Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
[Tình Trai] Lá Bùa May Mắn

Phần 4: Chương 35: Vàng Mí Ly

Văn Khải dùng khuôn mặt cực kỳ nghiêm túc đưa cho Thành An một mảnh giấy bùa màu đỏ, hắn yêu cầu cậu dùng ngôn ngữ ký hiệu để giao tiếp với bà Cáy. Hỏi bà tất tần tật về bát tự của người mà bà đang muốn tìm kiếm, hỏi xong thì ghi hết chúng vào tờ giấy trang kim này để hắn còn tiện bề gieo một quẻ bói xem sao. Vì sau khi đã được tắm rửa sạch sẽ, chính thức gột bỏ hết những thứ dơ bẩn trên khuôn mặt, Văn Khải càng trông thấy rõ ràng hơn sự tối tăm tại nơi ấn đường của bà lão. Mọi thứ dường như có xu hướng nghiêm trọng hơn so với những gì trong trí tưởng tượng của hắn. 

 

Sau khi nhận được tờ giấy bát tự của cô cháu gái, Văn Khải cũng đã nắm sơ qua một số thông tin cơ bản cần thiết cho việc tìm kiếm sau này. Cô cháu gái tên Giàng Y Mây, năm nay hai mươi mốt tuổi. Ngày hôm đó cô cũng rời khỏi nhà và đến trường như bình thường thôi, vậy mà không ngờ đó lại là lần cuối cùng bà Cáy được nhìn thấy cháu gái của mình. Bà đã tìm kiếm cô cháu gái ròng rã ba năm trời, như vậy có nghĩa là khi mất tích Y Mây chỉ mới tròn mười tám tuổi mà thôi. 

 

Văn Khải thuần thục bỏ ba đồng xu cổ vào trong chiếc mai rùa được làm bằng đồng thau mà mình đã sử dụng trong suốt năm năm qua. Hắn chậm rãi lắc nhẹ chiếc mai rùa ba lần rồi nghiêng mai rùa đỏ các đồng xu ra bàn. Từng đồng xu theo lực tay của Văn Khải cũng chậm rãi rơi ra khỏi chiếc mai. Văn Khải chăm chú nhìn quẻ bói mà mình vừa gieo được đến thất thần, hai đầu mày theo dòng suy nghĩ cũng bắt đầu nhíu chặt lại vào nhau. Khuôn mặt hắn lúc này lạnh tanh, cả người toát ra một vẻ nghiêm trong đến cực hạn, vừa nhìn sơ qua thôi cũng đã biết quẻ mà hắn vừa gieo xem ra không được tốt cho lắm. 

 

“Y Mây… cháu của bà… chết rồi ạ.” 

 

Thành An nghe qua những lời của Văn Khải nói liền hoảng hốt không thôi. Đôi mắt hổ phách cũng bất giác mở lớn đầy kinh ngạc. Song khi phải thực sự đối diện với ánh mắt đầy mong chờ từ bà lão luôn hướng về phía mình, khiến Thành An phải vội gạt đi những cảm xúc riêng tư của mình lại sang một góc mà trở thành một người trung gian, một thông dịch viên chuyên nghiệp hơn. Cậu bắt đầu dùng ngôn ngữ ký hiệu để tường thuật lại câu nói vừa rồi nơi Văn Khải. 

 

'Bạn con nói… Y Mây đã mất rồi ạ.’ 

 

Bà Cáy sau khi nhận được tin dữ từ Thành An cũng không tỏ vẻ gì là ngạc nhiên mấy. Bà bình thản đón nhận câu chuyện ấy, ngay cả ánh mắt chất chứa biết bao nhiêu sự mỏi mệt cũng không hề lay động lấy một lần. Và điều đó khiến cho cả Thành An lẫn Văn Khải đều cảm thấy ngạc nhiên không thôi. Tại sao một người bà thương cháu mình đến đứt ruột đứt gan như thế, lại có thể bình thản đón nhận hung tin về cháu gái mình mà cơ mặt cũng không buồn nhúc nhích. 

 

‘Chuyện này thì tôi biết rồi. Biết từ cái hồi mà con Y Mây mới mất tích được vài tháng lận cơ.’ 

 

Bà Cáy chậm rãi giải bày nỗi lòng của mình bằng thủ ngữ. 

 

‘Bà biết chuyện này rồi ạ?’ 

 

Hết cú sốc này đến cú sốc khác liên tiếp ập đến, làm cho Thành An có phần không kịp thích ứng nổi. 

 

‘Ừ, tôi biết từ lâu rồi. Khi có người thân mất tích, ai mà chẳng luôn hy vọng cháu gái của mình sẽ còn sống rồi được trở về nhà an toàn cơ chứ. Tôi cũng đã từng luôn ôm một chút hy vọng hão huyền như thế, cố vịn vào lý do đó mà gắng gượng sống tiếp. Nhưng rồi linh cảm của tôi đã nói cho tôi biết, nó nói với tôi rằng tôi đã mất đi Y Mây mãi mãi rồi.’ 

 

'Bà dựa vào đâu mà nghĩ như vậy ạ? Con nghĩ còn nước thì mình còn tát chứ ạ. Thà ôm một chút hy vọng le lói còn hơn là phải chịu sự dằn vặt nơi trái tim này mãi. Chắc là từ khi Y Mây mất tích đến tận bây giờ bà đã sống khổ sở lắm.’ 

 

‘Đêm nào tôi cũng mơ thấy con Y Mây hết. Người nó bê bết máu khóc lóc đến tìm tôi, nó kêu là nó đau, nó lạnh, rồi nó bị người ta giết. Nhưng tuyệt nhiên Y Mây chưa một lần nào nói cho tôi biết rằng nó đã chết ở đâu để tôi còn đi tìm xác nó về cả. Suốt ba năm qua, tôi đã đi tìm kiếm thi thể của nó khắp nơi trong bản, tìm không được thì nhờ thầy mo gọi hồn nó về giúp. Nhưng rồi thầy mo cũng nói là thầy không có đủ pháp lực để tìm lại thi thể của nó. Tôi lại bôn ba khắp nơi, cứ hễ nghe ai nói có thầy nào cao tay ấn là tôi liền xuống cầu xin sự giúp đỡ. Cậu cũng biết đó, tôi không biết chữ, bản thân lại là người câm điếc, chỉ biết chút thủ ngữ do con Y Mây dạy cho để đem đi nói chuyện với người ta. Có thầy thấy hoàn cảnh đáng thương cũng đồng ý ra tay giúp đỡ, nhưng rồi… sau ngần ấy năm, cháu tôi đang nằm ở nơi đâu tôi cũng chẳng được biết nữa.’

 

Nói đến đây nước mắt chan chứa biết bao sự tổn thương cuối cùng cũng vỡ oà mà rơi ra từ nơi khoé mắt đã trũng sâu của bà. 

 

‘Y Mây nó ngoan lắm. Bố mẹ nó mất sớm, từ nhỏ nó đã phải ở với tôi rồi. Nó thấy tôi già yếu sợ tôi sẽ sinh bệnh, cho nên nó chưa từng một lần nào dám làm buồn lòng tôi cả. Nó thích học lắm, ước mơ của nó là được làm cô giáo, mở một lớp dạy học miễn phí cho tụi nhỏ trong bản để tụi nhỏ có chút ít kiến thức biết tự bảo vệ mình, biết phản kháng trước những điều sai trái, không còn bị tụi con trai trong bản bắt về làm vợ khi không muốn nữa. Nhưng rồi cái ngày định mệnh ấy lại đến, cái ngày đã cướp con Y Mây ra khỏi cuộc đời tôi. Để đến giờ này, tôi lại chẳng biết tìm nó ở nơi đâu nữa. Nếu như tôi biết được hôm đó là lần cuối cùng tôi gặp nó, thì có lẽ mọi chuyện sẽ khác. Tôi sẽ nhất quyết giữ nó ở nhà với tôi, sẽ ôm nó thật chặt không để nó rời tôi dù chỉ là nửa bước.’  

 

Khi vẫn còn người thân bên cạnh mình, ta cứ nghĩ là sẽ có rất nhiều thời gian để được cùng nhau ngồi xuống ăn một bữa cơm. Cho nên nếu như lần này không được vậy thì ta hẹn họ lần sau vậy, vì họ vẫn luôn ở đó chờ ta mà. Dù có lỡ hẹn một lần cũng chẳng sao, ta vẫn còn rất nhiều lần khác nữa. Nhưng thời gian chính là một tên tráo trở, nó âm thầm rút bớt đi khoảng thời gian ta được hạnh phúc bên người thân của mình từng ngày từng ngày. Chớp mắt một cái, người thân và ta đã là hai người của hai thế giới khác nhau, khoảng thời gian về sau này ta chỉ có thể được gặp lại họ ở trong mơ mà thôi. Khi đó điều đơn giản nhất để thực hiện cùng họ như là cùng nhau ăn một bữa cơm cũng trở nên cực kỳ xa vời. Trong những đêm tối cô quạnh ta lại ước được quay trở về những lần ‘lỡ hẹn’ ngày hôm ấy, giá như có cỗ máy thời gian thì có lẽ ta sẽ làm mọi thứ khác đi. Và ‘giá như’ trong cái khoảnh khắc người thân cần ta nhất, ta đã không tỏ ra khó chịu rồi nói ‘để mai đi’. Nhưng trên đời này làm gì có ‘giá như’ và cỗ máy thời gian cũng chỉ tồn tại trong những bộ phim viễn tưởng thường được chiếu trên tivi. 

 

Và điều cuối cùng, hai chữ ‘giá như’ ấy chỉ xuất hiện khi con người đã không làm một việc gì đó mà thôi. 

 

Thành An bị sự hối tiếc cùng dằn vặt nơi bà lão làm cho lay động, hai mắt cậu cũng bắt đầu lấp lánh ánh nước. Nhỏ giọng khẩn cầu Văn Khải giúp đỡ với hy vọng có thể tìm lại được thi thể của cô cháu gái đã mất của bà. 

 

“Nếu như cô Y Mây thực sự đã mất rồi, vậy thì… vậy thì cậu nhắm với khả năng của mình có thể giúp bà tìm được thi thể của cô ấy không?”

 

Văn Khải trầm ngâm ngồi đó, đầu mày vẫn nhíu chặt lại vào nhau. Hắn nhìn chằm chằm vào quẻ xăm trên bàn, những ngón tay cứ đều đặn gõ từng nhịp lên mặt gỗ thể hiện có một sự đấu tranh trong suy nghĩ của Văn Khải. Hắn không biết bản thân có nên đồng ý tham gia vào phi vụ lần này hay không nữa. Vì nó thực sự quá nguy hiểm, mọi tình huống tồi tệ nhất dường như đều có thể xảy đến với bản thân hắn và cả Thành An nữa. Riêng đối với hắn thì không sao, do những chuyện nguy hiểm như thế này Văn Khải đã quá dày dặn kinh nghiệm để đối đầu rồi. Nhưng điều mà hắn bận tâm nhiều nhất ở đây đó chính là Thành An, hắn thương người ta nên phải tìm mọi cách để bảo vệ người ta cho chu toàn. 

 

“Tôi nghĩ là tụi mình đừng tham gia vào vụ này đi thì hơn.” 

 

“Hả? Cậu nói vậy sao được, mình đã hứa là sẽ giúp bà rồi mà. Đâu thể nào bỏ con giữa chợ như thế được, cậu nói chuyện tôi nghe không có đặng một chút nào.”  

 

Văn Khải chăm chú nhìn quẻ xăm rồi lắc đầu, “Có những chuyện không phải mình muốn là được đâu An. Vì thực thể tâm linh lần này chúng ta phải đối đầu, nó nguy hiểm hơn nhiều so với lần trước. Riêng tôi thì chẳng sao, nhưng mà… nhưng mà…” 

 

“Cậu lo cho tôi đó hả?” Thành An cắt ngang. “Nếu là tôi thì đừng lo, tôi nghĩ chỉ cần tụi mình hợp sức thì dù cho mọi chuyện có khó khăn đến như nào cũng sẽ vượt qua được thôi mà.” 

 

“Chà, xem ai đang nói kìa. Đối với một người luôn thích làm việc một mình, đi đâu cũng thích đi một mình mà đột nhiên hôm nay lại kêu ‘tụi mình mà cùng hợp sức’ thì hơi lạ đó nha. Rồi đâu ra vụ sức mạnh tình bạn này nữa vậy, bộ hôm nay mặt trời mọc ở hướng tây hả ta?” Văn Khải không nhịn được mà phải trêu chọc Thành An vài câu. 

 

Thành An bị hắn chọc ghẹo đến mức ngại ngùng không biết nên giấu mặt vào đâu. Cậu thẹn quá hóa giận mà đưa tay đánh vào cánh tay của Văn Khải một cái đau điếng. Cú đánh bất ngờ khiến hắn phải rú lên, kêu la oai oái một lúc mới chịu thôi. 

 

“Đau quá à. Đánh cái gì mà muốn nhớ lại kiếp trước luôn vậy á.” 

 

“Cho chừa, ai biểu giờ này còn giỡn. Tóm lại là cậu có muốn giúp bà hay là không đây?” 

 

“Giúp, giúp mà.” 

 

Văn Khải bật cười đầy dịu dàng trước sự dễ thương quá mức cho phép nơi Thành An. Đúng là trong đôi mắt của kẻ si tình thì dù cho đối phương có là Thị Nở cũng bỗng chốc hóa thành nàng Tấm xinh đẹp hiền dịu cả thôi. Giả dụ nếu bây giờ Thành An có kêu hắn lên trời hái sao cho cậu, chắc hắn cũng không bao giờ từ chối mà cứ thế đâm đầu vào mất. Thôi kệ đi, ai bảo hắn thương người ta làm chi. Nếu đã thương rồi thì mình phải lo được cho người ta chứ. Và dù cho đó là yêu cầu gì đi chăng nữa, Văn Khải một khi đã thương rồi thì quyết không từ nan. Hắn tin với tình cảm to lớn dành riêng cho Thành An, sẽ giúp hắn có thêm sức mạnh để có thể bảo vệ cậu chu toàn. 

 

“Nếu như mấy người đã sốt sắng muốn giúp bà đến vậy, thì mấy người phải dịch lại đúng từng câu từng chữ mà tôi sắp nói đây cho bà nghe, có biết chưa? Những gì tôi nói sau đây cực kỳ quan trọng và có lẽ cũng sẽ khiến cho bà cực kỳ buồn đấy. Dù biết là sẽ đau đớn nhưng tôi nghĩ bà nên biết được sự thật này.” 

 

Văn Khải bất chợt dẹp đi cái dáng vẻ cợt nhả thường ngày của mình lại, thay vào đó là một khuôn mặt nghiêm nghị cùng biểu cảm và khí thế áp đảo khiến người khác không dám chạm vào. Thanh An thấy thế cũng bất giác trở nên nghiêm túc theo hắn, cậu mím môi gật đầu như trống mỏi. 

 

“Được”  

 

Văn Khải nhẹ hướng ánh mắt đen láy sang khuôn mặt già nua đượm buồn của bà Cáy rồi mới chậm rãi nhả chữ. 

 

“Lần này đi con không chắc là có thể tìm được xác của Y Mây hay không. Con cũng không dám hứa bất kỳ điều gì với bà được, mong bà hãy hiểu cho con.” 

 

Bà Cáy hết ngơ ngác nhìn khuôn miệng cứ mở ra đóng vào của Văn Khải rồi lại nhìn sang Thành An với vẻ mặt cầu cứu. Khi phải thực sự đối diện với ánh mắt mòn mỏi của bà, trong thâm tâm Thành An liền nảy sinh cảm giác không nỡ. Cậu làm sao nỡ để bà phải mang thêm phần tổn thương thêm nữa. Nhưng rồi cậu lại nghĩ, nếu như bà vẫn mang theo chút hy vọng hão huyền này đến hết cuộc đời, thì việc chọn im lặng ngày hôm nay của Thành An có phải là đang dày vò bà lão nhiều thêm hay không. Cuối cùng cậu cũng chọn hướng đi có lẽ sẽ khiến cho bà đau lòng ngay lúc này, song sau này hy vọng rằng bà sẽ hiểu cho nỗi lòng của cậu. 

 

‘Khải nói là cậu ấy không hứa chắc là có thể tìm lại được thi thể của cô Y Mây hay không. Cậu ấy mong bà sẽ hiểu cho nỗi khổ tâm này của cậu ấy.’ 

 

Bà Cáy nghe xong thì hoang mang tột độ, cứ ngỡ rằng sau bao gian khổ thì cuối cùng bản thân cũng hái được trái ngọt, nhưng mọi hy vọng lại một lần nữa bị dập tắt bởi sự ngang trái của cuộc sống. Nhưng dù có thế nào bà cũng quyết không từ bỏ Y Mây, đứa cháu gái đáng thương của bà. 

 

'Sao vậy cậu? Cậu Khải có nói lý do vì sao không thể tìm thấy xác của cháu gái tôi không cậu?’ 

 

“Bà hỏi cậu vì sao lại không thể tìm được xác của Y Mây.” 

 

“Cái này chắc phải đi đến tận nơi tôi mới biết rõ nguyên nhân được. Như trong quẻ bói có gợi ý, tôi đoán rằng cô Y Mây là bị người ta giết. Rồi sau đó chắc là sợ bị phát hiện nên họ đã giấu xác cô Y Mây ở đâu đó trong bản, rồi nhờ thầy pháp đến trấn yểm khiến linh hồn cô không thể siêu sinh cũng như trở về trả thù kẻ thủ ác. Và chắc là tên thầy pháp được mời đến cao tay lắm, nên những thầy pháp khác dù có cố gắng đến đâu cũng không thể giúp bà tìm lại được xác của Y Mây. Nên tôi nghĩ chuyến này mình đi lành ít dữ nhiều đấy.” 

 

Văn Khải thành thật nói ra hết tất cả những gì mà hắn biết. Và Thành An cũng rất nhiệt tình thuật lại đúng từng câu từng chữ của hắn với bà lão. 

 

Về phần bà Cáy, bà nghe xong liền bần thần trong vài giây, đôi tay run rẩy không thể nói chuyện với Thành An một cách tròn vành rõ chữ được nữa. 

 

‘Cháu tôi… cháu tôi nó khổ quá cậu ơi, cậu làm ơn cậu giúp nó đi. Tôi… tôi cả đời này sẽ luôn mang ơn cậu.’ 

 

Nhìn thái độ khẩn thiết cùng với đôi mắt rưng rưng như muốn khóc trên khuôn mặt già nua, Văn Khải dường như cũng không nhịn được mà động lòng xót thương. Vội giục giã Thành An dịch lại những lời bà vừa nói.

 

“Bà nói gì vậy An?”  

 

“Bà đang cầu xin cậu giúp bà tìm lại xác của Y Mây.”

 

“Mấy người nói lại với bà là bà cứ yên tâm, tôi nhất định sẽ giúp bà hết sức mình trong khả năng tôi có thể. Còn việc có tìm lại được xác của Y Mây hay không, thì chắc phải do ý trời rồi. Mấy người nói với bà là bà cứ yên tâm ở lại đây thêm hai ngày nữa cho lại sức đi. Tôi sẽ đi đặt vé máy bay liền đây. Ba ngày sau, chúng ta sẽ lên Hà Giang một chuyến xem sao.”

 

Văn Khải âm thầm hạ quyết tâm dù cho chuyến đi này có biết bao khó khăn gian khổ, hắn cũng nguyện phải tìm ra bằng được câu trả lời thích đáng dành cho bà lão mới thôi. Nếu như không thể tìm được thi thể của cô Y Mây thì ít nhất hắn cũng biết nên phải giải thích ra làm sao với bà. 

 

Mất khoảng hai giờ để ngồi máy bay và nơi mà cả ba người đặt chân đến chính là sân bay Nội Bài thuộc thành phố Hà Nội. Sau đó Văn Khải lại phải gọi thêm một chiếc xe khách mà hắn đã đặt từ trước để di chuyển xuống Hà Giang. Quãng đường này lại tiêu tốn thêm bảy tiếng đồng hồ nữa mới có thể chở cả ba đến một địa điểm mang tên Mèo Vạc, bản làng của dân tộc thiểu số H’Mông đang cùng nhau sinh sống. Phải thực sự đi rồi hắn mới thấy nể phục sự kiên nhẫn cùng ý chí quyết tâm tìm lại cháu gái của mình nơi bà Cáy. Vì Văn Khải chỉ mới ngồi xe có bảy tiếng, ngồi máy bay hai tiếng thôi mà cả người đã nhức mỏi uể oải không chịu nổi rồi. Không biết bà lấy đâu ra sức khoẻ để vừa đi bộ vừa ngồi xe suốt cả một chặng đường dài đằng đẵng hơn 2000km như thế nữa. Nhìn bà lão vốn tuổi đã gần đất xa trời vậy mà đây lại là lần đầu tiên bà được ngồi máy bay, tay chân lóng ngóng hết cả lên, khuôn mặt ngơ ngác cứ hết nhìn chỗ này rồi lại nhìn sang chỗ kia nhưng tuyệt nhiên lại không dám chạm tay vào bất kỳ thứ gì, vì sợ rằng bản thân sẽ vô tình làm bẩn nó. Càng nhìn nhiều những hình ảnh như vậy lại càng khiến lòng Văn Khải quặn thắt, người dân nước mình còn nhiều người khổ quá. Nhưng tiếc rằng hắn chỉ có thể giúp đỡ bà lão được phần nào mà thôi, vì hắn luôn biết sức mình có hạn không thể cho bà một cuộc sống đầy đủ sung túc hết phần đời còn lại được. 

 

Ngôi làng của người Mông tại Mèo Vạc là một nơi cực kỳ hoang sơ và hẻo lánh, nằm khuất sau những ngọn núi chập chùng với những ngôi nhà gỗ, nhà đất và còn có cả nhà sàn nằm rải rác nhau. Người dân ở đây luôn sống hòa thuận cùng nhau và họ có một niềm tin vững chãi vào những vị thần của riêng họ, nơi mà thầy Mo còn được người dân trong bản tôn trọng hơn cả trưởng làng. Đa phần người dân ở đây sẽ sống theo lối tự cung tự cấp trồng gì ăn đó. Vì nếu muốn xuống thị trấn, họ phải mất tận bốn mươi lăm phút đi xe nên hầu như người dân ở đây đều chọn sống theo phong cách có rau ăn rau, có cháo ăn cháo. Và dĩ nhiên sự phát triển của những khu đô thị hoá, nền văn minh vượt bậc của nhân loại vẫn chưa thể xâm nhập vào ngôi làng. Mọi thứ trong làng đều vẫn còn rất đơn sơ, nhưng không vì vậy mà làm mất đi sự xinh đẹp cũng như lối sống giản dị của người dân ở nơi đây. Chính vì công nghệ tiên tiến không thể chạm đến nơi đây, mới góp phần làm cho ngôi làng trở nên yên bình và lộng lẫy hơn bao giờ hết. 

 

Chậm rãi đi trên con đường mòn bao quanh ngôi làng, suốt dọc đường đi Thành An đã phải trầm trồ trước vẻ đẹp thiên nhiên tự nhiên ở nơi đây. Mọi thứ đều hoà hợp đến ngỡ ngàng, mặc cho đế giày đã dính đầy bùn đất cậu vẫn cứ mải miết ngắm nghía thưởng thức khung cảnh tuyệt đẹp mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Vì ở nơi thành phố tấp nập sẽ chẳng bao giờ có thể tìm thấy được một hệ sinh thái đến từ tự nhiên như ở nơi đây cả đâu, nên nếu đã may mắn có cơ hội được chiêm ngưỡng chúng Thành An sẽ không bao giờ bỏ lỡ nó. Cậu cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn khi được đi dưới những tán cây, tâm trạng nặng nề trước khi đến đây cũng được dịu dàng vỗ về rồi nhẹ mơn man theo làn gió mà bay đi mất. 

 

Từ đầu làng đi đến ngôi nhà gỗ nền đất đơn sơ của bà Cáy cũng mất hơn hai mươi phút đi bộ. Văn Khải vừa đến nơi đã mệt muốn đứt hết cả hơi, chính vì không muốn Thành An phải xách theo cái vali nặng nề mà hắn phải vất vả gấp ba lần. Hai bên tay là hai chiếc vali nặng trịch, một của hắn một của Thành An, còn trên lưng là chiếc balo của bà Cáy. Văn Khải cứ như thế mà mang hết mớ hành lý cồng kềnh đi bộ suốt hơn hai mươi phút đồng hồ, khi đến nơi liền hoa hết cả mắt nên chẳng có thời gian đâu mà bận tâm đến khung cảnh rừng núi tuyệt đẹp trải dọc đường đi. 

 

Nghỉ ngơi được một lúc cả hai liền quyết định sẽ đi một vòng quanh làng nhằm tìm hiểu về lối sống của người dân nơi đây. Càng làm thân được với nhiều người càng tốt, vì lúc đó Văn Khải sẽ rất dễ dàng thăm hỏi những chuyện kỳ lạ đã từng xảy ra trong làng hơn. Nhưng sau khi đi được một lúc, bị mọi người trong làng dùng đủ loại ánh mắt hướng về phía mình. Văn Khải mới đau đớn nhận ra một điều rằng, mọi người ở đây thường dùng tiếng của dân tộc họ để giao tiếp cùng với nhau, chứ không dùng tiếng Kinh như đa phần người miền xuôi như hắn. Sau khi đã cố gắng bắt chuyện với mọi người trong làng, cuối cùng thì cả Văn Khải lẫn Thành An đều phải chấp nhận quay về nhà bà Cáy với hai bàn tay trắng.

 

Ngôi nhà của bà không lớn, chỉ được chắp vá sơ sài bởi những mảnh gỗ lim đến cả sàn nhà cũng không được đắp nền chắc chắn mà cứ để vậy dùng luôn. Nên nền đất rất bất tiện trong nhu cầu sinh hoạt hằng ngày của bà. Vì nếu là mùa hè thì cát từ dưới đất sẽ bay lên mù mịt, tất cả đồ dùng trong nhà đều sẽ bị bám một tầng bụi dày. Còn khi đến mùa đông thì nền đất sẽ luôn ẩm ướt, khiến cho nhiệt độ trong nhà cũng chẳng khác gì bên ngoài là mấy, lạnh đến cắt da cắt thịt. Chỉ mới nhìn hoàng cảnh sống của bà lão thôi cũng đủ biết là bà đã đặt rất nhiều kỳ vọng vào đứa cháu gái của mình đến mức nào rồi. Dù cho cả ngày ăn khoai sắn uống nước lã, bà Cáy vẫn cố gắng tích góp từng đồng từng cắt để cho Y Mây có cơ hội được lên đại học, hy vọng cô có thể thoát khỏi cái vùng quê đầy tăm tối này. Nhưng rồi cô đã bị người ta hại chết trước khi biết được thế giới bên ngoài cái giếng ấy rộng lớn ra sao. 

 

Thành An và Văn Khải chỉ vừa đi đến đầu ngõ đã thấy bà Cáy lọm khọm bước ra khỏi nhà. Đôi chân bà run run đi từng bước nặng nề, đợi đến khi trông thấy bóng dáng của cả hai đang đi về phía mình, bà liền nở một nụ cười nhẹ khẽ ra hiệu cho Thành An. Dùng ngôn ngữ ký hiệu để nói với cậu rằng cả hai cùng đi theo bà. 

 

Tuy cả hai chẳng biết bà định làm gì, muốn dẫn cậu và hắn đi đến đâu song cả Thành An lẫn Văn Khải đều ngoan ngoãn đi theo sau bà. Hai bàn chân to khoẻ không ngần ngại nối gót theo những bước chân chậm chạp có phần hơi chếnh choáng của bà lão, cả hai đều tin tưởng tuyệt đối vào bà và để bàn chân ấy làm kim chỉ nam soi đường dẫn lối cho mình. Cả ba cùng rảo bước trên con đường mòn đầy sỏi đá, hai bên vệ đường mọc đầy những bông hoa dại. Bên trái là vách núi cheo leo không thấy đỉnh, bên phải lại là vực sâu thăm thẳm chẳng có đáy. Không biết phía trước sẽ dẫn đến đâu, nhưng chỉ cần ta đi cùng nhau, lối mòn dưới chân liền không còn cảm thấy đáng sợ nữa. 

 

Đi được một khoảng xa, một ngôi nhà đất cũng dần hiện ra trước mắt Thành An và Văn Khải. Từ phía xa cả hai đã trông thấy một ngôi nhà rộng lớn với lối kiến trúc cực kỳ đơn giản nhưng lại trông lạ mắt và độc đáo vô cùng. Ngôi nhà được xây hoàn toàn bằng đất, gỗ, sỏi, trẻ với kỹ thuật ‘trình’ đất cho chặt để tạo ra tường nhà. Ở nơi khí hậu rét buốt vào mùa đông và nóng nực vào mùa hè, thì ngôi nhà ở trước mặt Thành An đây lại chính là phương án cực kỳ tốt để đối phó lại với sự khắc nghiệt của thời tiết. Ngôi nhà kín gió giúp giữ ấm vào mùa đông nhưng cũng lại trông cực kỳ mát mẻ vào mùa hè. Văn Khải phải lân la hỏi bà Cáy thì mới biết được ngôi nhà độc đáo trước mặt đây được gọi là nhà trình tường, một nét văn hóa truyền thống của người H’Mông mà không thể xen lẫn đi đâu được. Song nhà còn có ba gian, mái nhà được lợp ngói âm dương giúp thoát nước cũng như cách nhiệt tốt. Chỉ mới nhìn sơ qua cũng biết được chủ nhân ngôi nhà này là người có điều kiện nhất ở cái bản làng này rồi. Nhưng bà Cáy vì sao lại muốn dẫn Thành An và Văn Khải đến đây? Có lẽ điều này phải đợi thêm một lát nữa mới biết được. 

 

Bà Cáy dùng ngôn ngữ ký hiệu nói với Thành An rằng cậu hãy gọi người ở bên trong ra giúp bà. Chính bản thân cậu còn đang lúng túng không biết nên xưng hô với người bên trong ngôi nhà như thế nào, thì Văn Khải đã nhanh chóng lên tiếng giải vây, cứu cậu một bàn thua trông thấy. 

 

“Có ai ở nhà không ạ? Con đến tìm chủ nhà ạ, có ai ở nhà không ạ?” 

 

Thành An ngây ngốc nhìn cậu thanh niên hoạt bát bên cạnh mình, Văn Khải giống như là đang đi guốc trong bụng cậu vậy. Hắn luôn dễ dàng biết được cậu đang suy nghĩ chuyện gì rồi lại sẵn sàng ra tay tương trợ cậu kịp thời. Ngay vào cái khoảnh khắc này, đột nhiên Thành An đã nghĩ có hắn ở đây thực sự rất tốt.  

 

“Ơi… ai đó.” 

 

Từ bên trong vọng ra một giọng nói trầm ổn với thứ tiếng Kinh lơ lớ, khiến cả Thành An lẫn Văn Khải chỉ vừa nghe qua đã không thể giấu nổi niềm hân hoan mà mỉm cười đầy vui vẻ. Thật may mắn làm sao khi cuối cùng cũng có một người dân trong làng biết nói tiếng Kinh rồi. Suốt từ sáng sớm cho đến tận bây giờ, Văn Khải còn nghĩ bản thân đang không phải ở cái đất nước hình chữ s xinh đẹp này nữa cơ. Hắn cứ tưởng mình đang ở nước ngoài hay là một cái đất nước xa lạ nào đó, vì hầu như người dân ở đây đều dùng cái thứ ngôn ngữ mà hắn chẳng tài nào hiểu được để nói chuyện cùng nhau. Nên mọi cố gắng giao tiếp làm thân với người làng đều là công dã tràng, đổ sông đổ bể hết cả. Và cũng vì biết được chuyện này, bà Cáy mới dẫn hai người đi đến nhà của trưởng làng, ông học cao hiểu rộng nên có thể nói được tiếng Kinh và điều đó khiến Văn Khải vui mừng khôn xiết.  

 

Người đàn ông trung niên bận trên người là bộ đồ thổ cẩm, trang phục truyền thống của người dân tộc Mông xuất hiện phía sau cánh cửa. Ông có chút thất thần nhìn hai cậu thanh niên với phong cách ăn mặc hiện đại trước mặt. Ông chưa gặp hai người này bao giờ, có lẽ họ là người ngoài làng cũng có thể là khách du lịch đến đây để khám phá văn hoá của người Mông. Nhưng rồi khi đưa mắt nhìn sang người phụ nữ lớn tuổi lọm khọm đi phía sau hai người, ông liền nhận ra người quen. Treo trên môi nụ cười đon đả, ông nhanh chóng bước xuống cầu thang đi đến chỗ ba người bọn họ để tiện bề nói chuyện. 

 

Vừa đến nơi người đàn ông đã thực hiện một loạt chuỗi động tác tay nối tiếp nhau nhằm giao tiếp với bà lão. 

 

‘Bà Cáy, sao bà lại đến nhà tôi, có việc gì không? Còn hai cậu thanh niên lạ mặt này là ai? Cháu bà à.’ 

 

Thành An có chút bất ngờ khi biết được người đàn ông trước mặt mình đây cũng biết chút ít về ngôn ngữ ký hiệu. Tuy là động tác tay có phần hơi vụng về, thực hiện một câu nói không được rõ ràng cho lắm, ngay cả biểu cảm khuôn mặt cũng có phần hơi đơ cứng. Khiến cho Thành An phải vừa đọc vừa đoán ý mới có thể biết được người đàn ông ấy đang nói gì. Nhưng mục đích tiên quyết của ngôn ngữ là để giao tiếp mà, cho nên cậu sẽ chẳng bao giờ bắt bẻ lỗi phát âm của người khác, chỉ cần nói chuyện sao cho đối phương hiểu là được rồi. Vì mỗi người đều có một ngôn ngữ riêng, họ sẽ dùng thứ ngôn ngữ riêng của mình để thoải mái bộc lộ ra cá tính bên trong. Chính vì vậy mà dù cho có dùng cùng một loại ngôn ngữ, thì mười người sẽ có mười cách nói khác nhau, không ai giống với bất kỳ ai cả. 

 

Bà Cáy cũng chậm rãi đáp lời người đàn ông trung niên kia. 

 

'Tôi có hai đứa cháu, tụi nó là người miền trong mới lên bản mình chơi. Nhưng ngặt nỗi hai đứa nó lại không biết tiếng Mông, trong bản mình chỉ có trưởng làng là thành thạo tiếng Kinh nhất. Nên tôi mới mạo muội dắt hai đứa nó đến đây đặng nhờ ông giúp đỡ. Ông thấy sao, ông có thể dành chút ít thời gian rảnh rỗi của mình để dẫn hai đứa nó đi thăm thú bản mình được không?’ 

 

‘Được chứ cụ.’ 

 

Người đàn ông vui vẻ gật đầu đồng ý, vì hiếm khi có người bên ngoài bản lên chơi nên ông cũng rất muốn dẫn dắt hai cậu thanh niên trước mặt đây, giúp cho họ hiểu thêm về văn hoá lâu đời của người dân tộc H’Mông. Biết đâu sau chuyến đi tham quan này, cả Thành An lẫn Văn Khải đều cảm thấy thích sự mộc mạc của người dân nơi đây và quyết định dựng nhà rồi lấy vợ sinh con trên bản luôn thì sao. Thân là một trưởng làng, cho nên việc gì có thể giúp bản làng của mình đi lên thì ông đều quyết không từ nan, sẵn sàng giúp đỡ mà không ngại gian khổ. 

 

“Tôi tên là Vàng Mí Ly, tôi là trưởng làng ở đây.” 

 

Người đàn ông nở một nụ cười hiền lộ cả hàm răng đã ngả vàng của mình. Dùng thứ tiếng Kinh lơ lớ mà bản thân đã vô tình học được, khi nhà nước có cử một giáo viên tình nguyện đến bản dạy miễn phí cho người dân ở đây ra làm vốn liếng để giao tiếp cùng Thành An và Văn Khải. 

 

“Dạ, con tên là Văn Khải, chú trưởng làng gọi con là Khải cũng được. Còn đây là bạn con, Thành An. Tụi con mới từ Sài Gòn lên đây nên không biết rành về nơi này lắm đâu ạ. Mong được chú chỉ dạy cho nhiều hơn ạ.” 

 

Văn Khải cũng cười thân thiện đáp lại lời của bác trưởng làng. 

 

“Vậy thì đợi bác đi thay một bộ trang phục khác, xong rồi thì ba bác cháu mình đi.”

 

“Dạ” Cả hai không hẹn nhưng lại cùng đồng thanh đáp. 

 

Bác Ly dẫn Thành An cùng Văn Khải đi tham quan khắp nơi trong bản, niềm nở giới thiệu về cách trồng lúa nương, chăn nuôi gia súc cũng như các nghề thủ công truyền thống. Nơi mà có những người đàn ông H’Mông quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, làn da đen nhẻm đi do dãi nắng dầm mưa lâu ngày. Người thì trông gầy nhom ốm yếu vậy thôi, nhưng cơ thể lại cực kỳ dẻo dai. Và sức khỏe của họ so với một cậu thanh niên vai u thịt bắp như Văn Khải đây, hắn chẳng có cửa để mà so sánh bằng. Hắn dù có cầm tạ nặng đến đâu cũng không thể nào mạnh bằng người dân nơi đây quanh năm cầm cuốc. 

 

Còn người phụ nữ H’Mông lại rất nổi tiếng với kỹ thuật trồng lanh, sau đó đem đi tướt sợi, dệt chúng thành một tấm vải rồi khéo léo thêu những hoa văn phức tạp lên đó. Từ những cây lanh xanh rì thô ráp, qua bàn tay khéo léo của người phụ nữ vùng cao nó đã biến thành một bộ thổ cẩm mang theo vẻ đẹp rất riêng, không thể lẫn vào đâu được. Nhìn những bộ thổ cẩm với hoa văn tinh xảo cùng màu sắc sặc sỡ khiến Thành An mê mẩn ngắm nhìn. Phải thực sự hâm mộ sự khéo tay này, vì ở thành phố mọi người nếu muốn thêu bất kỳ một hoa văn nào đó lên vải, họ thường để máy móc thay con người làm công việc ấy. Nhưng máy móc làm sao có thể phát họa được những cảm xúc, tính cách được bộc lộ qua từng mũi kim cũng như tình yêu thương của một người bà, một người mẹ, một người vợ, một người em dành tặng cho các thành viên trong gia đình của mình được. Chính vì vậy mà Thành An luôn trân trọng những món đồ thủ công do bàn tay khéo léo của một nghệ nhân nào đó làm ra. Thứ mà dù có là máy móc tối tân nhất hay trí tuệ nhân tạo hiện đại bậc nhất cũng chẳng thể sao chép được.

 

Bác Ly còn sẵn sàng làm thông dịch viên tiếng Mông cho hai người để cùng làm quen với người dân ở nơi đây. Nhiệt tình dẫn Thành An và Văn Khải đến từng nhà để tiện cho việc gặp gỡ. Mọi người trong bản đều chào đón cậu với một nụ cười trên môi, làm trái tim Thành An có chút xao xuyến mỗi khi nhớ lại. Vì đối với một kẻ lạc loài như Thành An vốn đã luôn quen với việc bị người khác ngó lơ, đột nhiên nhận được quá nhiều sự quan tâm khiến cậu chẳng biết nên ứng xử sao cho phải phép. Chỉ biết đứng im thin thít bên cạnh Văn Khải, bàn tay rụt rè khẽ nắm lấy gấu áo hắn xem nó như cọng rơm cứu mạng duy nhất mà ra sức níu giữ. Ngoan ngoãn như một chú cún bị bắt phải đi đến một nơi xa lạ mà ra sức bám sát vào người của chủ. Mặc cho thế giới bên ngoài có đang biến chuyển như thế nào đi chăng nữa, Thành An chỉ cần duy nhất một chỗ dựa là Văn Khải thì mọi chuyện đều có thể vượt qua cả thôi. 

 

Vui vẻ làm quen với mọi người được một lúc, khi đang trò chuyện rôm rả với vài hộ dân trong bản. Bỗng nhiên cả ba người đều vô tình nghe thấy âm thanh của đồ vật va đập vào nhau, đánh ‘rầm’ một tiếng thật lớn. Âm lượng của chúng lớn đến nỗi đối với một người khiếm thính như Thành An đây, đột ngột bị tần số âm thanh ấy đánh úp cũng vô thức phải giật mình mà ngoảnh đầu lại về nơi vừa mới phát ra âm thanh kia. 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px