Chương 16
Sương đặc đến nỗi ôm trọn bản San thành một màu trắng xóa. Trên mái tranh, những giọt nước li ti tụ lại thành dòng, rơi chậm rãi xuống nền đất. Đứng dưới sân, Ban nhìn lại căn nhà của mình một lần cuối. Tết đã qua, nhưng mùi rượu, mùi mắc khén, mùi thịt nướng vẫn len lỏi trong cái nồm ẩm đặc quánh của mùa xuân, phảng phất theo gió.
Đến khi đầu tóc nặng trịch vì nước, Ban mới lấy tay xoa đầu, quay gót xuống dưới bản. Gùi sau lưng cậu chẳng có gì nhiều, một nắm cơm nếp, thịt khô, một bộ quần áo bạc phếch, một bầu nước, cây nỏ và con dao rựa của bố. Tất cả được phủ bằng một tàu lá chuối.
Đến sân nhà già Ết, mọi thứ im ắng. Một cái Tết nghỉ ngơi khiến người ta lời đi. Chắc chưa ai dậy. Trời sương đặc thế này, thằng Pang có quét sân cũng bằng thừa, không khéo còn bẩn hơn. Ban tiến đến cầu thang, cởi đôi dép rơm, xoa xoa chân vào bậc gỗ rồi bước lên nhà. Già Ết vẫn ngồi yên bên cửa sổ, ông bất động. Người đã già cả, qua một cái Tết lại uống thêm không biết bao nhiêu rượu. Tự nhiên sinh ra cái tính mơ màng, trời mưa hay nắng, lạnh hay nóng, ông chỉ hướng mắt nhìn về những chốn xa xăm.
- Già, con đến chào già, con đi đây ạ.
Ban cố nói lớn hơn một chút, sợ già Ết không nghe thấy. Mà ông không nghe thật, vẫn cứ ngồi bần thần như thế.
- Già, con Ban đây.
Đến lúc này, già Ết mới nghe thấy. Ông quay lại nhìn, chưa kịp nói đã ho sù sụ. Cây ống điếu đang dựa bên vách cũng theo nhịp cơn ho mà lăn kềnh ra. Nước chảy qua kẽ nhà sàn, bốc lên mùi hôi nồng nặc.
- Ờ. Thế là mày vẫn đi à?
- Con đi. Ở bản mãi cũng buồn lắm, con lớn rồi. Tay chân khỏe mạnh. Con muốn đi xem người ta ở ngoài kia sống thế nào.
Già Ết không đáp. Ông dựng ống điếu lên, lấy vạt áo lau sạch rồi gọi xuống dưới bếp:
- Thằng Pang! Mang nước lên cho tao.
Có tiếng chạy rầm rập trên sàn tre. Thằng Pang mang vội cái tích nước lên nhà, tay chân lóng ngóng. Nhìn thấy Ban đang đeo gùi, nó vội vàng nói:
- Anh, sao cứ phải đi? Ở lại bản với em không vui à?
Ban cười, xoa đầu thằng nhỏ.
- Anh đi thì mới lớn được. Sau này Pang lớn cũng đi như anh.
Thằng Pang nghe xong thì gạt tay Ban ra. Câu này, suốt cả một cái Tết, nó đã nghe đến nhàm tai. Nó tức. Người bạn duy nhất của nó không hiểu ăn phải con hoẵng thối hay sao mà nhất định đòi đi cho bằng được. Chẳng lẽ cứ phải đi thì mới làm người lớn được? Anh Pẩu, chị Hôn cả đời lủi thủi ở cái bản này vẫn sống, vẫn khỏe re, chân tay đi lại thoăn thoắt, có phải không lớn đâu.
- Làm gì mà mày thẫn thờ ra thế. Đi qua nhà thằng Pẩu, gọi nó về đây.
Pang nghe già Ết nói thì giật mình. Nó vẫn hậm hực, chạy vụt đi luôn. Vừa xuống đến cái sân còn trơn nhẫy, nó đã ngã oạch. Nhưng nó không khóc, cứ thế cắm đầu chạy.
Đợi đến khi thằng Pang đã đi khỏi, Ban mới tháo gùi, lấy ra tấm khăn piêu:
- Già, cái này là của mẹ con à?
- Không. Cái này là của bố mày.
Già Ết nói xong lại châm thuốc hút. Khói còn chưa kịp nhả ra, ông đã ho sù sụ như bị sặc nước. Mãi đến khi cơn ho dừng lại, Ban mới dám hỏi tiếp:
- Sao lại của bố con được? Cái này của mẹ con mà.
Già Ết cười nhẹ. Ông làm một hớp chè rồi mới nói:
- Mày biết bố mẹ mày đều không phải người bản San rồi. Mẹ mày ở mường Xia. Còn bố mày, mày có biết từ đâu đến không?
Ban ngẩn ra. Trước nay cậu nghĩ khăn piêu đội đầu phải là của các bà, các mẹ, chứ đàn ông con trai ai lại giữ thứ này. Cậu cũng chưa hiểu hết hoa văn thêu trên đó, chẳng rõ liệu có ai biết hay không.
- Không cần nghĩ, để tao nói cho nghe.
Ban nghe thế thì ngồi thụp xuống, xếp bằng dưới sàn rồi chồm người về phía già Ết.
- Hoa văn trên khăn piêu đấy có hình con hổ. Mày không biết đâu, bố mày trước khi đi cũng từng hỏi tao. Tao không biết. Ngày ấy, tao mang luồng, mang gỗ quý xuống nộp thuế cho quan Tạo mường Hạ, rồi sang mường Ca Da chơi hội xuân. Tao thấy bố mày trôi trong một cái nôi trên sông Mã nên nhặt về.
Già Ết nói xong một tràng dài, lại thở dốc. Một lát sau, ông mới nói tiếp:
- Cái khăn piêu ấy, ngày đó còn đính vàng, đính bạc nữa. Nó nằm trong cái nôi của bố mày. Tao không tham, tao chỉ thương đứa con nít đang tím ngắt thôi. Nên tao nuôi, tao đặt theo họ của tao. Tao là Lương Ết, nó là Lương Chính, còn mày là Lương Ban.
Ban như chưa tin vào những gì đang nghe. Cậu trố mắt nhìn. Không phải vì cậu nghi già Ết nói dối. Cái miệng của ông mà còn nói dối thì có đi khắp mường Hạ cũng chẳng tìm được ai thật thà nữa. Chỉ là đến bây giờ cậu mới biết sự thật ấy.
- Thế già có biết tại sao bố con lại đi không?
- Thì đi tìm vợ. Mày cũng đang đi tìm vợ còn gì.
- Con chỉ đi xem thôi. Xấu xí như con thì ai mà lấy.
Già Ết lại cười. Ban đã lớn tồng ngồng, mười sáu tuổi rồi, chứ có phải thằng nhóc cạy gỉ mũi như Pang đâu mà còn chối. Chỉ là ông cười to quá, quên mất Ban thật ra đâu hẳn đang đi tìm vợ.
Bỗng dưới sân có tiếng quát của anh Pẩu. Thằng Pang không chịu để anh cõng, đã đi chân đất còn chạy nhanh, ngã xoành xoạch, người lấm lem hết cả. Già Ết thấy vậy thì gọi với xuống:
- Nhanh nhanh lên đây, tao bảo.
Anh Pẩu thôi càm ràm, vội lên nhà rồi nói:
- Trời còn ướt, già gọi con sớm thế?
- Vợ mày đâu?
- Nhà con đang đồ xôi. Hôm nay mưa, còn việc gì nữa đâu?
Già Ết nghe xong, thò tay vào cái túi nhỏ đeo bên hông, lần mãi mới lấy ra mấy đồng bạc rồi sẵng giọng nói:
- Mày đưa con Hôn với thằng Pang xuống mường Hạ mà chơi. Chơi chán thì tìm thuê cho tao một người biết chữ. Lên đây tao có việc.
Anh Pẩu không cãi, xòe bàn tay nhận mấy đồng tiền rồi quát thằng Pang đi theo, chẳng kịp thắc mắc gì. Chỉ có Ban ngồi lại, cậu hỏi ngay:
- Sao phải tìm người biết chữ ạ?
- Tao muốn ghi lại cái gì đấy để mày về còn đọc. Mày họ Lương, cũng nên giữ lấy một thứ của tao, sau này còn kể lại. Mà thôi, mày đi đi. Tao mệt, để tao nghỉ.
Ban nghe thế vẫn chưa muốn đi. Cậu còn muốn hỏi thêm về bố, về mẹ. Với lại, chân Ban bỗng nhũn ra, cái cảm giác muốn được ở lại bản San tự nhiên lại mò đến. Nhưng cậu chưa kịp phản ứng, già Ết đã gắt:
- Đi đi, đừng có ở đây nữa. Muốn đi thì đi cho nhanh. Sao cứ phải thẫn thờ ra thế? Chuyện bố mày, tao chỉ biết có vậy thôi.
Đơn giản là vậy, thế mà Ban chảy nước mắt. Cậu lấy tay xoa vội hai gò má rồi xách gùi đi luôn. Già Ết nói cộc, nhưng có gì ông cũng nói hết rồi, cậu còn việc gì phải chần chừ nữa. Việc đã quyết là làm, không nên nghĩ ngợi mãi.
Vừa ra khỏi cổng, Ban đã thấy vợ chồng anh Pẩu cùng thằng Pang đang dắt díu nhau chuẩn bị xuống mường Hạ. Trước khi đi, họ vẫn phải lo đồ ăn, lo nước chè cho già Ết, kẻo ông già cả, đến bữa không có ai nấu nướng. Thằng Pang nhìn thấy Ban thì gào lên, không thèm đi mường Hạ nữa. Đầu óc nó lúc này chỉ nghĩ đến anh Ban của nó thôi. Nhưng anh Pẩu vẫn đang ghì chặt lấy nó, miệng quát:
- Im đi, xuống mường Hạ tao mua đồ ngọt cho mà ăn. Kệ thằng Ban, nó đi mấy bữa, nó về.
- Không, thả con ra, anh Ban đi không về nữa đâu.
Thằng Pang vẫn đang nói cái gì đó, Nhưng Ban chỉ nghe được đến thế. Cậu chạy, cái gùi cứ đập vào lưng, đồ đạc bên trong xới tung hết cả. Thằng Pang vẫn chưa chịu. Nó cắn vào tay anh Pẩu, vùng ra rồi chạy theo. Cứ thế, một thằng nhỏ đuổi một thằng lớn chạy thẳng theo con đường mòn dẫn lên mường Xia. Mãi đến khi tiếng khóc của thằng Pang bị tiếng mưa rơi trên những tàu lá nuốt mất, Ban mới dừng lại. Xung quanh đã chẳng còn một ai nữa. Ngoảnh về phía sau, cậu chỉ thấy thấp thoáng mái nhà sàn và từng làn khói mỏng bay lên.
Chắc là anh Pẩu bắt thằng Pang lại rồi, Ban nghĩ thế. Trẻ con mà, vài bữa nữa nó sẽ quên thôi. Với lại, cậu có đi luôn đâu; biết đâu lên mường Xia chơi vài hôm, cậu lại về thì sao. Ban nghĩ thế rồi tự cười. Cái viễn cảnh ấy còn xa quá.
Chặt một tàu lá cọ, Ban lấy che đầu và cái gùi sau lưng, lững thững men theo đường mòn. Đi được một lúc, bên cạnh có tiếng động. Cậu chẳng phản ứng, biết đó là con Sưa rồi. Con vật cứ như biết chỗ nào có người mà tránh, nên từ thời bố cậu đến giờ, cả bản San không một ai hay nó tồn tại. Khi con hổ tiến lại gần, Ban trèo lên lưng nó. Cả hai chậm rãi rẽ khỏi đường mòn, sợ có ai nhìn thấy. Trên tay Ban, lá cọ vẫn kêu lộp độp. Sương nặng đến nỗi tưởng như mưa phùn.
*****
Trời sắp tối, Ban cùng Sưa đã đi gần hết đất mường Hạ. Ngước mắt nhìn lên, cậu thấy mặt trời đã bị những ngọn núi cao chót vót nuốt mất. Lục lại những câu chuyện cũ trong trí nhớ, Ban nhớ ra một cái tên: đèo Pha Phanh. Đi hết con đèo hiểm trở này là đến mường Mìn. Đến đây, cậu và con hổ Sưa mới rời đường tắt, nhập vào đường lớn.
Sương lại xuống. Chỉ có lúc trưa trời mới quang đãng, còn lại đều là một màu trắng xoá. Năm nay sương dày hơn, trời lạnh hơn, bước đi cũng vì thế mà khó khăn hơn. Ban nhìn về mấy đốm lửa sáng dưới chân đèo rồi lại nhìn xuống con Sưa. Nó vẫn đang lững thững bước. Ban nhảy xuống khỏi lưng con hổ, liếc mắt nhìn quanh, mong tìm được một cái hang hay hốc đá nào đó để ngủ lại. Nhưng loay hoay mãi vẫn không thấy. Cậu đành ngồi thụp bên một bụi luồng, bốc nắm xôi rồi xé miếng thịt ra ăn. Ăn no bụng rồi, cậu sẽ xuống bản xin ngủ nhờ.
Vừa ăn xong, Ban xách gùi lên vai, hướng về phía những ngọn lửa đang cháy. Gần đến nơi, con Sưa dừng lại, cũng như bao lần ở bản San. Nó không muốn đến chỗ đông người, chỉ nhìn một lát rồi quay về phía rừng. Rừng mới là nhà của nó. Tối đến, nó sẽ đi săn hoặc ngủ ở một chỗ nào đó. Rồi cũng như bao lần, tự nó lại tìm được cậu, hai ngày, ba ngày, hoặc lâu hơn. Từ đây Ban đi đường lớn, bước chân sẽ nhanh hơn, nhưng chẳng còn bạn đồng hành nữa.
Nhìn nó thêm một lúc, Ban lại đi. Đi mãi mới đến bản dưới chân đèo. Người ta đã ngủ gần hết. Cậu định tìm nhà nào còn sáng đèn để xin ngủ nhờ dưới gầm sàn một đêm, miễn có chỗ khô ráo mà nằm.
Đang đi, có tiếng người phía sau lưng:
- Thanh niên đi đâu giờ này?
Ban quay lại, nhìn thấy một bà cụ chừng sáu mươi tuổi, mái tóc bạc sáng lên dưới ánh đuốc.
- Dạ, con xin ngủ nhờ một đêm. Con không nằm trên nhà đâu, dưới gầm sàn cũng được.
Bà cụ xua tay:
- Thế nằm với trâu à? Không thấy người ta buộc trâu dưới gầm sàn kia sao?
- Cũng được ạ, con chỉ cần chỗ khô thôi.
Bà cụ cười, tàu lá chuối che trên đầu cũng rung theo:
- Bản này có chỗ nghỉ, không cần phải nằm gầm sàn đâu. Có quà thì để lại, không có cũng cứ vào. Ai lại để khách ngủ dưới gầm sàn bao giờ.
Rồi bà cụ dắt tay Ban, đưa đến một căn nhà sàn lớn. Đến cả gầm sàn cũng được đóng vách. Thoạt nhìn, căn nhà không khác gì một ngôi nhà gỗ hai tầng.
Dọc đường, bà lão kể bản thường xuyên có khách buôn ghé qua nên dựng sẵn nhà cho người ta nghỉ. Dân bản được lợi từ việc đổi chác, cũng không đòi tiền trú chân. Còn khách buôn có lệ của họ. Ai có gì thì để lại chút quà cho bản, coi như đáp lại lòng tốt. Sau này có đi qua còn tiện nghỉ chân, cũng không mang tiếng với những đoàn buôn khác.
Càng biết chuyện ấy, Ban càng ngại. Cậu rụt tay lại, không muốn nhờ vả ai.
- Ơ hay cái cậu này. Người Thái không để khách qua đường ngủ dưới gầm sàn. Không phải nhờ vả gì. Cứ coi như vào bản nghỉ chân thôi.
Ban đành nghe theo. Cậu hiểu nhà có khách mà để người ta nằm nhếch nhác thì chủ nhà cũng không yên lòng; chính Ban từng thấy già Ết đối đãi với người đi đường xa như vậy.
Đến trước cửa, cả hai nhìn vào trong. Đuốc thắp sáng choang. Bà cụ dẫn Ban vào tầng dưới, vẫn là nền đất, nhưng gió không lùa vào được. Mùi người hòa với mùi ẩm nước bám trên quần áo và mùi khói của những bếp lửa đang cháy, khiến không gian có chút ấm áp.
- Mọi người cho cậu thanh niên này ngủ nhé.
Nói xong, bà cụ quay lưng định đi. Nhưng bà chưa kịp rảo bước, đã nghe một giọng đàn ông trầm đến nỗi rung cả óc:
- Bà cụ, chúng tôi có việc muốn nhờ, không biết bản có giúp được không?
Ban hướng mắt về phía đó, thấy một người đàn ông lực lưỡng, trời còn se lạnh mà chỉ mặc một tấm áo mỏng. Đầu tóc ông ta hơi bết nước, xem ra cũng mới đến trước cậu một chút. Người đàn ông từ từ tiến lại gần bà cụ, từng bước nặng trình trịch như cắm cọc xuống nền đất.
- Không biết bản mình còn thanh niên nào không? Ngày mai chúng tôi muốn vượt đèo, mà hàng nặng, người trong đoàn lại ít. Nếu có, khi qua đến đất mường Mìn, tôi xin hậu tạ.
Bà cụ vẫn giữ nụ cười hiền hòa, điềm nhiên như việc này đã quen:
- Người không thiếu, nhưng có cần trâu kéo không? Mấy con ngựa của cậu, xem ra không đủ sức nữa rồi.
Người đàn ông nghe vậy thì vui ra mặt, cung kính nói:
- Được vậy thì tốt quá, mong già bản giúp cho.
- Vậy cậu cần bao nhiêu trâu, bao nhiêu người?
- Trâu độ dăm con, còn người thì không cần nhiều. Tôi chỉ cần họ đưa trâu về thôi.
Bà cụ trầm ngâm một lát, rồi nói luôn:
- Được, người quản trâu thì ta sẽ nhắn cho, nhưng công xá thế nào, cậu tự đi nói với họ.
Nói xong, bà cụ chào rồi đi, để lại Ban đứng ở cửa. Cậu thấy hơi ngại, đang tính tìm một góc để ngủ thì người đàn ông cất tiếng:
- Cậu thanh niên, ngày mai cậu có vượt đèo Pha Phanh không?
- Tôi có.
- Nếu cậu không ngại thì đẩy hàng giúp ta. Đến nơi, ta sẽ trả công.
Ban lưỡng lự, chưa đáp. Cậu đưa mắt nhìn những chiếc hòm khóa kỹ, còn được bọc thêm một lớp vải chống ẩm. Đếm qua đếm lại, cũng phải hơn chục cái, mỗi cái to như một cỗ quan tài.
Thấy Ban chưa trả lời, người đàn ông liền nói:
- Thôi, nghỉ lại đây đi. Mai tiện thì đẩy, không thì cũng chẳng sao.
Dứt câu, người đàn ông quay về chỗ ngồi cũ. Ban chưa đi ngay, nhìn lại cả gian phòng một lượt. Trong này dễ cũng phải đến mười mấy người đàn ông, ai trông cũng lực lưỡng. Quần áo họ mặc giống nhau, xem ra là người trong cùng một hội.
Đông người nên Ban hơi ngại. Cậu tiến đến góc nhà, đặt gùi xuống kiểm tra. Thấy đồ đạc còn nguyên, cậu mới yên tâm dựa lưng vào vách, định chợp mắt một chút. Chưa kịp vào giấc, cậu đã nghe tiếng người. Có thêm hai kẻ giống hệt nhau bước vào, một tên cầm mâu, một tên cầm thuẫn. Nhìn mặt thì cả hai còn trẻ. Một người đảo mắt nhìn quanh rồi nói:
- Ở đây có…
Người kia nói nối vào:
- …Trần Quân Vũ không?
Người đàn ông lực lưỡng trông thấy người lạ liền nhìn sang, cất giọng khách sáo:
- Hai người tìm Trần Quân Vũ? Ta đây. Không rõ hai người từ đâu đến, tìm ta có việc gì?
Quân Vũ vừa nói vừa tiến lại gần. Cặp song sinh, vẫn bình thản, mỗi thằng nhếch một bên mép, cộng lại thành ra một nụ cười:
- Quân Vũ… người ở… An Bang… có phải không?
- Tôi đây. Hai người có việc gì? Sao lại nói giọng điệu như vậy?
- Có thư… gửi.
Nói rồi, một tên lấy bức thư trong tay áo ra, đưa cho Quân Vũ.
Quân Vũ nhận bức thư, muốn xé ra đọc luôn thì chúng lại can:
- Đưa cho… người kia.
Nói dứt câu, chúng quay người đi luôn. Giữa đêm tối mịt mùng, thoắt một cái đã chẳng còn tăm hơi. Quân Vũ nhìn bức thư, thở dài, rồi không nói không rằng bước ra ngoài cửa, gọi với lên tầng trên:
- Cô gái, cô có thư.
Một giọng nói mảnh như gió mà sắc như dao từ tầng trên hắt xuống:
- Mang lên đây cho tôi.
Rồi có tiếng chân lẹt kẹt. Một người phụ nữ khoảng hơn ba mươi bước xuống. Cô ăn mặc gọn gàng, tóc cài trâm, quanh hông quấn một thanh kiếm mảnh và mềm, giấu trong lớp bao da. Cô nói với Quân Vũ, giọng khác hẳn giọng ban nãy:
- Anh để đấy, em mang lên cho. Đàn bà con gái, anh lên đấy không tiện.
Người phụ nữ ấy quay lên cầu thang. Một lát sau, lại nghe tiếng nói sắc lẻm ban nãy:
- Tối nay cô xuống dưới kia nằm.
Lại có tiếng chân lẹt kẹt, lần này nặng và dày hơn. Người phụ nữ ban nãy cùng một bé gái chừng mười tuổi đi xuống. Cô bé đang ngủ dở, mắt mũi lèm nhèm, phụng phịu vì bị gọi dậy.
Quân Vũ thấy thế, chưa đợi hai người xuống hết cầu thang đã vội dang tay đón bé gái:
- Con gái, lại đây bố thương, bố ôm nào.
Nhưng Quân Vũ mới bước lên hai bậc, giọng nói trên nhà đã gắt:
- Đứng đấy, để vợ con ông tự xuống.
Người phụ nữ nghe vậy bèn xua tay, đưa con gái xuống hết cầu thang rồi mới trao vào lòng Quân Vũ:
- Anh chiều con quá, kẻo hư ra mất.
- Em này, con đi theo mình cả ngày, mệt lắm. Không chiều thì chiều ai nữa.
Người phụ nữ nghe Quân Vũ nói xong thì gắt lên:
- Ai bảo anh cứ mang con đi.
Quân Vũ nghe xong thì im bặt. Ông chẳng biết nói gì, chỉ ôm con gái đi vào trong, để mặc người phụ nữ lẳng lặng theo sau. Hai người vừa vào, đám người cùng đoàn đã vội chào:
- Chị Thục Đoan.
Thục Đoan chỉ cười khẽ rồi cùng chồng về chỗ nghỉ. Quân Vũ vẫn ôm cô con gái, vờ như không để ý đến vẻ khó chịu của vợ. Một lát sau, Thục Đoan không nhịn được mà nói:
- Anh Vũ, anh biết là không nên, sao vẫn nhận chuyến hàng này?
Quân Vũ vẫn trầm ngâm, vuốt vài lọn tóc đang vướng trên mặt cô con gái rồi nói:
- Nốt chuyến này thôi, rồi nghỉ. Mình nợ người ta, cả phường buôn nợ người ta. Có nợ thì phải trả, sao nỡ từ chối.
- Đâu phải không còn cách trả. Anh xem, bây giờ lôi cả thảy hơn chục người trong phường đi, lặn lội cả tuần trăng, đến Tết cũng không được ăn ở nhà. Như vậy, anh có thấy có lỗi với con, với anh em ở đây không?
Quân Vũ mặt nặng trịch, không đáp, ôm con vào lòng. Thục Đoan thấy vậy càng khó chịu, tiếp tục nói xa xả:
- Mò lên tận đây, chắc anh vui lắm, gặp đủ hạng người, như ma như quỷ. Anh thử nói xem nào.
- Em thôi đi. Vỡ nợ chắc là lỗi của một mình anh? Còn cứ nói nữa, mọi người ngủ làm sao. Ở đây đâu phải chỉ có hai vợ chồng mình.
Đám người cùng phường thấy tình hình căng thẳng, một người vội xen vào:
- Hai người đừng nặng nhẹ với nhau nữa. Anh em chúng tôi tình nguyện, nào có phải ai ép buộc chi cho cam. Với lại, đã là người một nhà cả, lúc sung sướng cùng hưởng thì lúc khó khăn phải cùng nhau san sẻ chứ. Có đúng không?
Nói rồi, cả đám liền đồng thanh hưởng ứng, mỗi người khuyên một câu. Vợ chồng Quân Vũ bấy giờ mới thôi, miệng không nói nữa nhưng nét mặt vẫn chưa ai chịu ai. Đến khi tiếng người thưa dần, nhường chỗ cho những tiếng ngáy khò khò, Thục Đoan mới thở dài, vùi mình vào lòng chồng rồi ngủ thiếp đi.
Bên ngoài có tiếng chó tru. Sương mù đã thôi lơ lửng, tụ lại thành những giọt lớn, rơi vào mái tranh rồi rơi xuống nền đất.