả, giúp nhau một tay, đường dài đỡ cực.”

   Người ngồi giữa nhìn lướt qua số hàng hóa của Lão Ngô, rồi đặt chén xuống, gật ngay:

   “Được. Mai cùng vượt, giúp được thì giúp.”

   Hai người kia cũng đồng ý, lời ngắn gọn:

   “Được.”

   “Không thành vấn đề.”

   Ngô lão gia cười rạng rỡ, như vừa nhặt được một món lời giữa đường:

   “Vậy thì tốt quá. Đêm nay có lửa ấm, mai có người đồng hành, đường núi cũng dễ thở hơn.”

   Người ngồi giữa gật đầu, đưa chén lên nhấp một ngụm, ánh mắt nhìn qua hiên nơi mưa giăng trắng:

   “Pha Phanh sáng sớm gió cắt lắm. Xe nặng thì nên buộc lại dây càng, kẻo giữa dốc tuột mất là thành chuyện.”

   Ngô lão cười, giọng đã vào thế tâm sự làm ăn:

   “Đi tuyến này mấy lần, tôi cũng biết chỗ đó. Chỉ ngại mưa dai, đường trơn, bánh xe không ăn. Mai tôi tính xin thêm trai tráng bản một lượt, cho chắc.”

   Ngô lão gia rót thêm một chén, đưa về phía người râu bạc:

   “Các vị đi tuyến trên nhiều, chắc cũng biết tình hình trên này. Nghe nói năm nay quan Tạo mường Xia cho cấm buôn bán với Ai Lao, có phải chăng?”

   Người râu bạc nhận chén, nhấp một ngụm. Hắn đặt xuống, nói đều, không thừa chữ:

   “Có cấm. Năm ngoái còn lỏng, năm nay gắt. Đường qua biên bị chặn, không được buôn bán gì với bên đó nữa.”

   Ngô lão gật gù, như chỉ hỏi chơi cho biết. Ông cười nhạt:

   “Vậy là đúng như lời đồn. Đường khóa thì khổ dân buôn.”

   Người râu bạc vẫn giữ giọng bình thường, nhưng câu tiếp theo bỗng đi sâu hơn mức xã giao:

   “Lão gia hỏi kỹ thế… là chuyến này tính ghé mường Xia rồi quay về luôn, hay còn định men sang Ai Lao?”

   Ngô lão cười, xua tay như xua một chuyện không đáng:

   “Ôi, tôi chỉ hỏi cho chắc đường. Đường quan cấm thì ai dám đi. Tôi lên mường Xia đổi hàng rồi về thôi.”

   Người râu bạc gật nhẹ, như tin mà cũng như ghi nhớ. Hắn hỏi tiếp, rất tự nhiên như dân đi buôn hỏi nhau:

   “Thế lão gia nghe tin cấm từ đâu? Ở dưới Thiên Trường mà cũng truyền lên tới đây, chắc có người đi tuyến này về kể lại.”

   Ngô lão đáp, ánh mắt có phần né tránh:

   “Tôi nghe người trong chợ phủ nói lại. Đi đường thì phải nghe ngóng thôi.

   Người râu bạc không đáp, đảo mắt nhìn quanh bếp như tìm chuyện khác để nói. Thấy Ban đang hong vạt áo gần lửa, hắn hỏi đều đều, đúng kiểu hỏi khách lạ cho biết:

   “Cậu nhỏ kia là người bản à?”

   Ngô lão đáp lời trước khi Ban kịp nói:

    “Đúng rồi, nó xin tôi theo để học việc, thằng nhóc này cũng có chút tài, nhưng đi hết đất mường Hạ thì không còn biết đường nữa.”

   Người ngồi giữa đặt chén xuống, xen vào, giọng bình thản như người tính đường cho ngày mai:

   “Mai lên đèo, cậu biết tới đâu?”

   Ban lắc đầu ngay:

   “Dạ… con chỉ biết tới chân đèo. Lên trên con không dám chắc. Con có chút nghề thợ săn, nhưng chắc cũng chỉ được việc chân tay thôi.”

   “Ừ.” Người kia đáp một tiếng, coi như nghe cho biết rồi thôi, không hỏi thêm.

   Ngô lão gia cười xòa, kéo câu chuyện về đúng chỗ nhẹ nhàng:

   “Thằng nhỏ quen rừng, được việc chạy vặt. Mai lên dốc có thêm mấy vị giúp, chắc nhẹ việc.”

   Người trẻ hơn bật cười khẽ:

   “Người trong giới buôn bán, gặp nhau thì đỡ nhau. Không sao.”

   Thục Đoan thấy cái cách họ nhìn Ban lúc nãy hơi kỹ hơn mức xã giao. Nàng nghiêng sang chồng, nói rất khẽ:

   “Ta thấy họ liếc thằng nhỏ kỹ quá.”

   Trần Quân Vũ không quay sang, mắt vẫn nhìn bếp lửa, chỉ đáp gọn:

   “Bảo tiêu mà lại không đi trông hàng, mắt mũi nhìn ngang dọc những thứ quý. Đêm nay cứ để ý hàng cho chắc.”

   Bên ngoài, mưa vẫn rơi đều trên mái. Trong nhà sàn, tiếng chén chạm nhau thưa dần. Lửa bếp co lại, đỏ âm ỉ. Ba người Thiết Hội nói ít đi, ngồi thẳng lưng theo thói quen đi đường, như người quen giữ nếp ngay cả lúc nghỉ.

   Sáng hôm sau, khi trời vừa hửng, bếp vẫn còn than đỏ. Ngô lão đứng dậy khoác áo, giục đoàn:

   “Lên đường thôi.”

*****

0

Bình luận

Thiết lập văn bản

Chọn font chữ

Nội dung sẽ hiển thị như thế này