Chương 16: Một đời vương vấn, chấp niệm cuồng si
Tôi tự dặn lòng bản thân cần phải kiên nhẫn và thay đổi sau cuộc trò chuyện ngắn với thầy Mo. Cảm giác thầy như nhìn thấu được tâm tư của tôi nhiều đến nỗi mấy việc đáng xấu hổ đều bị phơi bày ra trước mắt.
Tôi vo tròn tâm tư của mình, cảm xúc và mớ rối ren của bản thân để tập trung vào mục đích chính của buổi tối ngày hôm nay. Không thể vì lời căn dặn của thầy Mo hay nỗi phiền lòng của chính mình mà bỏ lỡ cơ hội hiếm có đang diễn ra ở làng Mỗ.
Bước vào sân đình, tấm chiếu cói được trải, xếp thành ô vuông lớn ngay giữa sân. Các bàn thấp được đặt ngay ngắn thành ô vuông nằm gọn bên trong, trên mỗi mặt bàn, giấy, mực và đèn dầu đã được người ở đình chuẩn bị sẵn.
Tôi để ý thầy Vỹ đã đi quanh một vòng, ghé qua từng chỗ các thầy giáo đang ngồi, lễ phép và khiêm nhường khi cúi chào, không quên hỏi thăm sức khỏe mọi người. Thầy Mo vào sau, cũng dạo đi theo thầy Vỹ, vẻ mặt đầy tự hào khi nhắc đến cậu con trai và tôi cũng trông thấy, thầy cười nhiều hơn mỗi khi có thầy giáo đến bắt tay và vỗ vai. Có lẽ lời khen ngợi dành cho việc giáo dưỡng để có một người con xuất sắc như bây giờ.
Hai vị trí được để trống, tôi biết ngay đó là vị trí của già làng đã chuẩn bị sẵn cho thầy Mo và thầy Vỹ. Hai cha con đi chào hỏi một vòng rồi cũng về vị trí ngồi, tôi cứ ngỡ sẽ muộn giờ nhưng hóa ra tất cả đều có ý đồ.
Chờ khi mây tan, nền trời thẫm hiện rõ, quang đãng và chỉ còn mình trăng đơn độc soi chiếu. Gió khẽ lay nhẹ tán lá, tôi cũng cảm nhận được chút se lạnh về tối.
Tôi ngước lên nhìn trăng, màu vàng nhàn nhạt nhưng yên bình ấy đã dẫn lối cho tôi vào những đêm hôm yên bình tại làng Mỗ.
“Buổi đối thơ của các thầy và viết chữ dành cho các trò trong làng sắp bắt đầu. Những người tham gia phía sau ổn định chỗ ngồi giúp tôi.” Giọng của ông Hợi, người quản lý công việc của đình chùa trong làng. Ông nhìn về phía tôi, đôi mắt hơi nheo lại cùng vết chân chim của thời gian hiện rõ ở đuôi mắt. Bàn tay run run khi giơ lên chỉ về phía đám trẻ con trật tự và ngồi ngay ngắn.
Tôi vẫn đứng bên ngoài, lặng lẽ chọn cho mình một góc ngay dưới góc cây bồ đề lớn, lấy gốc rễ nổi lên làm chỗ ngồi và an tọa ở đó quan sát. Một vị trí cao hơn so với mặt bằng chung, thuận tiện cho việc quan sát và khoảng cách vừa đủ để tôi có thể nghe cuộc trao đổi của các thầy.
Lời thầy Mo dặn, tự khắc tôi ghi nhớ, lòng bỗng trở nên tĩnh lại lạ thường, như thể những cảm xúc dồn dập kéo đến từ từ lắng xuống và khiến tôi phải nhìn nhận một cách bớt trẻ con lại.
Chạm mắt thầy Vỹ, tôi có chút né tránh, tình cảm của tôi liệu có bị nhìn thấu? Tôi quay mặt sang hướng khác, trong lòng lại có chút xáo động. Nếu như trước khi được thầy Mo dặn, tôi nghĩ bản thân sẽ vồ vập như con mèo đói và bày mưu tính kế để lại gần thầy Vỹ. Nhưng giờ đây, khi tâm tư không thể giấu mãi sau mỗi lần chúng tôi chạm mắt và việc tôi cố tình đến lớp học, muốn có được người không thể tìm mọi cách để người chú ý.
Lần đầu tiên sau bao tháng ngày tôi cố gắng theo đuổi một người, tôi tự hỏi liệu việc mình làm có đúng hay không? Điều mình làm có khiến thầy Vỹ khó xử?
Nghĩ đến thôi cũng khiến đầu óc quay cuồng, tôi chỉ biết thở dài, đặt túi vải lên trước đùi để chắn gió, không để gió thổi bay vạt áo.
Tò mò, tôi liếc mắt về phía thầy Vỹ thêm lần nữa.
Thầy Vỹ đang nhìn về phía tôi, đôi mắt nâu sắc lạnh và nghiêm đến lạ kỳ khiến tôi nấc cụt.
Giống như việc vụng trộm bị bắt gặp, tôi cúi mặt xuống, hai tay bấu chặt vào túi vải để giữ bình tĩnh. Có cảm giác thầy Vỹ đã dõi theo tôi một lúc lâu. Bắt gặp ánh mắt ấy lại làm nhịp tim tôi đập nhanh.
Vì cứ mải mê suy nghĩ vớ vẩn, tôi đã bỏ qua phần mở đầu của các thầy cho đến khi nghe thấy tiếng thước gõ vào bàn, tôi mới chợt nhớ ra mục đích ban đầu của mình đến đây là gì.
Tôi ngồi nghe các thầy ngâm thơ, thi thoảng lại phải gật gù vì tâm đắc. Ngó thử sang đám trẻ con, tôi thấy chúng cũng gật gù, nhưng không phải gật gù vì hay, mà gật gù vì buồn ngủ. Bọn trẻ lần đầu đến đình làng vào tối để học. Tụi nó chưa bao giờ nghĩ sẽ cầm bút ra đây ngồi nghe đối thơ và học chữ về đêm.
Đối với đám trẻ trong làng Mỗ, buổi tối ở đình làng là vui chơi, trò chuyện và thưởng thức món đồ ngọt hiếm khi được nhìn thấy. Vì một ngày làm việc đồng áng với thầy bu, không thì cũng ở nhà cuốc vườn, dọn dẹp, thời gian đến tối là để chúng thoải mái nô đùa.
Thú thật, ngồi nghe mấy thầy, tôi cũng không nhớ hết, căn bản, không chỉ đối thơ, các thầy còn trò chuyện về đời sống xã hội, về quan điểm sống của từng người thời nay và ước mơ nhỏ nhoi khi về già.
Tôi cũng cố gắng lắng nghe và theo kịp, ít nhất, bản thân nhớ vài thứ mà các thầy nói. Bỗng, tôi thấy thầy Mo đứng lên, vẫy tay về phía tôi. Bản thân có chút ngơ ngác, đang yên đang lành, tôi được thầy gọi vào. Tôi lắc đầu từ chối nhưng thầy vẫn cố gọi tôi lại, thậm chí còn gọi tên và tất cả phải ngoái lại nhìn xem nhân vật mà thầy trông dáng vẻ ra sao.
Cố tình chọn một chỗ yên tĩnh để quan sát, cuối cùng, thầy Mo vẫn bắt tôi phải nhập cuộc vào buổi đối thơ này.
“Nhã, lại đây.”
Bất lực, thở dài một tiếng, đeo túi vải lên, tôi chỉnh lại tà áo dài sau khi ngồi được một lúc lâu rồi mới đi về phía thầy. Kính trên nhường dưới, tôi cúi đầu chào khi bắt gặp ánh mắt của những thầy giáo già khác dõi theo.
“Con chào các thầy ạ.” Tôi đan hai tay lại, cúi đầu nói với tông giọng nhỏ nhẹ hơn so với ngày thường.
“Đây là Nhã, học trò đã theo tôi từ ngày bé đến giờ. Chắc các thầy đều quen mặt.” Thầy Mo dừng lại một lúc.
Tôi thấy sự tán thành từ tất cả, có thầy còn vừa gật đầu vừa vuốt bộ râu dài. Con gái út nhà ông Phú làng Mỗ, nghe danh đã lâu, cả làng Mỗ và làng bên ai cũng biết mặt vì tôi nghịch như giặc, cãi thầy bu ở nhà nhem nhẻm khi đi ngược lại quy tắc truyền thống. Và chính tôi, người đã được thầy nhà cho đi học ở lớp toàn nam đầu tiên trong làng, từ đó, cũng được vài bậc cha mẹ khác noi theo và gửi gắm con gái của mình với mong muốn nó biết chữ.
“Nhã là một trò ngoan và giỏi đã theo tôi từ bé.” Thầy Mo quay sang nhìn tôi rồi bảo, “Con hãy làm câu thơ tặng các thầy ở đây đi. Coi như kết thúc buổi đối thơ này.”
Hồi hộp, run và lo lắng. Tôi chưa làm thơ bao giờ, không biết nói về cái gì hay chủ đề nào. Tôi gượng cười, hai tay đan chặt vào nhau. Thầy Mo đưa tôi vào thế khó làm tôi không thể nghĩ được một cái gì.
Tôi thấy thầy Vỹ vẫn ngồi im, mặt hơi cúi xuống, dáng vẻ trầm lặng và lắng nghe. Người đàn ông ấy cả buổi hôm nay ít nói đến lạ thường, theo những gì tôi để ý, thầy Vỹ chỉ có ngồi nghe không, thỉnh thoảng lại phản ứng hoặc trả lời khi có ai đó hỏi đến mình.
“Sống một đời không vương vấn.” Thầy Vỹ nói, một cách mở đầu để tôi nói ý tiếp theo. Tôi cũng không ngần ngại, nhớ đến tình cảm của mình, đáp lại ngay lập tức.
“Sống một đời không vương vấn
Cớ sao người lại khiến tôi vấn vương.”
Thầy Vỹ ngước mắt lên nhìn tôi, ánh mắt có chút dao động. Tôi khẽ mỉm cười, vành tai tôi nóng dần vì ngại ngùng, tôi đánh liều, tiếp tục đọc những câu thơ như nỗi lòng mình trong tối nay.
“Cả đời ôm mối cuồng si
Lòng son chẳng đổi khắc ghi bóng người.
Em vì người mà chờ đợi
Ngỏ lời thương nhớ, người lại làm thinh.”
Đọc đến chữ cuối, nụ cười trên môi càng thêm khó giấu, tôi nhoẻn miệng cười và kết thúc phần thơ của mình. Nói là đối thơ nhưng cảm giác từng câu thơ như vạch trần từng tâm tư giấu kín trong lòng. Tôi đã cố ý nói đến mức đấy, nhìn thẳng vào mắt người và bày tỏ, hiểu hay không người đàn ông khiến trái tim tôi rối ren suốt bao ngày qua.
Thầy Mo động viên, khích lệ và vỗ nhẹ vào bả vai tôi. Vì quá ngượng ngùng, tôi cũng không dám ở lại thêm, nói xong câu thì tôi cũng chào tất cả rồi trở về nhà. Có lẽ đã đến lúc cần về nhà, con Lan và thằng Vệ chắc đang chờ mỏi cổ để giúp tôi vào lại nhà.
Thầy Mo cũng không giữ tôi lại, dặn tôi về cẩn thận, sau đó, tôi cũng chạy đi luôn, chẳng thèm đoái hoài nhìn thầy Vỹ xem tâm trạng người đàn ông ấy như thế nào.
Muốn về được nhà, tôi cũng phải đi qua mấy con ngõ nhỏ để đi nhanh hơn. Vừa mới đi được một đoạn, đến ngã ba để rẽ, tôi nghe thấy tiếng ai đó đang chạy lại gần. Trăng bỗng bị mây che khuất, con ngõ nhỏ tôi đi càng trở nên tối tăm hơn. Những mái nhà nằm im, khép mình trong bóng tối, mấy khóm tre già đập vào nhau khi gió lớn thổi qua.
Tôi cũng chẳng biết người đang đến là lạ hay quen, tiếng chân cũng lại gần ngay một cách rõ hơn. Nghĩ bụng chắc chẳng có chuyện gì xảy ra được, tôi quyết định mặc kệ rồi đi tiếp để về nhà. Trong người vẫn còn đôi guốc gỗ phòng thân, tôi cũng chẳng sợ kẻ xấu.
Nhưng bàn tay ấy đã kéo tôi lại trước khi rẽ vào con ngõ nhỏ, đột ngột, giữ chặt lấy cổ tay rồi giữ tôi lại. Hơi ấm ấy khiến tôi đơ mất một lúc để xác định, quay người lại và nhìn thấy dáng vẻ cao lớn.
“Ai đấy?” Tôi nói một cách gấp gáp khi sức lực vượt trội ấy không cho tôi tiến thêm một bước, có phần gấp gáp, tôi vùng vẫy mạnh hơn.
“Đừng đi hướng đấy, nguy hiểm.” Giọng nói ấy vội đáp lại.
“Thầy Vỹ.”
“Cô Nhã, đêm khuya rồi, đừng đi vào ngõ tối.”
“Liên quan gì đến thầy! Tôi cần về nhà gấp, thầy bu ở nhà ngóng trông.” Tôi vội hất tay thầy Vỹ, định lớn tiếng quát giữa đêm khuya tĩnh mịch thì nhớ ra lời thầy Mo, thật may biết dừng đúng lúc. Tôi giữ chặt túi vải đeo bên vai, đứng lùi ra sau giữ khoảng cách, cố tình nói giọng trầm, “Cảm ơn thầy. Tôi không sao, thầy cứ quay lại đình làng. Ở đây tôi tự lo được.”
“Tôi đưa em về.” Thầy Vỹ chỉ nói một câu, giọng điệu bình thản như thể đó là điều hiển nhiên.
“Không cần đâu. Tôi tự về được. Thầy cứ quay lại đình đi. Chắc thầy Mo bảo thầy đi cùng, không cần đâu, mấy ngõ trong làng tôi biết rõ trong lòng bàn tay. Tôi không muốn làm phiền thầy, tôi cũng gần về đến nhà rồi.”
“Để tôi đưa em về.” Thầy Vỹ lặp lại câu vừa rồi, không mảy may quan tâm đến những gì tôi vừa nói, lời nói còn chắc nịch hơn trước.
“Nhưng.”
“Thầy nhà không bảo tôi làm chuyện này, do tôi tự nguyện muốn đưa em về.”
Tôi không đáp lại ngay, như người chôn chân tại chỗ, chẳng thể nhúc nhích. Câu từ muốn thốt ra như bị giữ lại nơi cổ họng, thật khó mở lời với người đàn ông trước mặt. Nếu trước đây, tôi sẽ vui đến mức nhảy cẫng lên, miệng cười ngoác rộng đến mang tai nhưng sau lời thầy Mo chia sẻ, tôi cũng không dám suy diễn quá nhiều, đem từng lời dặn ấy khắc ghi và tự chấn chỉnh bản thân sao cho phù hợp.
“Thầy không cần….” Tôi ngập ngừng, siết chặt quai túi vải.
Trăng đêm cũng dần ló mặt sau lớp mây mỏng, rải xuống vai áo thầy màu nhàn nhạt. Tôi chạm mặt thầy, cố tìm một câu trả lời thỏa đáng hơn sau câu ‘tôi tự nguyện’ ấy, muốn đoán xem suy nghĩ của người này là gì nhưng thầy Vỹ vẫn điềm nhiên, không một kẽ hở.
“Tâm tư của em không phải đã nói trong lúc đối thơ rồi sao? Tôi cũng nên đáp lại dần trước khi mọi chuyện đi lệch hướng.”
“Tâm tư của em?”
“Em đã nói ngỏ lời thương nhớ, người lại làm thinh.” Thầy Vỹ nhắc lại để tôi gợi nhớ, “Tôi không nhớ em đã ngỏ lời thương với tôi trước đó. Em chỉ có cho tôi ăn guốc và đến lớp ngồi lì mà thôi.”
“Thầy không cần phải nhắc lại chuyện đấy.”
“Tôi chỉ muốn đính chính.” Thầy Vỹ tiến về phía tôi, hơi cúi mặt xuống và nhìn thẳng, đôi mắt nâu ấy nghiêm túc và thành thực, “Tôi không ngó lơ em, tôi cũng không làm thinh những chuyện em dày công đến ngồi lì ở lớp. Tôi chỉ là, cần thời gian suy nghĩ trước khi hành động.”
Tôi ngẩn người, không biết nên phản ứng làm sao cho phải. Trái tim cũng đập rộn ràng hơn, hóa ra lời tôi nói, thầy đều hiểu và ghi nhớ, bây giờ, còn đứng trước mặt tôi và giải thích tường tận để tránh hiểu lầm.
“Hôm nay tôi thấy em có chút khác lạ, tôi đoán thầy nhà đã nói gì đó làm ảnh hưởng đến tâm trạng em nhưng tôi không dám hỏi.”
“Không có gì đâu, vài lời dặn dò em cần chú ý.” Tôi đáp nhưng tôi cũng không khác thầy Vỹ, từng lời của thầy trước kia đôi lúc dập tắt ý định của tôi nên tôi muốn tranh thủ cơ hội này làm rõ, “Em vẫn nhớ đến một câu của thầy, hữu duyên ắt gặp, vô duyên bất phùng.”
“Em vẫn nhớ nó sao?”
Tôi gật đầu, đứng im chờ nghe.
“Tôi có lí do đằng sau cho câu nói ấy nhưng em có thể cho tôi thêm thời gian không?”
“Để thầy làm gì?”
“Tôi sẽ giải thích tại sao tôi lại làm vậy lúc đấy.”
Tôi nhìn thầy, trong lòng cảm thấy hồi hộp và mong chờ vào lời giải thích rõ ràng, như vậy là đủ, thầy Vỹ đã hứa, tôi sẽ để thầy có thêm thời gian và lựa chọn thời điểm thích hợp để kể. Khúc mắc trong lòng sẽ có câu trả lời khiến tâm trạng trở nên tốt hơn, tôi với thầy Vỹ đã có chuyện để giãi bày, tình cảm này của tôi có lẽ không chỉ đơn giản đến từ một phía.
“Được, em chờ thầy.”
“Vậy, thế bây giờ em có đồng ý để tôi đưa em về không?”
“Thầy định đưa em về nhà?”
“Ừ, tốt nhất nên đi cổng chính hơn là leo trèo, tôi sẽ nói đợi giúp em. Vạt áo dài của em cũng cần khâu lại đấy.”