Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Họa Mộng Sinh Yêu

Chương 3: Nơi gọi là quê hương

    Đoàn người rời khỏi kinh thành từ sáng sớm, vừa khi mặt trời ló dạng khỏi rặng núi phía xa. Con đường rộng lớn dần thu lại thành lối đất quanh co, cảnh tượng phồn hoa nơi kinh đô cũng theo đó mà khuất dần sau những bóng cây.

   Tiếng vó ngựa vẫn đều đặn vang lên, tiếng trống nghi lễ phía trước cũng dần dừng lại, thay vào đó là tiếng chim ríu rít trên những tán cây ven đường, tiếng nước chảy róc rách từ đâu đó trong núi rừng truyền lại cùng tiếng bánh xe lạch cạch lăn trên mặt đất đầy sỏi đá.

   Càng đi về phía nam cảnh vật càng trở nên giản dị. Những ruộng lúa xanh non trải dài đến tận chân núi, thỉnh thoảng lại thấp thoáng vài mái nhà đất giữa đồng ruộng. Từng làn khói bếp mỏng manh lượn lờ bay lên từ những xóm nhỏ khiến người ta bất giác cảm thấy cõi lòng trở nên bình yên.

   Con đường về làng hẵng còn xa xôi lắm nhưng dường như y đã nhìn thấy được hình dáng quen thuộc của nơi ấy từ lâu rồi. Ngôi làng nhỏ nằm nép mình dưới chân dãy núi Bạch Vân hùng vĩ cách kinh thành hơn 500 dặm, đường đi quanh co, phải men theo một con sông nhỏ rồi vượt hai triền đồi mới tới nơi.

   Nơi ấy không có những con đường lát đá rộng rãi, cũng chẳng có những mái lầu son san sát hay cửa hiệu tấp nập như ở kinh thành, phần lớn nhà cửa đều là những căn nhà gỗ thấp, mái ngói đã ngả màu theo năm tháng, có nhà còn chỉ có mỗi vách đất lợp tranh, mỗi khi trời mưa lớn lại phải nháo nhào lấy chậu đi hứng nước dột. Đường làng quanh co khúc khuỷu, mùa xuân từng khóm cỏ non mọc tràn hai bên lối đi, mùa hạ lại được bóng cây um tùm rợp mát, đến mùa thu lại bị phủ kín bởi lá vàng, còn đến ngày đông giá rét lại chỉ còn những cành cây xác xơ, sừng sững đứng hai bên đường như những quan binh canh gác bảo vệ dân làng chẳng kể mệt nhọc.

   Dù Tư Lăng theo tiên sinh học tập nên đã xa làng ba năm, nhưng hình ảnh ngôi làng vẫn được in sâu trong tâm trí. Y nhớ con đường đất trước cửa nhà năm nào, mỗi khi mưa xuống đều lầy lội đến tận mắt cá chân. Đám trẻ trong làng lại chẳng ngại bẩn, cứ chân trần chạy nhảy khắp nơi, có khi còn nghịch ngợm tới mức lấy bùn ném vào nhau, tiếng cười trong trẻo vang khắp xóm, tận cho đến khi nhìn thấy roi mây trên tay người lớn mới chịu về nhà.

   Nhớ những buổi sớm tinh mơ khi mặt trời còn chưa ló dạng, màn sương vẫn còn phủ khắp làng thì đã có người gánh rau ra chợ bán, người dắt trâu ra đồng, người thì lạch cạch bày hàng quán. Khói bếp từ mái nhà thấp thoáng bay lên, mang theo mùi thức ăn nóng hổi và củi cháy lượn lờ vòng quanh khắp xóm nhỏ.

   Người trong làng phần lớn chẳng có bao nhiêu của cải. Một trận mưa lớn có thể cuốn mất công sức cả vụ ngoài đồng ruộng, một mùa vụ thất bát cũng có thể khiến cả nhà phải dè sẻn từng đồng. Nhưng chính trong những ngày tháng khó khăn ấy, thứ tình nghĩa sâu sắc chẳng chút vụ lợi lại được phơi ra. Nhà này thiếu gạo thì sang nhà bên xin một bát, nhà kia có người đau ốm thì hàng xóm sang trông nom; đến mùa gặt nhà ai thiếu nhân lực thì chẳng cần mở lời nhờ vả, sáng hôm sau đã có người xắn quần áo xuống ruộng phụ giúp một tay.

   Những người ấy chẳng hề biết y từng là ai, chẳng biết phía sau cái tên Tư Lăng ẩn chứa bí mật to lớn nhường nào, trong mắt của họ, y chỉ là một đứa trẻ không cha không mẹ lưu lạc đến đây, nghèo khổ, ít nói lại vụng về chẳng biết làm việc gì. Thế nhưng trong suốt khoảng thời gian y ở đây, họ chưa từng dùng ánh mắt dò xét hay thương hại nhìn y. Có lẽ trong suy nghĩ của họ, một đứa trẻ đã không còn người thân thì càng nên được đối xử tốt hơn một chút...

   Nghĩ đến đó, khóe môi y bất giác cong lên. Từng chiếc bánh bao nóng, từng bát sữa đậu nành, hay một mảnh vải cũ, một vài lời nhắc nhở, đôi khi chỉ là một câu hỏi bình thường đến mức chẳng đáng để nhớ... tất cả những điều nhỏ bé ấy lại âm thầm bén rễ, trở thành một phần quan trọng trong sinh mệnh của y.

   Trải qua gần nửa tháng đi đường, trước mắt Tư Lăng cuối cùng cũng hiện ra khung cảnh quen thuộc. Vẫn là con đường đất ấy, vẫn là những bụi tre nghiêng mình bên bờ ruộng, vẫn là dòng suối nhỏ uốn lượn quanh làng, nước chảy róc rách suốt bốn mùa. Phía trước, con đường dẫn vào làng đã có thể nhìn thấy rõ.

   Phía sau cổng làng, hai bên đường đã sớm có người dân háo hức đứng chờ. Con đường đất ngày thường chẳng ai để ý nay lại được quét dọn sạch sẽ, những bụi cỏ mọc um tùm hai bên đều bị phát hết. Cổng làng nhìn là biết mới dựng lại không lâu, phía trên còn treo hai dải câu đối đỏ, mục đích không cần nói cũng biết là để mừng Tư Lăng trở về.

   Người trong làng hôm nay ai nấy đều cố ý ăn mặc chỉnh tề, người khoác lên bộ áo mới may đầu năm, người lại mặc bộ đồ để dành chỉ dùng vào dịp lễ Tết. Các vị trưởng lão đứng đầu đều mặc trường sam dài, còn đặc biệt chải lại mái tóc đã điểm bạc cho gọn gàng.

   Phụ nữ quanh năm vốn áo nâu váy sẫm cũng đổi sang bộ đồ đẹp nhất, trên đầu cài vài món trang sức bạc ngày thường chẳng dám dùng. Tụi nhỏ đã sớm được người lớn dặn trước không được chạy nhảy lung tung, cũng không được nghịch ngợm chen lên phía trước nên đành lấp ló phía sau, tìm cách ngẩng đầu cao hơn để nhìn rõ.

   Người này ghé tai người kia nói nhỏ, hỏi không biết Trạng nguyên gia bây giờ trông ra sao, có còn giống đứa trẻ ngày trước không. Mọi người đã ba năm chưa gặp lại Tư Lăng, trong trí nhớ vẫn là hình dáng thiếu niên gầy gò cả ngày chỉ biết vùi đầu vào sách vở.

   Ba năm trước, y rời khỏi làng chỉ mang theo một bọc hành lý đơn sơ cùng mấy quyển sách. Khi ấy mọi người góp tiền góp bạc, chỉ mong y học hành thành tài, có thể thi đỗ một chức quan nhỏ, sau này tìm được một chốn dung thân. Nào ai nghĩ đến ngày hôm nay y lại vinh quang trở về, trở thành người đứng đầu tam khôi. Niềm tự hào trong lòng mọi người càng lớn, sự kính trọng cũng theo đó mà nhiều thêm.

   Lát nữa Trạng nguyên gia đến, chúng ta nên hành lễ thế nào?” Có người nhỏ giọng hỏi.

   Trưởng làng suy tư vuốt râu, nghiêm túc đáp: “Theo lễ mà làm. Dù sao người ta bây giờ cũng là Trạng nguyên do đích thân thánh thượng ban ân, không thể tùy tiện như trước được.”

“Nhưng đó là A Lăng mà.”

“Dù có là A Lăng thì bây giờ y cũng là Trạng nguyên.”

   Câu nói ấy khiến mấy người xung quanh chợt im lặng một thoáng. Đúng vậy... A Lăng đã không còn là A Lăng của năm nào nữa rồi. Giờ y là Trạng nguyên tiền đồ vô lượng, vị thế cao hơn lũ dân đen bọn họ không biết bao nhiêu lần.

   Khoảnh khắc nhìn thấy Tư Lăng, không ít người đỏ hoe đôi mắt. Y quả thật đã thay đổi rất nhiều. Bộ phẩm phục khiến dáng người thanh mảnh càng thêm nổi bật, đầu đội mũ cánh chuồn, bên hông đeo đai ngọc, ánh nắng sớm rơi xuống một thân áo gấm trên người y thật chói mắt. A Lăng... đã lớn thật rồi, lớn lên tốt đẹp thế này...

   Theo động tác của trưởng làng, mọi người đồng loạt cúi người chắp tay, cung kính hành lễ. “Cung nghênh Trạng nguyên gia về làng!”

   Thanh âm già trẻ hòa vào nhau, không lớn nhưng rõ ràng, âm hưởng mang theo sự trang nghiêm mà đầy chân thành. Tư Lăng dừng ngựa nơi cổng làng, nhìn những gương mặt thân quen trong ký ức, y nhất thời xúc động chẳng biết nói gì.

   Lý thẩm đứng khuất ở hàng sau, hai tay chắp lễ trước ngực, dáng vẻ nghiêm chỉnh đến mức gần như xa lạ. Trần thúc thúc cũng đứng bên cạnh, khăn trên đầu được buộc chặt ngay ngắn, chẳng còn dáng vẻ lôi thôi ngày thường vừa cầm quạt phe phẩy, vừa cười nói với y. Vương đại nương thì cúi thấp đầu, rõ ràng vài lần muốn ngẩng đầu nhìn y nhưng lại rụt rè cúi xuống. Nhìn ai ai cũng cung kính cúi chào, sống mũi Tư Lăng bỗng thấy cay cay.

   Y chậm rãi xuống ngựa, đưa dây cương trong tay cho tùy tùng rồi bước về phía bà con trong làng. Không chờ họ tiếp tục hành lễ, y đã chắp tay cúi người.

   “Các vị trưởng bối, Tư Lăng trở về rồi!”

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px