Qua đèo
QUA ĐÈO Đường lên đèo Pha Phanh hẹp như sợi chỉ, lầy lội vắt qua sườn núi. Một bên là vách đá dựng đứng, bên kia là vực sâu hút mắt, chỉ cần trượt một bước là tan trong sương. Đoàn Thiên Trường lục tục chuẩn bị từ khi trời còn xám. Bánh xe cắm sâu trong bùn, mỗi lần nhích được một đoạn lại phải hai người kéo, một người giữ. Ngô lão gia đi trước, giọng vang át cả tiếng gió: “Ai khỏe ra trước giữ dây, yếu thì đi sau. Cẩn thận, trượt một bánh là mất cả xe!” Có một chiếc xe nằm giữa đoàn, thùng hàng nặng đến mức bánh lún sâu đến gần trục. Mấy người thanh niên bản Thái hò nhau đẩy, bùn phun lên đến gối mà xe chỉ nhích được nửa gang. Ngựa kéo phía trước cũng rống lên, lắc cổ, chân quỵ xuống một cái rồi lại gượng, mắt trắng dã. Ngô lão gia kêu lớn: “Quân Vũ, mau đến giúp ta với!” Trần Quân Vũ vội nhảy đến, quấn thêm vải quanh tay, cúi người nắm lấy dây. Vai ông rộng, cơ nổi qua lớp áo ướt. “Giữ cho chắc,” Quân Vũ nói nhỏ, như nói với dây chứ không nói với người. Ông dồn sức. Sợi dây rung lên theo nhịp gân. Chiếc xe nặng trồi lên khỏi hố bùn một chút rồi lại tụt. Quân Vũ nghiêng người, chân chống chặt rồi kéo tiếp. Thân hình căng như dây cung. Đến nhịp thứ ba, bánh xe bật khỏi hố, lắc một chặp mới đứng vững. Đám người phía sau thở bật ra như vừa thoát một nhát chém. Lê Thục Đoan đi sát bên giữ dây phụ. Cô không nói, chỉ liếc chồng một nhịp, rồi lại nhìn đường. Mưa đêm qua còn đọng thành vũng, mỗi bước trượt đều có thể là bước cuối. Lương Ban theo sau, vừa đẩy xe vừa quan sát. Cậu nghĩ thầm: người này mà ở bản ta, hẳn được gọi là có sức của trâu rừng. Dốc càng lên cao, đường càng hẹp. Cành rừng quét ngang mặt, lá ướt tát nước vào mắt. Đúng lúc đoàn lách qua một khúc ngoặt, chiếc rương gỗ sẫm Ngô lão đeo xéo bên sườn bị vướng mạnh vào cành cây. Dây da căng giật một cái, rồi “phựt” đứt. Rương rơi xuống bùn, lăn một vòng, dừng lại sát mép vực. Ngô lão gia khựng lại, mặt thoáng trắng. Ông bước chồm tới theo phản xạ, nhưng chân trượt, suýt mất thăng bằng. Người râu bạc nhảy tới chụp lấy chiếc rương trước khi nó lăn thêm. Hắn giơ lên, nhìn rất kĩ, rồi lắc nhẹ xem bên trong là gì, ý như chưa muốn trả lại. “Ngô lão gia, bên trong hộp này là gì? Chắc không phải bạc rồi, ta lắc không nghe tiếng.” Ngô lão gia mặt tái đi, giọng đã hơi gắt: “Đồ cá nhân thôi, phiền các vị trả lại giùm.” Người râu bạc khẽ cười, hai người Thiết Hội kia cũng đồng loạt đứng lại gần, tình thế như đang rơi vào thế khó xử. “Ngô lão gia, ông nói cho chúng ta biết, bên trong đây là gì, thì ta trả lại” Ngô lão nhìn sang Quân Vũ và Thục Đoan, ra hiệu tiến lên. Rồi nói, giọng gay gắt: “Thiết Hội các vị xưa nay có tiếng tăm lớn, cớ làm sao lại đi tò mò mấy món đồ cá nhân của người khác?” Người trẻ tuổi đã không còn cười, nói lạnh tanh: “Đồ cá nhân thì tốt. Nhưng từ lúc gặp ngươi, ta đã thấy ngươi không giống người chở hàng bình thường. Hộp này lắc không kêu, hai hòm kia khóa chặt… thứ trong đó e không phải thứ nên đi qua đèo này.” Quân Vũ và Thục Đoan đã vào thế, nói ngay: “Đồ gì thì cũng là của người khác, các vị cũng là bảo tiêu, hà cớ sao lại đi cầm đồ của người khác mà không chịu trả.” Ba người Thiết Hội không đáp, toan cạy mở chiếc rương của lão Ngô ra ngay. Quân Vũ và Thục Đoan lao đến, chỉ một cái chợp mặt, họ đã ở ngay trước mặt ba người Thiết Hội. Người râu bạc cảm thấy vai mình đau buốt, như bị cái kẹp sắt ghì chặt lấy. Hắn kêu “a” lên một tiếng. Quân Vũ đã tóm chặt được vai của hắn, không tài nào thoát ra được. Hai người còn lại rút kiếm “xoẹt” một tiếng, nói lớn: “Hai vợ chồng kia, đừng cản bọn ta.” Lưỡi kiếm của chúng còn chưa kịp rút ra khỏi bao, đã thấy một đường kiếm mảnh lướt qua mặt. Thục Đoan tiến tới, kiếm đi nhanh mà uốn lượn như nước chảy, không biết sẽ chém vào đâu. Hai kẻ còn lại thấy nguy, bèn lùi lại một bước, kiếm vẫn chưa kịp rút ra. Quân Vũ nắm tay thành quyền, hướng thẳng ngực người râu bạc mà dồn lực: “Mau trả lại đồ. Bằng không hôm nay xương thịt ngươi nát vụn.” Người râu bạc mặt biến sắc. Hắn bất ngờ hất chiếc rương lên cao, quăng thẳng ra phía vực. Quân Vũ khựng quyền, buông đối thủ, lao tới. Ông chụp được rương, thân người trượt theo bùn. Một tay kẹp rương vào ngực, tay kia quờ bám lấy mỏm đá trồi ra mép đường. Đá lạnh, bùn trơn, gân tay nổi lên căng như dây. Tình thế bất lợi, ba người Thiết Hội không dám nấn ná, nhân lúc hỗn loạn chạy ngược xuống chân núi, vừa đi vừa nói lớn: “Các người hãy nhớ, chuyện này chưa xong đâu.” Thục Đoan khẽ nhíu mày, nhưng không đuổi. Cô nhìn xuống mép vực, gọi lão Ngô: “Lão gia! Mau thả dây!” Trong đoàn người còn lúng túng. Dây kéo xe đang căng, chẳng ai dám cởi. Ngô lão gia mặt trắng bệch, môi mấp máy như không ra tiếng. Ngay lúc đó, Ban đã có mặt bên một gốc cây to. Cậu quăng gùi xuống, rút dây thừng, vòng nhanh quanh thân cây hai lượt, siết nút gọn như thợ rừng thắt bẫy. Động tác dứt khoát. “Anh Vũ!” Ban gọi lớn, ghé sát mép nhưng không đặt chân lên bùn trơn. “Em thả thòng xuống! Móc vào nách!” Cậu quăng thòng lọng xuống. Quân Vũ luồn dây vào dưới nách, siết chặt. Ban giật thử một nhịp, nghe nút ăn, rồi hô: “Kéo! Kéo đều tay! Đừng giật!” Mấy trai bản và người trong đoàn nhào tới nắm dây. Họ kéo từng nhịp, hơi thở phì phò. Ban giữ nhịp, hô đều. Quân Vũ theo dây mà trườn lên; bàn tay bám đá rát buốt, móng cào vào bùn. Cuối cùng ông cũng lăn được lên mặt đường, vẫn ôm chiếc rương sát ngực. Ngô lão gia giật lấy rương, ôm chặt như ôm một bí mật. Ông không giải thích, chỉ gằn giọng: “Đi tiếp! Không đứng lại!” Đoàn lại cúi người kéo xe. Tiếng dây nghiến, tiếng người thở dồn, mùi bùn ẩm nồng quện trong mưa phùn như khói lạnh. Đến giữa dốc, Ngô lão gia gọi: “Nghỉ chút! Cho ngựa lấy hơi!” Quân Vũ gỡ dây, ngồi xuống tảng đá ven đường. Mồ hôi hòa bùn chảy dọc sống lưng. Thục Đoan đưa bầu nước, ông lắc đầu. Ban ngồi gần, nhìn rồi nói thật: “Anh Vũ, sức của anh mạnh thật.” Quân Vũ lau tay, cười nhạt: “Cám ơn cậu đã cứu ta. Muốn mạnh thì phải rèn, dần dần rồi sẽ mạnh.” Ban gật đầu: “Mấy người kia sao lại muốn cướp đồ của chúng ta vậy anh?” Quân Vũ bật cười, giọng hiền: “Ta cũng chưa rõ. Nhưng cậu còn nhỏ. Việc mình là đi đường cho qua. Đừng ôm thêm chuyện vào đầu.” Ban cười. Trong lòng vẫn còn thắc mắc, nhưng không dám hỏi thêm. Nghỉ xong, họ kéo tiếp. Dốc cuối dựng đứng hơn, bùn loãng dần, chuyển sang đá trơn. Bánh xe lăn qua bãi đá nghe rít rít. Sương mỏng đi. Gió thổi mạnh như dao cùn cạo vào mặt. Lên tới đỉnh, mây bị xé thành từng mảng. Phía đông, sông Nặm Mo uốn dưới thung như dải bạc đục bùn. Phía tây, dòng Nặm Luông rộng hơn, nước đậm màu đất, hơi lạnh bốc lên như khói. Ngô lão gia chỉ tay, giọng đã dễ thở: “Qua đèo này là đất mường Mìn. Tới đó nghỉ, đổi người kéo. Rồi men đường sang mường Xia.” Đoàn thở phào. Họ nghỉ nửa canh rồi xuống dốc. Đường phía tây thoải hơn nhưng dài, đất ướt trơn. Ngựa thở hồng hộc, bánh xe văng bùn. Tới xế chiều thì thấy nhà sàn thấp thoáng trong màn mưa mỏng. Đêm ấy ở mường Mìn, lửa bếp cháy đỏ nhưng không ai nói nhiều. Chiếc rương gỗ sẫm được Ngô lão gia kéo sát bên mình, như kéo một cục đá nặng không muốn rời. Sáng hôm sau, đoàn rời mường Mìn, tiếp tục lên mường Xia. Sương chưa tan, bùn còn mềm. Đường rừng nối đường rừng: hết dốc lại đến khe, hết khe lại sang bãi đá. Đang đi, Quân Vũ tiến lên phía trước, hỏi gặng lão Ngô: “Lão gia, hai hòm hàng với chiếc rương kia là gì mà bọn người lạ lại can dự như vậy?” Lão Ngô trầm ngâm, đáp lấp lửng: “Hàng thì vẫn là hàng buôn bán thôi. Chắc bọn này là cướp đường, giả danh Thiết Hội. Mà chuyện cũng đã qua, không nên nói đến nữa.” Quân Vũ nhăn mặt nhưng không hỏi thêm. Tính lão Ngô xưa nay vẫn úp mở. Nốt chuyến hàng này xong họ cũng nghỉ rồi, không nên quá bận tâm. Ánh mắt Quân Vũ hướng về một thung lũng rộng phía tây, nơi những mái nhà sàn nằm san sát. Mường Xia mở ra trước mắt, giàu có, trù phú. Nhưng cũng có thể là nơi người tráng sĩ đi rồi không bao giờ quay về nữa. ***** |
0 |