Ma Lai Đòi Mạng
| Ngày Thị Lành đi theo bà mối về nhà chồng, Thị Lang đã khóc cạn nước mắt, con bé nắm chặt lấy bàn tay chị hai mãi không buông làm cô bịn rịn chẳng muốn xa em chút nào. Hai chị em cứ đứng trước cửa nhà khóc đến sưng cả mắt, mãi cho đến khi bà mối không thể chịu đựng thêm nữa mà đi đến tách hai người ra, thì lúc đó Thị Lành mới đau lòng buông tay em gái rồi quay lưng cùng bà mối đi về nhà cụ Thòn. Không có lễ rước dâu, cũng chẳng có thân ảnh chú rể đến nhà gái để thắp hương cho tổ tiên xin phép gia tiên cho cả hai nên nghĩa vợ chồng. Chỉ có một mình Thị Lành mặc một bộ áo dài đỏ được may đo cẩn thận, trên tay xách theo một cái túi với vài bộ quần áo sơ sài về nhà chồng mà thôi. Cô ra đi để lại bộ ximen vàng ở đó với hy vọng nhờ nó mà cha mẹ và em gái sẽ có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng rồi còn tương lai của cô thì sao? Trước một chương mới hoàn toàn của cuộc đời mình vừa được mở ra, liệu cô sẽ cảm thấy hạnh phúc hay là bất hạnh? Sau khi về nhà chồng làm vợ ba, Thị Lành lại không khác gì một cô người ở trong ngôi nhà ấy cả, chỉ có điều là cô được ăn mặc đẹp hơn những tên gia nhân khác mà thôi. Từ sáng đến tối muộn Thị Lành phải làm việc quần quật, làm mãi mà chẳng thấy hết việc. Và công việc cô phải làm nhiều nhất trong ngày là chăm lo cho đời sống thường ngày của cụ Thòn. Ngày nào mợ cả và mợ hai cũng dặn đi dặn lại cô một câu rằng ‘Phải chăm sóc chồng thật chu đáo’. Thị Lành đã luôn luôn nghe theo và thực hiện đúng với những gì mà hai mợ đã dặn. Từ những việc nhỏ nhặt nhất như giúp cụ Thòn rửa chân chải đầu, cho đến những việc nặng nhọc hơn như gánh nước về pha nước tắm cho cụ. Hay giữa đêm hôm canh ba không màn nguy hiểm đi vào rừng tìm nấm hương, chỉ vì muốn cho kịp sáng mai nấu cháo nấm cho chồng. Trong nhà lúc nào cũng đầy ắp gia nhân, nhưng cứ hễ đó là chuyện liên quan đến cụ Thòn thì Thị Lành sẽ luôn phải là người thực hiện nó. Cô luôn luôn khắc ghi lời dặn của hai chị là ‘Phải chăm sóc chồng thật chu đáo’, nhưng dù cho cô có làm tốt như thế nào cũng chẳng bao giờ được ghi nhận. Mợ cả và mợ hai vẫn cứ lắc đầu chán nản rồi lặp đi lặp lại câu nói ấy một cách đầy rập khuôn. Họ nói ra rả bên tai cô nhiều đến nỗi, đến chính bản thân Thị Lành cũng bắt đầu đâm ra hoài nghi về bản thân mình. Cô cứ nghĩ là do cô chưa đủ tốt, chăm sóc cụ Thòn vẫn còn vụng về nên cô càng ra sức để đối tốt với cả nhà chồng hơn. Cho đến một ngày nọ… ngày mà chuyện kinh hoàng ấy xảy ra khiến cho cả cái làng nghèo ở Sóc Trăng chẳng bao giờ quên được. Tròn một năm sau cái ngày Thị Lành về làm vợ lẽ cho cụ Thòn, cô đã mang thai và sinh ra một bé trai kháu khỉnh đáng yêu. Khi biết tin Thị Lành mang thai, cụ Thòn vui lắm ông bỗng dưng trở nên nâng niu chiều chuộng cô hết mực, không cho cô động tay vào bất kỳ việc gì trong nhà nữa. Thậm chí là để cô an tâm dưỡng thai, cụ Thòn còn cẩn thận giấu nhẹm cô với người ngoài vì sợ lời ra tiếng vào khiến tâm trạng cô không được tốt. Cả mợ cả và mợ hai cũng chẳng dám nói nặng nói nhẹ gì cô nữa. Và thế là Thị Lành yên ổn mà sinh đứa trẻ ra, khi biết đó là một bé trai khỏe mạnh thì cụ Thòn liền vui vẻ ra mặt. Ông còn hào phóng phát lệnh miễn thuế một năm cho người dân, khiến ai cũng được hưởng chung niềm hạnh phúc này cùng với cô. Cả nhà cụ Thòn chưa vui vẻ được bao lâu, thì đột nhiên một hôm trước tiệc đầy tháng của nhóc Tí vài ngày, Thị Lành vô tình nói với chồng rằng cô thèm ăn tim và gan heo. Cụ Thòn vì chiều ý vợ trẻ nên vội đích thân ra chợ mua về cho cô, định bụng rằng sau khi đem tim và gan heo về sẽ sai gia nhân mang đi làm sạch rồi nấu thành cháo lòng giúp người đang nằm ổ dễ ăn hơn. Nhưng khi cụ Thòn trở về nhà, có một cảnh tượng kinh hoàng đã xảy ra nó ám ảnh đến độ dù cho có chết ông cũng sẽ không tài nào quên được. Máu đỏ tươi nhuộm khắp cả sàn nhà, trong nôi là hình ảnh xác chết của đứa con trai mới sinh đã tím ngắt từ lâu, ổ bụng bị một thứ gì đó rạch sâu, ruột còn bị lôi hết ra ngoài. Và có một điều đặc biệt là chẳng tìm thấy tim và gan của đứa bé đâu cả. Cụ Thòn hoảng sợ đến nổi chẳng thể đứng vững, ông ngã ngồi xuống đất nghe ‘phịch’ một tiếng. Cả cơ thể như bị đóng băng tại chỗ không nhúc nhích được gì, cụ Thòn chỉ có thể trợn mắt nhìn trân trân về phía chiếc nôi đang nhỏ máu thành dòng trước mặt kia. Nghe thấy tiếng động lớn trong phòng mợ ba, một gia nhân đang làm việc ở gần đó cũng tò mò chạy vào trong xem thử. Và khi nhìn thấy toàn bộ cảnh tượng hãi hùng trong phòng, cô gái trẻ chẳng thể phát ra nổi bất kỳ âm thanh gì. Mùi máu tanh tưởi lập tức xộc thẳng vào mũi khiến cô cảm thấy buồn nôn, vội đưa tay bịt chặt miệng mình lại cố ngăn không cho thức ăn trong ổ bụng trào ngược ra bên ngoài. Thật may là sau cơn hoảng hốt qua đi, cuối cùng cụ Thòn cũng níu giữ lại chút lý trí cho mình, ông lật đật đứng dậy khỏi nền đất bắt đầu đưa mắt dáo dác nhìn xung quanh căn phòng tìm xem Thị Lành đang ở đâu. Lúc này trong đầu ông có cả ngàn câu hỏi và chỉ khi tìm được cô vợ nhỏ của mình mới có thể giải đáp giúp ông mà thôi. Cụ Thòn hô hoán tất cả mọi người trong nhà cùng ông tìm xem mợ ba hiện đang ở đâu. Câu chuyện này còn kinh động đến cả hàng xóm xung quanh, có nhiều người dân tốt bụng đã đến giúp đỡ ông tìm mợ ba. Nhưng tuyệt nhiên chẳng ai có thể nhìn thấy bóng dáng của Thị Lành ở đâu cả. Từ đó trở về sau, người đời đều truyền tai nhau về câu chuyện kinh dị này, họ cũng đặt cho Thị Lành một cái tên mới đáng sợ hơn nhằm xứng với những sự quái gở mà cô đã gây ra. Mọi người gọi cô là Ma Lai, một thực thể kỳ dị đã gieo rắc biết bao nỗi kinh hoàng cho người dân ở nơi đây trong suốt một khoảng thời gian rất dài sau đó. Về phần gia đình cụ Thòn, mới chỉ trong một ngày mà ông đã phải mất đi cả người vợ ngoan hiền lẫn đứa con trai mới chào đời, cú sốc quá lớn khiến ông chẳng thể nào vượt qua nổi. Sau khi lo liệu ma chay cho con, cụ Thòn còn lập hẳn một ngôi miếu nhỏ giữa nhà nhằm tưởng nhớ đến cậu con trai bé bỏng. Khoảng thời gian sau đó là khoảng thời gian cực kỳ khó khăn đối với gia đình cụ Thòn, ông bị mọi người trong làng dè bỉu vì có cô vợ đã biến thành Ma Lai. Cả gia nhân trong nhà ra chợ mua thức ăn cũng chẳng có ai chịu bán cho, vì lo sợ sẽ mang theo xui xẻo về nhà. Quá túng quẫn, cụ Thòn đành phải đưa ra một quyết định khó khăn, ông bán hết đất đai cũng như dỡ bỏ ngôi nhà mình đang ở chỉ để lại ngôi miếu nhỏ làm nơi thờ đứa con trai mới mất, cả nhà sẽ cùng dọn về Triều Châu sống. Trước khi đi, cụ Thòn có nhờ mợ hai đến nhà ông bà Chánh nhằm gửi gắm lại miếng đất hương hỏa của nhà đình. Nhờ ông bà Chánh trông coi hộ cũng như chăm sóc cho ngôi miếu mới lập trên đó, chờ ngày con cháu sau này muốn trở về lại chốn cũ thì còn có đất mà ở. “Nhưng đến hôm nay đã hơn 85 năm rồi, vẫn chưa thấy người nhà đó quay trở lại. Và hai đứa biết gì không? Lời nguyền về con Ma Lai ấy cũng được khởi nguồn từ khoảnh khắc đó.” Nói đến đây khuôn mặt ông Bảy dần trở nên sầu não, bao nỗi ưu tư phiền muộn cuối cùng cũng được giải bày. Nhưng chẳng hiểu tại sao trong lòng ông vẫn không cảm thấy vui vẻ hay nhẹ nhõm hơn một chút nào. Cả căn phòng cũng dần chìm vào im lặng, trên khuôn mặt mỗi người đều mang theo những cảm xúc khác nhau. Riêng về phần ông Kiên sau khi đã nắm rõ ngọn ngành câu chuyện, ông càng cảm thấy lo lắng cho người anh em của mình hơn. Ông ngồi trên ghế mà lòng thì như lửa đốt, biết được người bạn chí cốt sẽ không còn sống được bao lâu nữa nhưng ông lại chẳng thể giúp gì cho ông Bảy cả. Nỗi niềm áy náy dường như đang muốn nuốt trọn cả người ông, giờ đây ông Kiên chỉ có thể cầu cứu cậu con trai. Hy vọng với tài pháp thiên bẩm, Văn Khải sẽ giúp bạn mình vượt qua được ải mất mạng. “Con xem con có thể giúp chú Bảy vượt qua chuyện này không, Khải.” “Thằng Khải thì giúp được gì cho em anh hai, nó có phải là thầy pháp đâu. Mà dù cho có là thầy pháp thì cũng phải bó tay thôi anh à. Vì nhà em đã mời biết bao nhiêu thầy pháp đến rồi, không chỗ nào trong nhà là không bị dán bùa, tốn biết bao nhiêu là tiền của để rồi người chết thì vẫn phải chết. Em hết hy vọng rồi anh à.” Ông Kiên nhẹ đặt tay lên vai người anh em, giọng an ủi. “Chú đừng có hết hy vọng nhanh như vậy chứ. Nhìn thằng Khải nó vậy thôi, chứ nó là thầy pháp giỏi nhất ở đây rồi đấy. Anh có từng kể với chú, ba của anh là thầy pháp chưa? Tuy là giờ ông ấy về hưu rồi nhưng ông chỉ nhận đúng một đệ tử duy nhất là nó thôi đấy. Cỡ như anh hay thằng An đây còn bị ông cho ra rìa cơ mà. Ông nói anh không có mắt âm dương gì đó, cũng chẳng có căn làm thầy pháp nên không cho anh nối nghiệp.” Ông Bảy trố mắt ngạc nhiên nhìn Văn Khải, dựa theo kinh nghiệm đã từng tiếp xúc với nhiều thầy pháp khác nhau, ông Bảy đây có thể khẳng định hắn chính là vị thầy pháp trẻ tuổi nhất mà ông từng gặp. Khát vọng sống trong cơ thể lại một lần nữa được nhen nhóm. “Chú biết vì sao chú đã mời rất nhiều thầy pháp đến, dù có dán bùa khắp mọi ngóc ngách trong nhà thì gia đình chú vẫn bị ám như thường không ạ?” Người luôn im lặng trầm ngâm suốt từ đầu buổi đến giờ cuối cùng cũng chịu lên tiếng. Giọng Văn Khải trầm ấm xua tan đi cái không khí lạnh lẽo tang thương đang bao trùm lên cả căn phòng. “Các thầy pháp khác họ làm đúng rồi đấy chứ, vì con Ma Lai ấy là chị ruột của cụ cố trong nhà, nên phải dán bùa trừ tà khắp nhà là đúng rồi.” Ông Bảy thẳng thắn đáp. “Dạ không ạ, con không nghĩ vậy. Con lại nghĩ rằng con Ma Lai ấy đang ám vào miếng đất mà cụ Thòn đã vô tình trao lại cho gia đình mình thì đúng hơn. Sở dĩ người trong nhà mình bị ám, có lẽ là do mọi người đã xâm phạm vào mảnh đất đó khiến nó nổi giận rồi tước đi mạng sống của mọi người. Chứ không phải là do lời nguyền gia tộc gì đâu ạ.” Hắn chậm rãi nói lên quan điểm của mình. Ông Bảy nghe xong liền ngớ người, chợt có một đoạn ký ức đã vô tình bị ông cho vào lãng quên giờ đây lại được tái hiện lại rõ ràng trong tâm trí. Đoạn ký ức mới ấy khiến ông vô thức kêu lên vài tiếng. “Đúng rồi, đúng rồi.” “Đúng gì vậy ạ?” Văn Khải tò mò hỏi. “Nhờ con nói chú mới nhớ, thật ra trước khi ba chú, ông nội và có cả ông bà cố (ông bà sơ của Ngọc Trâm) nữa. Bốn người họ trước khi mất đều đã từng đặt chân đến mảnh đất ấy rồi. Về phần ông bà cố, chú có từng nghe bà nội (cố Lang) kể rằng hai ông bà trước khi mất có đến ngôi miếu mới xây để thắp nhang. Khoảng thời gian trước khi đến thì mọi chuyện đều rất bình thường, cho đến khi họ đến thắp nén hương rồi quay trở về. Tối hôm đó hai ông bà cùng có một giấc mơ, về một cái đầu bay lơ lửng của người phụ nữ, tóc tai loà xoà trước mặt nên chẳng thể nhìn ra diện mạo. Cái đầu cứ phát ra tiếng khò khè mà chẳng nói bất kỳ một câu hoàn chỉnh nào. Sau ba ngày liên tiếp đều mơ thấy cùng một giấc mơ quái dị ấy, ông bà cuối cùng cũng ra đi cùng một ngày. Cả ba và ông nội chú trước khi bị con Ma Lai ấy giết chết, cũng đã từng đến mảnh đất ấy. Và chú cũng đã đến mảnh đất ấy vào khoảng nửa tháng trước, do sức khỏe của bà nội ngày một yếu đi. Mà chú chỉ còn lại một mình bà với mẹ trên đời này là người thân mà thôi. Chú không muốn mất bà, bà đã nuôi chú từ khi chú còn đỏ hỏn đến tận bây giờ, nên chú có ý định muốn bán đi mảnh đất ấy để có tiền chữa bệnh cho bà. Chú biết năm nay bà cũng đã 96 tuổi rồi, bà đã sống trên đời này đủ lâu để không còn cảm thấy hối tiếc bất kỳ điều gì khi phải ra đi. Mẹ chú cũng có khuyên chú là nên buông tay bà thôi, để bà còn ra đi thanh thản, không bị bệnh tật giày vò nữa. Nhưng… mình còn nước thì còn tát… chú không muốn sau này phải hối hận khi cứ giữ khư khư mảnh đất ấy lại, để rồi phải mất bà nội trong dằn vặt được. Nói chú ích kỷ cũng được, với một người đã trải qua quá nhiều những mất mát như chú thì… chú nghĩ con sẽ hiểu cho nỗi lòng của chú. Hiểu cho nỗi lòng của một người chưa thể nào chuẩn bị tốt tâm lý để rời xa người thân của mình.” Cho đến tận bây giờ, ông Bảy cũng chưa một lần nào cảm thấy hối hận khi đã đưa ra lựa chọn như thế. Cố Lang vào nửa năm trước đã được chẩn đoán mắc bệnh ung thư dạ dày giai đoạn ba, bác sĩ nói cố Lang chỉ còn một năm nữa để sống cùng gia đình. Cái khoảnh khắc đọc tờ giấy xét nghiệm của bệnh viện, ông Bảy đã nhen nhóm ý định muốn bán đi mảnh đất ấy ngay từ ban đầu nhưng khi nói ra lại bị cố Lang ngăn cản. Và thế là hai người cứ mãi giằng co được nửa năm, cho đến khoảng thời gian gần đây khi nhìn cố Lang đau đớn trước từng đợt xạ trị, tiền trong nhà cũng đang ngày một cạn dần, ông Bảy mới tự ý đưa ra quyết định. Ông đến mảnh đất đo đạc, xác thực một hồi rồi mới đăng tin rao bán. Nhưng cũng bắt đầu kể từ ngày hôm đó, đêm nào ông cũng mơ thấy một cái đầu đầy ghê rợn đang bay lơ lửng, máu nhỏ từ chỗ bị cắt lìa nhiều đến độ thành một vũng dưới đất, nó chẳng thể nói chuyện chỉ phát ra được những tiếng khò khè nghe cực kỳ kinh dị. Và mỗi lần nó xuất hiện đều mang theo cái âm thanh khò khè ấy, trông chẳng khác gì tiếng cô hồn dạ quỷ đang đòi mạng từ chốn địa ngục. Kể từ sau cái ngày định mệnh đó, ông Bảy bắt đầu gặp nhiều chuyện xui xẻo bất ngờ đến với cuộc sống thường nhật hơn, chỉ cần ông lơ là đi một chút thôi là sinh mạng của ông có thể bị tước đoạt bất cứ lúc nào. Và sau mỗi lần thoát chết trong gang tấc ấy, bên tai ông lại nghe thấy tiếng khò khè quen thuộc. Tiếng khò khè phát ra từ cái đầu con Ma Lai cứ mãi ám ảnh ông trong suốt khoảng thời gian sau này. Để đến tận bây giờ, ngay cái khoảnh khắc ông đang ngồi trong căn phòng này cùng Văn Khải và mọi người, ông Bảy vẫn còn nghe văng vẳng tiếng khò khè bên tai mà chẳng thể thoát ra được. Bỗng nhiên tiếng khò khè bên tai ông bất ngờ biến mất, thay vào đó là giọng nói trầm ấm đầy uy lực của Văn Khải. “Vậy là đúng rồi chú ạ. Con Ma Lai đó đang ám vào mảnh đất và thứ để khiến nó nổi giận là những người đã đặt chân lên đất của nó, chứ không phải là người nhà chú. Chỉ là vô tình người nhà chú sở hữu được mảnh đất ấy nên mới bị bắt buộc phải vi phạm điều cấm kị của nó mà thôi. Bởi vậy cho nên khi chú mời tất cả những thầy pháp từ tứ phương về, họ không trừ khử triệt để tận gốc con ma ấy được là vì họ chưa nắm rõ ngọn ngành của vấn đề. Và một khi chú đã tin tưởng kể hết mọi chuyện cho con, con sẽ ra sức giúp chú chuyến này. Ngày mai con cần chú đi với con đến nơi mảnh đất đó, con nhất định sẽ tìm ra cách trừ khử con Ma Lai ấy.” Văn Khải chậm rãi nhả chữ, khuôn mặt nghiêm túc tạo lòng tin cho người đối diện một cách tuyệt đối. Cộng thêm việc nghe được một câu đảm bảo đầy chắc chắn từ hắn, khiến người đang lâm vào hoàn cảnh ngàn cân treo sợi tóc như ông Bảy đây được an tâm phần nào. “Vậy thì mai chú lấy xe chở con xuống Sóc Trăng, con có cần chuẩn bị theo gì không? Để có gì chú kêu con Trâm ở dưới quê mua liền cho con đỡ mắc công ngày mai con phải đi đi lại lại.” Hắn cười hiền vội xua tay, “Dạ, con không cần gì đâu chú ạ. Lác nữa con tự soạn đồ của con là được rồi ạ.” Nói đến đây đột nhiên Văn Khải vội liếc mắt sang người ngồi bên cạnh mình rồi nhìn cậu khẽ nhếch mép cười đầy nham hiểm. Hắn đưa tay vỗ đùi mình một cái ‘đét’, làm biểu cảm như vừa nhớ ra chuyện gì đó, cả khuôn mặt bắt đầu tỏ vẻ huyền bí. Sau đó mới chậm rãi cất giọng nói lên yêu cầu của mình đối với ông Bảy. “À quên nữa, con cũng có một thứ rất quan trọng đối với con, không có thứ đó bên mình thì con sẽ không thể nào hành pháp được, nên bắt buộc phải mang theo chú ạ. Có gì ngày mai chú giúp con một tay nha.” Ông Bảy nghe ra chữ ‘thứ rất quan trọng, không có liền không thể làm lễ’ liền đanh mặt lại tỏ vẻ nghiêm trọng. Ông điều chỉnh tư thế ngồi thẳng lưng trên ghế, chăm chú nghe xem ‘thứ quan trọng’ mà Văn Khải cần phải mang theo rốt cuộc là thứ gì. “Vậy thứ con muốn mang theo là gì? Để chú còn biết chú chuẩn bị cho kịp ngày mai.” Ông Bảy nôn nóng hỏi. “Dạ” Văn Khải cười toe toét, nhẹ nhàng vòng tay qua vai người bên cạnh kéo cậu lại sát gần mình. Hắn đầy tinh nghịch nháy mắt với ông Bảy một cái rồi dõng dạc đáp. “Dạ, đây nè chú. Thiếu cậu ấy thì con sẽ không đi hành pháp được đâu ạ. Cho nên ngày mai chắc chúng ta phải bắt xe đò đi cho rộng rãi á chú.” “Ờ… ờ… vậy đi.” Thành An nghe xong liền tá hỏa tam tinh, cậu bật người ngồi dậy né tránh cánh tay đang giơ ra của hắn, vội cất giọng phản bác. “Dẫn tôi đi theo làm gì, có bị điên không?” Hắn xị mặt bắt đầu giở giọng mè nheo, “Mấy người nói vậy không sợ tôi buồn hả?” “Nhà đang có khách mà cứ làm cái trò gì không biết nữa, õng a õng ẹo. Coi có ra cái hệ thống cống rãnh gì không?” Thành An lớn tiếng quát. Văn Khải vẫn bất chấp ôm khư khư lấy cánh tay Thành An, đầu dựa hẳn lên vai cậu. Mặc cho Thành An có cố đẩy hắn ra như thế nào, Văn Khải cũng nhất quyết không buông. “Đi đi mà, năn nỉ đó.” “Không. Bỏ ra coi, nóng quá nè.” Thành An giãy dụa, muốn rút cánh tay mình về nhưng bất thành. “Mấy người mà không chịu đi với tôi là tôi không buông mấy người ra đâu. Đi với tôi đi mà, đi mà...” Cuối cùng Thành An cũng lại là người chịu nhún nhường trước, cậu chỉ đành bất lực giơ tay đầu hàng trước sự mè nheo không hồi kết này của hắn. “Rồi rồi, đi… đi…” “He he” Văn Khải bật cười khoái trá, sau cùng mới chịu buông tha cho cánh tay của cậu. Vì bản thân hắn biết rất rõ con người của Thành An, tuy nhìn cậu có vẻ hơi trầm lặng trông hơi khó gần bên ngoài thế thôi, nhưng bên trong lại là một đứa trẻ dễ mềm lòng và đầy tự ti. Nên hắn chỉ cần tỏ ra mềm yếu một chút, mè nheo nhõng nhẽo một chút thì chắc chắn Thành An sẽ không thể nào trụ nổi. ‘Người gì đâu mà dễ dụ thấy ớn.’ Niềm vui khi được ở bên Thành An lớn đến nổi khiến Văn Khải vô tình quên đi mất nhiệm vụ của mình. Hắn đang cười tít cả mắt, song đến lúc vô tình quay đầu sang nhìn khuôn mặt ông Bảy thì đột ngột nụ cười trên môi tắt hẳn. Văn Khải từ từ lấy trong túi ra một tờ giấy màu vàng, khẽ đưa ngón trỏ lên miệng cắn một cái. Hắn dùng chính bàn tay đang rỉ máu của mình mà vẽ lên tờ giấy những đường nét ngoằn ngoèo. Ngón tay thoăn thoắt lướt trên mặt giấy mềm, chớp mắt đã hoàn thành xong một lá bùa trấn vong được vẽ bằng máu tươi. Văn Khải cẩn thận gấp lá bùa lại cho gọn gàng rồi mới trịnh trọng đưa cho ông Bảy. “Chú cầm lá bùa này thử xem.” Ông Bảy hơi do dự nhìn lá bùa trên tay hắn một lúc, chắc là do được tận mắt chứng kiến cảnh tượng vừa rồi nên ông có phần hơi sợ hãi một chút. Ông hết nhìn khuôn mặt ngây thơ của Văn Khải lại đưa mắt nhìn xuống lá bùa trong tay hắn, cuối cùng vẫn quyết định sẽ nhận lấy nó. Song khi vừa cầm lá bùa trong tay, tiếng khò khè bên tai ngay lập tức tắt ngúm, ông Bảy có phần hơi giật mình vì ngỡ ngàng trước sự tài giỏi của hắn. Bản thân ông đã từng mời đến biết bao nhiêu là thầy pháp, bùa hết dán khắp nhà, giấu dưới gối, xỏ thành vòng cổ để luôn phải mang theo bên mình đến đốt uống, không có cách nào của thầy pháp dặn mà ông lại không làm cả. Vậy mà vẫn phải nghe thấy tiếng khò khè quen thuộc ấy mỗi ngày, vẫn luôn bị nó ám ảnh đến từng giờ. Mệt mỏi và tuyệt vọng đến nổi, ông không còn tin vào pháp lực cũng như đạo hạnh của bất kỳ một thầy pháp nào nữa. Nhưng giờ đây Văn Khải lại cho ông một ánh nhìn khác, hắn chính xác là người tài giỏi nhất trong tất cả các pháp sư ông đã từng gặp. “Chú hết nghe thấy tiếng khò khè rồi đúng không ạ?” “Sao con biết?” Ông Bảy trố mắt ngạc nhiên, nhìn hắn với vẻ đầy ngưỡng mộ. “Tại vì con đây cũng nghe thấy.” Hắn chậm rãi đáp, sau đó lại nhẹ nhàng đưa tay chỉ về khoảng không phía sau ông Bảy, rồi thốt ra một câu nghe chẳng nhẹ nhàng chút nào. “Thậm chí là lúc vừa mới bước vào, con đã thấy có một cái đầu tóc tai loà xoà đang lấp ló sau lưng chú nữa kìa. Và hình như là nó không nói được chỉ phát ra tiếng khò khè đó thôi. Nên chú cứ yên tâm giữ lá bùa theo bên mình để tránh gặp nguy hiểm. Vì máu của thầy pháp chính là vũ khí trừ tà mạnh nhất rồi, nó không dám làm gì chú nữa đâu.” Văn Khải là người rất hay nhõng nhẽo mè nheo và cực kỳ lắm trò, tuy là một người lúc nào cũng cợt nhả như thế nhưng một khi đã nghiêm túc làm một việc gì đó, lại sẽ luôn khiến cho người khác cảm thấy bất ngờ. Chính vì bản thân rất ít khi nghiêm túc nên mới luôn tạo cho người đối diện một cảm giác không thể xem thường. Tối cùng ngày hôm đó, khi ông Bảy trở về nhà và chuẩn bị lên giường đi ngủ. Vì nghe theo lời dặn của hắn, nên ông đã cẩn thận đặt lá bùa vào dưới gối mình đang nằm. Điều bất ngờ là đêm hôm đó cũng là đêm mà ông Bảy được ngủ ngon nhất, trong suốt từ cái khoảnh khắc đặt chân lên mảnh đất bị nguyền rủa ấy đến tận bây giờ. Chính bản thân là người được may mắn nếm trải qua sự cao cường, trừ quỷ mát tay của Văn Khải. Nên mới sáng sớm tinh mơ ngày hôm sau, khi vừa mới thức dậy ông đã lập tức đi đến nhà ông Kiên mời hắn và Thành An cùng mình đi bắt quỷ. Khi ông Bảy vừa đến nơi, đã trông thấy Thành An cùng Văn Khải đứng trước cổng chờ sẵn, mỗi người đều mang một chiếc balo trên vai giống như đã chuẩn bị rất kỹ càng mọi thứ từ tối hôm qua. Ông Bảy cho xe dừng hẳn rồi ngoắc tay kêu hai cậu thanh niên cùng lên xe. Văn Khải nhìn chiếc xe bốn bánh mới toanh đang đậu trước cửa nhà bằng cặp mắt sáng rỡ. Hắn cứ nhìn tới nhìn lui, ngó chỗ này chạm chỗ kia mãi mà vẫn chưa chịu lên xe. “Chú có chiếc xe đỉnh thật đấy, chú mới mua ạ.” Văn Khải trầm trồ. “Xe chú thuê đấy.” Ông Bảy cười hiền thật dạ đáp. Nhân lúc ông Bảy hạ kính xe xuống, Văn Khải đã vội đặt hai tay lên cửa xe, mang theo khuôn mặt đầy tò mò hỏi. “Vậy là chú lấy bằng lái xe hơi rồi ạ?” “Ừ, chú chạy được mười năm rồi.” “Mình có bằng sao không mua xe mà chạy, đi thuê chi cho uổng vậy ạ.” “Chú mới bán chiếc xe để chữa bệnh cho bà nội, nên giờ mới phải thuê xe này.” “Ô…” Biết bản thân mình vừa lỡ lời, Văn Khải liền lập tức ngậm miệng mình lại rồi nhanh chóng mở cửa ghế phụ ra ngồi vào. Hắn để Thành An một mình ngồi ghế sau, vì sợ nếu như hắn cũng theo chân cậu cùng ngồi vào ghế sau thì chẳng khác nào hai người xem ông Bảy giống như tài xế đang chở hai cậu chủ đi chơi. Phải có một người ngồi ở đằng trước để trò chuyện cùng ông Bảy giúp ông không cảm thấy buồn ngủ trong suốt chuyến đi. Và dĩ nhiên người đó phải là một người hoạt ngôn như hắn đây rồi. Vì Văn Khải không bao giờ muốn ép buộc Thành An phải làm bất cứ điều gì mà cậu không thích. Hắn chỉ vừa mới mở cửa xe, ông Bảy đã ngay lập tức phát hiện ra trên gương mặt đẹp trai ấy bỗng xuất hiện một miếng băng gạc nằm bên má phải. Ông cũng đâm ra quan tâm liền cất tiếng hỏi thăm. “Mặt con bị gì vậy, Khải?” Hắn khẽ đưa tay sờ lên miếng băng gạc vừa mới được Thành An thay cho, khuôn miệng vô thức nở một nụ cười dịu dàng. “Dạ, hôm qua trong lúc soạn đồ con vô tình bị xước da chút thôi ạ. Không có gì to tác đâu ạ, chú đừng lo.” “Ừ, sau này nhớ cẩn thận hơn chút là được.” “Dạ” Nghe Văn Khải cùng ông Bảy trò chuyện, Thành An chợt đưa mắt nhìn xuống chuỗi hạt được làm bằng cây dâu tằm đang nằm trên cổ tay mình. Sở dĩ Thành An có được chuỗi hạt này là vì đêm qua Văn Khải đã phải đi bộ rất lâu để tìm một cây dâu tằm rồi hái vài cành cây đem về. Thành An nhớ rất rõ lúc cậu soạn quần áo cho vào balo chuẩn bị cho chuyến đi ngày mai, Văn Khải thì đang kiểm tra lại xem mình có mang thiếu thứ gì nữa hay không. Đột nhiên hắn ngồi ngẩn người một lúc lâu, sau đó lại không nói không rằng chạy ù ra khỏi nhà, khiến cho cậu dù có thắc mắc xem hắn định đi đâu nhưng cũng chẳng kịp kêu Văn Khải lại để hỏi. Hắn đi một mạch đến tận ba tiếng sau mới trở về nhà, trên tay là vài cành dâu tằm và một ít quả dâu vừa mới hái được, kèm theo đó là vết thương đang rỉ máu bên má phải. Vừa gặp Thành An, Văn Khải đã hào hứng giơ mấy cành dâu trên tay lên, miệng thì cười tươi trông chẳng khác gì một đứa trẻ đang khoe thành quả mình vừa hái được với mẹ. Về phần cậu thì khi nhìn thấy vết thương trên mặt hắn thì tức giận lắm, Thành An lại phải đi vào trong phòng lấy hộp thuốc ra sơ cứu vết thương kia cho hắn. Hỏi ra thì mới biết do mãi hái trái dâu mà Văn Khải đã sơ ý bị một cành cây quệt trúng. Lúc vừa mới bị thương thì hắn chẳng cảm thấy đau chút nào, nhưng không hiểu sao khi Thành An thoa thuốc đỏ lên miệng vết thương lúc này Văn Khải mới bắt đầu cảm thấy rát. Nhưng tuyệt nhiên trên khuôn mặt hắn lại chẳng hề tỏ ra một chút đau đớn nào, ngược lại còn vô thức bật cười ngây ngốc mỗi khi nghe Thành An cằn nhằn mình. “Cậu đấy, lớn từng này tuổi rồi mà sao cứ để bản thân bị thương hoài vậy. Nếu mà không có tôi ở đây thì ai…” Thành An còn chưa kịp nói hết câu đã bị Văn Khải nhét một trái dâu tằm đỏ mọng vào miệng. Hắn cười hì hì nhìn cậu rồi bâng quơ hỏi. “Ngọt không?” Thành An bị nụ cười dịu dàng của hắn làm cho ngây ngẩn cả người. Cậu vô thức khẽ cắn vào trái dâu tằm một chút mà nước từ trong trái dâu đã tứa ra, đầu lưỡi ngay lập tức cảm nhận được vị của quả dâu, sự ngọt ngào lan khắp cả khoan miệng. Khiến cho Thành An quên mất bản thân đang định nói cái gì và như được lập trình sẵn, cậu chỉ có thể nói ra cảm giác của mình ngay lúc này mà thôi. “Ngọt” “Vậy là được rồi.” Văn Khải lại tiếp tục đút cho cậu một quả dâu mới. Sau khi dán băng keo cá nhân vào vết thương mới cho hắn xong xuôi, Thành An lại thấy Văn Khải lấy từ trong bếp ra nào là dao nào là thớt, đem bày tất cả chúng xuống dưới đất rồi ngồi gọt đi những nhánh thừa trong mớ cành hắn vừa cắt được. Chọn ra những cành to nhất để gọt vỏ, sau cùng là cắt chúng thành những khúc nhỏ đều nhau. Hắn còn lấy giấy nhám cẩn thận chà những khúc cây tằm vừa cắt ra cho thật kỹ, vì sợ rằng khi cậu đeo nó bên mình nếu các hạt không được mịn sẽ làm xước da. Cuối cùng Văn Khải lấy một sợi chỉ đỏ thắt thành từng nút thắt nhỏ, để khi đeo vào tay Thành An có thể tùy ý điều chỉnh độ dài của vòng tay. Sau đó thì xỏ từng hạt hắn vừa mài mịn từ cây dâu tằm vào, hắn còn tỉ mỉ xỏ đúng 17 hạt trong vòng nhằm rơi vào cung sinh, cộng với sợi dây đỏ hắn dùng để xỏ vòng với hy vọng mang lại phúc lành cũng như may mắn cho người đeo. Và trong suốt cả quá trình làm, Văn Khải đều làm bằng tâm thế vui vẻ một cách kỳ lạ. Xong xuôi hết mọi thứ hắn liền đeo chiếc vòng làm bằng cây dâu tằm vào tay cậu. Nhìn nó nằm yên vị trên cổ tay trắng nõn, khiến lòng Văn Khải chợt nhen nhóm lên một thứ hạnh phúc không thể tả thành lời. Về phần Thành An, ngay từ ban đầu cậu vốn đã chẳng thể biết được Văn Khải đang muốn làm cái gì, nên chỉ có thể ngồi một bên yên lặng quan sát từng hành động cử chỉ của hắn. Nhưng đợi đến khi hắn cho ra thành quả và dứt khoát đeo nó lên cổ tay cậu, liền khiến cậu có tâm trạng muốn mắng hắn một trận ra trò mới thôi. “Vì cái vòng này mà cậu đi tìm cây dâu tằm mất ba tiếng, mang nguyên cái vết rạch trên má về nhà. Rồi cặm cụi ngồi cắt gọt làm vòng mất tận hai tiếng nữa. Tổng cộng năm tiếng đồng hồ chỉ dể làm vòng tay cho tôi thôi. Cậu có bị gì không vậy?” “Cây dâu tằm giúp xua đuổi tà khí, tránh bị vong nhập hay vong theo quấy phá. Tôi còn dùng dây đỏ để xỏ với hy vọng sẽ mang lại may mắn cho cậu nữa đấy.” Hắn ngây ngô đáp. Thành An trầm ngâm nhìn chiếc vòng xinh xắn trên cổ tay mình, nhìn lấu đến mức hai viền mắt trở nên đỏ hoe. Hiện tại đang có quá nhiều cảm xúc đan xen trong trái tim Thành An. Cậu vừa thương, vừa giận, vừa muốn trách nhưng cũng vừa không nỡ. Giận là vì Văn Khải đã không biết cách tự yêu thương lấy bản thân mình, chỉ vì một chiếc vòng tay nhỏ bé mà đã khiến bản thân vừa mất thời gian vừa mang thương tích về nhà. Sao lại có người, chỉ vì một chiếc vòng mà ra sức nhiều đến như vậy? Song song với cơn giận, cậu lại càng thương hắn nhiều hơn. Vì ngoài gia đình của cậu, hắn là người đầu tiên đối tốt với cậu đến thế. Thành An càng muốn trân trọng Văn Khải bao nhiêu, càng cảm thấy bản thân mình không xứng đáng với thứ tình cảm tốt đẹp ấy của hắn bấy nhiêu. “Lần sau… lần sau đừng làm vậy nữa.” Văn Khải nghe ra được nét giận dỗi trong giọng nói Thành An. Và điều đó khiến hắn cảm thấy ngu ngơ, khi không hiểu rốt cuộc cậu là đang giận hắn vì điều gì nữa. “Có gì đâu mà mấy người lại giận? Tôi không hiểu rốt cuộc mấy người giận tôi vì chuyện gì nữa. Trong khi rõ ràng là tôi đang lo cho mấy người cơ mà. Hay là vòng tay tôi làm không đẹp? Vậy mấy người chờ tôi chút đi, tôi đi hái thêm mấy nhánh dâu tằm rồi về làm lại cái mới cho.” Nói rồi Văn Khải liền vội đứng dậy, hắn còn hận không thể ngay lập tức chạy đến nơi có trồng cây dâu tằm để bẻ thêm vài cành nữa đem về cho cậu. Nhưng rất nhanh sau đó ý định ban đầu của hắn liền bị một cái ôm của Thành An dập tắt. Cậu ôm chầm lấy cả người hắn, tựa đầu lên lồng ngực ấm áp ấy cố ngăn không cho Văn Khải bước ra cổng. Lửa giận lại một lần nữa được nhen nhóm trong trái tim, Thành An bực bội đánh vào tấm lưng rộng của hắn mấy cái cho bõ tức. “Đi đâu nữa vậy, cái đồ ngốc này.” “Đau… Vừa bị chửi vừa bị đánh, cách mấy người cảm ơn là vậy đó hả? Đồ tồi.” Văn Khải lại bắt đầu giở giọng mè nheo, nũng nịu nói. “Xin lỗi. Và… cảm ơn nha.” |
32 |
Bình luận
Honeybee
Nhõng nhẽo cỡ đó không á. Yếu yếu là gãy liền