Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
[Tình Trai] Lá Bùa May Mắn

Phần 4: Chương 39: Vàng A Mua (1)

Kết thúc trận cãi nhau nảy lửa giữa bác trưởng làng và tên A Chơ là hình ảnh hắn ta bực bội, cứ thế mà hồng hộc bước ra khỏi nhà. Về phần bác Ly cũng tức giận không kém, ông chỉ quay đầu nhìn về phía Thị Dùa bằng đôi mắt xót thương. Sau đó cũng đành bất lực trước sự cứng đầu của cô gái, ông khẽ thở dài một hơi rồi mới lặng lẽ dắt Thành An cùng Văn Khải ra về. Để lại một mình Thị Dùa bên trong ngôi nhà đã toang hoang từ lâu, cô gái nhỏ lạc lõng giữa dòng đời xuôi ngược nhưng lúc này chẳng thể nào có ai có thể cứu cô ngoài chính bản thân cô được nữa. 

 

Cả ba quyết định sẽ về lại nhà bác trưởng làng để cùng nhau ăn bữa cơm chiều. Bác Ly cũng rất nhiệt tình mời khách, cơm canh ở vùng núi chẳng có những món gì quá phức tạp. Chỉ có một ít rau dại luộc chấm mắm gừng, thịt trâu gác bếp do chính tay vợ bác Ly làm và một nồi nước luộc rau đơn giản. Nhìn vậy thôi chứ nó lại chứa đựng một sức hút không thể nào chối từ. Văn Khải ăn một mạch liền ba bát cơm to, vừa ăn vừa xuýt xoa về tài nấu ăn của bác gái. Không cần phải là những thứ quá cao siêu xa xỉ, đôi khi với những thứ bình dị đơn giản vậy thôi cũng đủ khiến cho con người ta cảm thấy hạnh phúc. 

 

Sau khi đã ăn uống nó say, bác trưởng làng mới mời hai người bọn họ cùng ra gian trước uống trà. Nói chuyện với nhau được vài ba câu, nhận thấy tâm trạng của bác Ly đang rất thoải mái, thái độ cũng dần mở lòng hơn với cả hai người. Lúc này Văn Khải mới bắt đầu lân la dò hỏi về những chuyện quỷ dị đã xảy ra trong bản. Hắn muốn biết tình hình hiện tại đang ở mức độ nào để còn biết tìm cách ứng phó, cũng như xác định xem rốt cuộc Thị Dùa là ‘cái gì’. 

 

“Dạ bác ơi, sao con thấy cô Dùa hình như đâu có thích chồng cô ấy đâu. Vậy tại sao hai người đó lại cưới nhau được vậy ạ? Có phải là do cô Dùa bị gia đình ép buộc không?” Hắn ngây ngô hỏi.

 

Bác Ly cười hiền, “Nó có bố mẹ đâu mà ép với chả buộc. Nó được làm vợ thằng Chơ là do bị bắt về làm vợ đấy chứ. Cháu có biết tục bắt vợ ở bản của bác không?” 

 

“Dạ biết ạ. Cái này thì con biết, các phương tiện truyền thông có đưa tin về tục lệ này của người H’Mông nhiều lăm ạ.” 

 

“Đúng rồi đấy. Nhưng hồi xưa tục bắt vợ khác, giờ thì tục bắt vợ lại khác.” 

 

“Dạ? Là sao ạ?” Văn Khải nhướng mày đầy khó hiểu. 

 

“Hồi bác còn nhỏ thì hai người phải yêu nhau lắm, nhưng bị gia đình hai bên cấm đoán hay do nhà trai nghèo không đủ tiền thách cưới thì mới cho tiến hành bắt vợ. Nhưng còn thời nay thì khác, tụi nó thích là tụi nó bắt về làm vợ thôi. Có nhiều cặp vợ chồng mới biết nhau được hai ba ngày thì thằng con trai đã bắt về làm vợ rồi. Có đứa còn đang đi học cũng bị bắt về, rồi kết cục là phải bỏ học luôn.” 

 

Nói đến đây bất chợt bác Ly thở hắt ra một hơi đầy chán nản, khuôn mặt buồn buồn. Vì một tục lệ vốn đang rất tốt đẹp, không biết từ bao giờ đã bị biến tướng và trở nên cực kỳ tệ hại như bây giờ nữa. 

 

“Bác đang không biết phải làm như thế nào để thay đổi tình hình tồi tệ hiện tại đây. Nên làm gì để tục bắt vợ trở lại như ngày xưa mà không bị thay đổi theo chiều hướng xấu như bây giờ.” 

 

“Thôi bác đừng buồn, con nghĩ rồi thì mình cũng có cách thôi bác.” Văn Khải quan tâm an ủi người trưởng làng tận tụy với công việc cũng như có trách nhiệm với vai trò cao cả trên đôi vai mình. 

 

“Bác cũng hy vọng sẽ là như thế.” 

 

Để tránh nhắc đến chuyện buồn khiến người trưởng làng ấy bận tâm thêm nữa, Văn Khải uyển chuyển thay đổi sự chú ý của bác Ly sang một câu chuyện khác. 

 

“Mà bác ơi, sao con thấy cô Dùa thậm chí còn nhỏ tuổi hơn cả con nữa. Vậy mà cổ đã lấy chồng được tận ba năm rồi. Vậy thì lúc cổ lấy chồng là cổ bao nhiêu tuổi hả bác?” 

 

“Năm nay nó mới mười tám chứ mấy, nó bị bắt về khi mới mười lăm. Ở tuổi cháu ở đây mà chưa lấy vợ là được xem như quá tuổi lấy vợ rồi đấy.” 

 

Hắn trố mắt, ngạc nhiên hỏi lại. “Hai mươi ba tuổi là trễ rồi đấy ạ? Con thấy con vẫn còn nhỏ chán luôn đấy chứ.”

 

“Tầm tuổi cháu ở đây làm được hai đứa rồi. Mười bốn, mười lăm là tụi nó kết hôn hết cả rồi đấy cháu ạ.” Bác Ly bật cười. 

 

“Trời ơi, đây không phải là tảo hôn hay sao?” 

 

“Tảo hôn là gì?” 

 

Văn Khải chính vì quá bất ngờ nên đã lỡ lời thốt ra điều không nên nói. Và tất nhiên là ngay sau đó hắn đã phải nhận lấy hậu quả cho việc để miệng đi chơi xa của mình. Dưới gầm bàn Thành An liền đá mạnh vào chân hắn xem như nhắc nhở. Lực cậu vung ra không nhẹ một chút nào, khiến nơi bắp chân hắn đau nhói, nhưng khuôn mặt lại không thể bày ra bất kỳ một nét biểu cảm đau đớn nào vì sợ sẽ bị bác Ly phát hiện. Và thế là Văn Khải phải cố gắng nín nhịn cơn đau, miệng bật cười giả lả còn khó coi hơn cả khóc. 

 

“Cậu ấy nói nhảm đấy mà, bác đừng quan tâm ạ.” Thành An vội vàng lên tiếng chữa ngượng. 

 

Vì cậu biết ở một số tỉnh thuộc miền Bắc, ở nơi mà mọi thứ còn khá lạc hậu, con người ở đó vẫn còn xem tảo hôn như một chuyện rất bình thường. Những cô cậu mới mười bốn mười lăm tuổi đã phải nghỉ học để kết hôn, phải làm ba làm mẹ khi chưa thực sự hiểu rõ nó là như thế nào. Không có giấy đăng ký kết hôn, vì vậy nên khi đứa trẻ sinh ra cũng chẳng thể có nổi một tờ giấy khai sinh, gia đình nghèo khó nên cũng không có đủ điều kiện cho con được ăn học đàng hoàng tử tế. Và cái tình thế khốn cùng ấy cứ kéo dài qua nhiều thế hệ, nối tiếp nhau từ đời này sang đời khác. Nhưng biết làm sao được khi mọi người ở đây đều xem cái vấn nạn tảo hôn này như một lẽ hiển nhiên, chẳng ai cảm thấy nó sai trái cũng như có một chút lấn cấn nào đó khi điều đó xảy ra. Và nếu như cậu đột ngột chỉ ra điểm sai trái ở đây, thì Thành An sẽ bị gắn mác là một kẻ phá hoại, chứ không bao giờ được hiểu như một người khai sáng cả. 

 

Khi cái sai trở thành lẽ phải, trở thành thứ tín ngưỡng mà người ta tôn sùng từ ngày này qua ngày khác. Thì sự xuất hiện đột ngột của cái đúng lại trở thành một tội lỗi. Và thứ đúng đắn ấy ngay lập tức sẽ bị xem là cái xấu cần phải được bài trừ. 

 

“Rồi ở dưới miền trong hai cháu làm nghề gì?” Bác Ly dùng tiếng Kinh với chất giọng lơ lớ để hỏi Văn Khải. Ông rất nhanh đã quẳng luôn chuyện tảo hôn ra sau đầu. 

 

“Dạ, con làm thầy pháp.” Hắn thành thật trả lời mà không cần giấu giếm bất kỳ điều gì. 

 

Khuôn mặt bác trưởng làng nhăn lại khi vô tình nghe thấy đáp án. Với vốn từ ngữ ít ỏi, ông không tài nào hiểu được thứ ngành nghề mà Văn Khải đang làm là gì cả. 

 

“Thầy pháp là gì?” 

 

“Daaaaaaaạ, nói sao đây ta. Thầy pháp là những người hay thực hiện mấy cái lễ tế đó bác. Chuyên luôn chuyện trừ tà bắt ma, trấn trạch, làm bùa chú, giải hạn, lập đàn cúng tế… Nói nôm na con là cầu nối giữa hai thế giới, giúp người dương có thể gặp lại người âm hoặc ngược lại. Đơn giản vậy thôi ạ.” Văn Khải nở một nụ cười khiêm tốn. 

 

Bác Ly nghe xong liền ngẩn người, đôi mắt ông sáng rỡ vội gật đầu lia lịa xem như là đã hiểu. 

 

“À, vậy thì cháu là thầy Mo đúng không?” 

 

“Thầy Mo ạ?” 

 

“Ừ, người Mông ở đây gọi những người con của thần linh là thầy Mo. Ở nơi đây, bất kể sinh vật hay đồ vật gì cũng đều có linh hồn, kể cả đó là cây cối hay đất đá thì bên trong cũng tồn tại một linh hồn đang trú ngụ. Cho nên thầy Mo sẽ là người giữ vai trò kết nối tất cả mọi thứ lại với nhau, ông được ví như là con của thần linh. Giữ trọng trách rất quan trọng trong bản của chúng ta. Ông biết chữa bách bệnh, biết làm lễ tế và chủ trì hết tất cả mọi nghi lễ trong cái bản này. Có việc gì hay không có việc gì thì cũng cứ đi tìm ông, mọi chuyện sẽ được giải quyết một cách thoả đáng.  

 

Và trong bản của chúng ta cũng có một thầy Mo, tất cả các nghi lễ ở đây đều phải nhờ ông ấy cả đấy. Với lại ông ấy trị bệnh mát tay lắm, thằng con trai bác chả biết bị bệnh gì mà cứ ho ư ử cả tháng trời không hết. Bác đưa nó lên chỗ thầy Mo khám trị cho một hồi là hết ngay. Sắp tới đây thằng con bác phải chuẩn bị làm cái lễ đặt lại tên này, có nhờ thầy Mo tới để làm lễ lúc đó bác sẽ cho con thấy sự vĩ đại của ông ấy. Cả cái bản này không ai là không tôn trọng thầy Mo cả, nhiều khi lời thầy Mo nói ra còn khiến người ta tin hơn cả bác đấy chứ.” 

 

“Thời đại nào rồi còn có người bị bệnh không đi tìm thầy thuốc mà lại đến tìm thầy pháp làm gì không biết.” Hắn khẽ lẩm bẩm.

 

Văn Khải thật hết nói nổi với cái độ mê tín của cái làng này. Nếu như trong người có bệnh mà chỉ với một, hai lá bùa có thể giải quyết được tất cả, thì người ta còn cần đến bệnh viện làm gì không biết. Và các bác sĩ bỏ ra hơn bảy năm để nghiên cứu về cơ thể con người, ra sức học tập hơn nửa đời người để lấy được tấm bằng chắc cũng chỉ để vứt xó mất thôi. Một nơi không có bác sĩ, không trạm xá, muốn chữa bệnh thì chỉ có thể uống thuốc của một tên thầy pháp ất ơ nào đó. Với niềm tin về tâm linh gần như là tuyệt đối, cũng đủ để biết nơi đây vốn lạc hậu và bị thế giới lãng quên nhiều đến nhường nào rồi. Song Văn Khải cũng không dám nói quá nhiều về những chuyện tế nhị như thế này. Vì người vùng cao họ còn nghèo, cơ sở vật chất ở nơi đây cũng không được đầy đủ tiện nghi như ở thành phố, mọi thứ vẫn còn rất thô sơ và nguyên thủy. Nên nhận thức của họ về luật pháp cũng còn bị hạn chế và nền văn minh vượt bậc của thành thị làm sao có thể chạm đến được nơi đây. Chỉ hy vọng rằng vào một ngày nào đó trong tương lai, tại bản làng Mèo Vạc sẽ có thêm nhiều trường học được xây dựng. Khi kiến thức rộng lớn của nhân loại chạm đến được nơi đây, Văn Khải nghĩ mọi thứ sẽ phải khác đi, nó sẽ được thay đổi theo một cách tích cực hơn. 

 

“Mà lễ đặt lại tên là sao vậy bác?” Văn Khải uyển chuyển đổi chủ đề. 

 

Bác Ly ôn tồn đáp, “Theo truyền thống của người Mông, đàn ông khi sinh ra đều có tên đệm phổ biến là A. Giống như thằng A Chơ, A Sử, A Hành… vậy đó.”

 

“À, giống chữ Văn của dân tộc con vậy đó ạ.” Văn Khải nhanh nhảu. 

 

“Ừ, bác cũng không biết bên dân tộc Kinh họ đặt tên như nào, nhưng… đại loại vậy. Nhưng mà khi đã đến tuổi trưởng thành rồi thì tụi nó phải làm thêm một cái lễ nữa. Đó là lễ đổi lại tên đệm để khẳng định rằng mình chính là người đàn ông có sự ổn định trong cuộc sống gia thất, có vai vế mâm trên và luôn được tôn trọng trong bản.”

 

Người đàn ông am hiểu sâu rộng về văn hóa của người H’Mông đang say mê phổ cập kiến thức cho hai cậu thanh niên mới đến. Bác Ly dùng vốn ngôn từ ít ỏi của mình để giải thích cặn kẽ tường tận về phong tục đặt lại tên đệm này. Vì đối với một người đàn ông trưởng thành trong bản Mèo Vạc thì việc làm lễ đặt lại tên đệm rất quan trọng đối với họ. Tuy nhiên cách thức hay còn gọi là thủ tục đặt lại tên cũng khá phức tạp. 

 

Người đàn ông sau khi đã lấy vợ sinh con và cảm thấy mình đến thời điểm cần được đặt lại tên đệm, người chồng sẽ phải chuẩn bị hai vuông vải đỏ có thêu hoa văn rồi đem tặng chúng cho cha mẹ vợ. Sau này chính hai vuông vải đỏ ấy sẽ được đắp lên người hoặc lên mặt của hai ông bà khi hai người họ qua đời. Điều này nhằm thể hiện sự hiếu kính nơi con rể dành cho bậc sinh thành của người đã có công nuôi dưỡng nên vợ mình. Và khi hai tấm vải đỏ được trao đi, chính bậc sinh thành cũng tự khắc hiểu được tấm lòng của con rể muốn được họ đặt lại tên đệm cho mình. Để đáp lễ, cha mẹ vợ phải biếu lại cho người chồng một cái đùi lợn. 

 

Việc đặt lại tên cho con rể không phụ thuộc vào thời gian nhanh hay chậm. Vì sau khi nhận hai vuông vải, có người sẽ được đặt tên ngay nhưng cũng có người phải mất vài năm hoặc cả chục năm mới được thực hiện lễ đặt lại tên. Sở dĩ có sự chậm trễ như vậy là do cha mẹ vợ muốn xem chàng rể có lo toang tốt cho cuộc sống sau này của hai vợ chồng hay không, có chịu khó cày cấy, trở thành một người đàn ông chững chạc biết chăm lo cho gia đình hay chưa mà thôi. Cho đến khi nhận thấy cậu con rể này đã đủ trưởng thành, cha mẹ vợ sẽ mang đến một vài miếng vải đỏ nho nhỏ có thêu hoa văn. Cốt cũng chỉ để con gái khâu chúng vào áo các cháu của mình, với ý nghĩa cầu mong cho chúng luôn khỏe mạnh. Và điều đó đồng nghĩa với việc, cha mẹ vợ đã sẵn sàng đặt lại tên đệm cho chàng rể quý. 

 

Nghi thức đặt lại tên đệm khá đơn giản và thường được kết hợp vào ngày tết. Khi gia đình người con rể mổ lợn cúng ma nhà (tổ tiên) khấn về việc sẽ đổi tên đệm mới. Sau đó bố mẹ vợ sẽ công bố trước mọi người việc đổi tên đệm mới và cái tên mới ấy có ý nghĩa gì. Buổi lễ đổi tên kết thúc bằng việc họ hàng và dân bản cùng nhau vui vẻ chúc rượu chàng rể, từ nay sẽ gọi người đàn ông ấy bằng một cái tên đầy đủ hơn với tất cả sự kính trọng. Lễ đặt tên mới là nghi thức bắt buộc cho vòng đời của người đàn ông dân tộc H’Mông, nhằm khẳng định rằng người đó đã có cuộc sống riêng và đã trưởng thành. 

 

Sau khi được nghe giải thích cặn kẽ quá trình diễn ra lễ đặt lại tên đệm của người H’Mông, trong đầu Văn Khải đột nhiên lại xuất hiện rất nhiều những câu hỏi không tên. Và theo như tính cách của hắn, Văn Khải quyết không để bản thân mình phải chịu thiệt thòi mà hỏi ngay bác Ly. 

 

“Ủa bác, nếu làm cái lễ đặt lại tên chỉ cần thắp nhang xin phép gia tiên thôi, vậy tại sao bác lại phải cất công nhờ thầy Mo làm lễ chi cho tốn kém vậy ạ?” 

 

“Tại vì thầy Mo phán rằng thằng con trai bác năm nay sẽ gặp nạn liên quan đến mạng sống, cho nên mới phải gấp rút làm cái lễ đặt lại tên này với hy vọng rằng sẽ cải được mệnh trời đấy mà.” 

 

Văn Khải nghe xong thì ngạc nhiên lắm, vì nếu như một thầy pháp cao tay và ông ta có phán rằng người này không thể sống nổi qua một tuần trăng, thì chắc chắn người đó sẽ phải chết sau một tuần trăng. Và không có gì là ngoại lệ cả, cho dù có làm tất cả mọi cách cũng sẽ chẳng thể nào thoát khỏi mệnh trời được đâu. Huống chi chỉ là một cái lễ đặt tên con cỏn này. Cho nên hắn đã rất tò mò về người thầy Mo thần thông quảng đại trong lời của bác trưởng làng. Rốt cuộc thì ông ta có tài năng gì mà lại được dân bản kính trọng đến thế hay cuối cùng cũng chỉ là một tên lừa bịp người khác mà thôi. 

 

“Theo như lời bác kể thì con thấy cái lễ đặt lại tên này cũng không có gì là đặc biệt cả.” Nói đến đây hắn bỗng chợt giật mình, sợ rằng người trưởng làng đáng kính ấy lại hiểu sai ý tứ trong câu nói của mình mà phải vội vã giải thích. 

 

“Con không phải có ý đó đâu ạ, mong bác hiểu lòng con. Ý của con ở đây là cái cách thức thực hiện lễ đặt lại tên tính ra cực kỳ đơn giản, không có gì quá phức tạp cả. Thậm chí mình không cần mời đến bất kỳ một người thầy pháp nào đến làm lễ, chính người trong gia đình mình cũng có thể tự thực hiện được. Nên là nếu bác có muốn đổi tên đổi vận cho cậu con trai của bác, thì mình phải thực hiện một cái lễ lớn hơn cũng như là phức tạp hơn và cần một người thầy pháp cao tay hơn để làm chuyện đó ạ.” 

 

“À, bác hiểu bác hiểu. Nhưng mà thầy Mo đã nói như thế thì làm sao mà bác dám cãi lời được. Ông ấy còn đảm bảo với bác rằng chỉ cần làm cái lễ đặt lại tên này là thằng con trai bác sẽ thoát được kiếp nạn mất mạng. Thậm chí nó còn chưa cưới vợ sinh con nữa, nhưng bác vẫn cắn răng thực hiện lễ trưởng thành cho nó đấy.”

 

“Con chỉ sợ tên thầy pháp này đang lừa bác thôi ạ. Tại vì nếu như muốn tránh được họa sát thân thì mình cần một con hình nhân thế mạng, làm một cái lễ giải hạn. Còn phải chuẩn bị cả hương, hoa, trà, quả, vàng mã, bùa chú và bài vị tương ứng với các vị sao hoặc vị thần chủ quản nữa. Nó không đơn giản chỉ là mổ một con heo, rồi thắp một nén hương cầu xin tổ tiên chấp thuận cái tên đệm mới là xong đâu ạ.” 

 

Người trưởng làng ngẩn ngơ, trong lòng ông hiện đang trăm mối tơ vò rối rắm không biết nên tin vào ai mới phải. Tính mạng của con trai ông thì đang gặp nguy hiểm, nhưng thầy Mo trong bản lại nói một đường và cậu nhóc trước mặt ông đây lại phán một nẻo. Thế ông nên làm gì đây? Nên tin vào ai đây? 

 

“Nếu bác không tin con thì có thể cho con xin bát tự của con trai bác không ạ? Con sẽ gieo cho con bác một quẻ, rồi sau đó bác muốn tin ai hay làm gì cũng được ạ?” 

 

Văn Khải nhìn thấy sự bối rối trong đôi mắt của bậc trưởng bối, hắn thừa hiểu ông đang phân vân không biết nên nghe theo lời người nào mới đúng. Và để củng cố cho lập luận của mình cũng như để biết rõ được thực hư câu chuyện ra sao, hắn cần phải có bát tự của người con trai gieo một quẻ thì may ra mới có thể biết hết mọi việc được. 

 

Bác Ly ngây ngốc trả lời, “Bát tự là cái gì?”

 

“Dạ, là ngày tháng năm sinh cả lịch âm lẫn lịch dương đó bác. Bộ thầy Mo trong bản không xin bát tự của mọi người để gieo quẻ ạ?” 

 

“Không”, người trưởng làng thành thật. 

 

“Dạ? Vậy thì ông ấy xem cho mọi người bằng cái gì vậy ạ?” Khoảnh khắc này đến chính Văn Khải cũng bắt đầu cảm thấy lơ ngơ theo bác Ly mất rồi. 

 

“Thầy Mo đâu cần xin bất cứ thứ gì từ bác đâu, chỉ cần đến cho ông ấy nhìn mặt thôi là ông có thể lập tức nói ra hết vấn đề của mình rồi.” 

 

“Vậy là ông ta nuôi ma méc hoặc là sai âm binh đến nhà mình tìm hiểu từ trước rồi đó bác. Nói chung là con thấy tên thầy Mo này không được minh bạch cho lắm. Nên bác cứ cho con bát tự của con trai bác đi ạ. Con sẽ tự khắc có cách giải quyết.” 

 

“Ừ, nó tên là Vàng A Mua sinh ngày 2 tháng 8 năm XXXX. Nếu mà không có gì thay đổi thì bác định đặt lại tên cho nó thành Vàng Mí Mua. Con thấy như nào?”

 

Sau khi đã có được bát tự hoàn chính của cậu con trai A Mua, Văn Khải liền lấy chiếc mai rùa vốn được hắn chuyên dùng cho việc gieo quẻ ra. Bỏ ba đồng xu cổ vào bên trong rồi lắc mạnh vài cái, vừa lắc vừa khấn vái tên tuổi người cần được xem quẻ. Cuối cùng hắn mới đổ ba đồng xu ra bàn, chính những gì mà ba đồng xu thể hiện sẽ nói lên vận mệnh của A Mua sau này. 

 

“Con trai bác đúng là sẽ gặp họa sát thân vào đúng năm nay luôn, khi ảnh vừa tròn mười tám tuổi. Tức là còn…” Văn Khải khẽ nhẩm tính trong miệng, “Hai ngày nữa thôi ạ. Khi ngày sinh nhật của con trai bác diễn ra cũng là lúc thần chết sẽ cướp đi sinh mạnh của anh ấy.” 

 

Văn Khải vừa thốt ra một câu mà khiến ai nghe xong cũng phải bàng hoàng, sửng sốt một phen. Bác Ly như đang ngồi trên đống lửa bụng dạ như bị lửa thiêu, ông dĩ nhiên là cực kỳ thương con mình, càng muốn thấy nó thành gia lập thất, có vợ con đàng hoàng tử tế thì lúc đó ông mới có thể yên lòng mỉm cười nơi chín suối. Nhưng số phận lại bắt người đầu bạc tiễn kẻ đầu xanh, ông không biết phải làm gì mới có thể níu giữ đứa con trai yêu quý ở lại với mình nữa. 

 

“Thầy Mo cũng nói như thế, nên ông ấy mới quyết định là sẽ làm lễ đặt lại tên cho thằng A Mua vào ngày đó luôn đấy cháu.” 

 

Văn Khải nhẹ nhàng đếm đốt ngón tay khẽ tính nhẩm trong đầu, “Theo con nghĩ thì… việc làm cái lễ đặt lại tên cũng không có tác dụng gì đâu bác. Vì đây chính là số mệnh mà anh phải mang rồi, có cố gắng làm đến như thế nào cũng không thể thay đổi được đâu ạ.” 

 

“Bác đâu thể nào ngó lơ bỏ mặc thằng A Mua cứ thế chết dần chết mòn đi được. Nó là con trai bác, bác phải có trách nhiệm với cuộc đời của nó.” Người trưởng làng đáng kính thể hiện rõ ràng quan điểm của mình. 

 

“Bác cứ bình tĩnh ạ.” Văn Khải trấn an nỗi lòng trăm mối của người đàn ông, “Chính con đây cũng sẽ không để cho con trai bác chết một cách oan uổng như vậy đâu ạ. Bây giờ bác nghe con nha.” 

 

“Ừ, cháu cứ nói đi.” Bác Ly cẩn thận lắng nghe từng câu từng chữ từ Văn Khải. 

 

“Trước mắt bác cứ cho anh nhà mình mang theo lá bùa này bên người giúp con.”

 

Nói rồi hắn lấy từ trong chiếc balo ra một lá bùa bình an mà bản thân đã làm phép sẵn từ trước đưa cho bác Ly, rồi mới tiếp tục dặn dò. 

 

“Hai ngày nữa con sẽ làm một cái lễ, gọi là lễ giải hạn cho anh nhà mình. Nên con muốn nhờ bác đi chợ giùm con, tại ở đây con còn lạ nước lạ cái không biết chỗ nào ra với chỗ nào đâu ạ. Bác mua giúp con ít trái cây, nhang đèn để con dâng lên cúng sao. Và mấy ngày tới anh nhà không được ăn thịt, phải ăn chay trường giúp con mấy bữa. Nếu được thì khi đã giải được hạn rồi thì bác kêu anh nhà ăn chay ba năm luôn giùm con nha.”

 

“Ừ”, Bác Ly gật đầu lia lịa xem như là đã hiểu. 

 

“Và cái ngày anh nhà mình đủ mười tám tuổi thì bác chịu khó không cho anh ra khỏi nhà giúp con, mình cứ ở trong nhà cả một ngày luôn đi. Qua mười hai giờ rồi thì sau đó muốn đi đâu mà chẳng được, nha chịu khó giúp con nha.” 

 

“Bác biết rồi cháu.” 

 

Văn Khải từ tốn giải thích lý do vì sao mình lại muốn A Mua ở yên trong nhà vào ngày hôm đó. 

 

“Vì đang mắc phải họa sát thân nên vào ngày hôm đó khi âm thịnh dương suy, bọn ma quỷ sẽ lợi dụng mà chèo kéo linh hồn anh nhà mình đi. Cho nên là con mới muốn anh Mua phải ở nhà trong cả ngày hôm đó. Và ngày mai con sẽ mang cho bác mấy lá bùa trấn vong, bác dán trước cửa chính hai lá, cửa sau hai lá rồi sau đó dán xung quanh nhà mỗi vách một lá giúp con. Những lá bùa này sẽ giúp anh nhà được an toàn, không bị bọn quỷ kéo mất hồn phách. Bác nhớ giúp con, tuyệt đối không được để anh Mua bước ra khỏi nhà. Hai ngày nữa chắc chắn sẽ có rất nhiều chuyện xảy ra, ‘bọn chúng’ luôn thèm khát những linh hồn thuần khiết và sẵn sàng làm mọi cách để dụ dỗ anh Mua đi rồi bắt mất linh hồn anh. Cho nên là nếu có ai gọi cũng đừng trả lời, ai đến cũng đừng mở cửa. Ngày mai bác đi khắp bản thông báo với mọi người là ngày mốt cả nhà bác đi vắng sẽ chẳng có ai ở nhà, nên đừng đến tìm. Nếu có việc gì gấp thì ngày kia hẳn đến. Mình chỉ cần qua được ngày hôm đó là an toàn.” 

 

Hắn cẩn thận dặn đi dặn lại đến tận ba lần, vì không muốn người trưởng làng đáng kính ấy vô tình phạm luật rồi kết quả là phải hối hận cả đời cũng bởi quyết định bồng bột ngày hôm ấy. Có những chuyện không biết thì thôi, nhưng một khi đã hay tin có người gặp nạn, Văn Khải chưa từng một lần khoanh tay đứng nhìn.

 

“Vậy thì cháu làm cái lễ đó mất bao nhiêu tiền? Bao nhiêu bác cũng sẽ cố mà trả cho cháu, nhà bác mới có một con trâu đực để bác bán đi rồi trả tiền cho cháu nha.” 

 

Bác Ly mừng rỡ vì sau tất cả đứa con trai duy nhất của ông vẫn còn có hy vọng được sống tiếp. Và bằng bất kỳ giá nào ông cũng nguyện ý mà trả, chỉ để đổi lại hình ảnh A Mua vui vẻ hạnh phúc hết phần đời còn lại. Và dù cho đó có là mạng sống của ông đi chăng nữa, ông cũng không do dự mà tình nguyện đánh đổi. 

 

Văn Khải vội vã xua tay đáp, “Dạ con không cần tiền làm lễ gì cho tốn kém đâu ạ. Mục đích chính của con chỉ là muốn giúp bác và anh nhà thôi. Bác chỉ cần đi chợ mua đồ lễ mà con dặn là được rồi ạ.”  

 

“Cảm ơn cháu nhiều lắm. Nếu như không có cháu, bác cũng không biết phải làm như thế nào nữa. Cháu cố gắng giúp thằng Mua con bác với nha, bác đội ơn cháu nhiều lắm.” 

 

Người trưởng làng đáng kính ấy ửng hồng đôi mắt, rối rít cảm ơn hắn vì hành động nghĩa hiệp vừa rồi. Ông thậm chí còn muốn cúi đầu mà dành cho hắn một sự biết ơn đến từ tận đáy lòng, nhưng thật may là Văn Khải đã đưa tay ra đỡ kịp. 

 

“Bác làm vậy con tổn thọ mất thôi. Dạ không có gì đâu ạ. Đây là chuyện mà một người thầy pháp nên làm mà bác.”

 

Kết thúc buổi nói chuyện ngày hôm đó là hình ảnh Thành An cùng Văn Khải đang trên đường trở về lại nhà của bà Cáy. Đôi chân cứng cáp nhẹ sải bước trên nền đất gập ghềnh, vừa đi hắn vừa thở dài trông chán nản và thiếu sức sống làm sao. Đến cả một người đã luôn im lặng suốt từ đầu buổi đến tận bây giờ như Thành An đây cũng cảm thấy chướng mắt. Cậu không nhịn được mà lên tiếng vài câu, giúp kết thúc cái sự não nề ở hiện tại đi. 

 

“Này, có chuyện gì mà cứ thở dài mãi thế? Tôi không mệt nhưng nghe tiếng cậu thở miết mà cũng bắt đầu mắc mệt theo rồi đây này.” 

 

“Không mệt sao mà được, mấy người coi đi.” Văn Khải bắt đầu giở giọng nũng nịu. 

 

“Coi chuyện gì mới được.” 

 

“Cái làng gì mà hết người này đến người kia gặp chuyện à. Chưa bắt đầu đi tìm xác của cô Y Mây ngày nào là lại gặp ngay một con quỷ mang tên Thị Dùa, rồi sau đó còn chưa tìm hiểu rốt cuộc cô ta là cái ‘thể loại’ gì thì đã phải đi giải hạn cho anh A Mua. Hết chuyện này tới chuyện kia cứ đổ lên cái đầu tôi. Bận rộn quá à, người ta cũng biết mệt chớ bộ.” 

 

“Thì có gì đâu, tụi mình cứ từ từ giải quyết từng chuyện một thôi. Chỉ có điều là… cái nào nghiêm trọng hơn thì mình ưu tiên cái đó trước.” Thành An chậm rãi khuyên nhủ. 

 

Văn Khải lại thở dài ra một hơi, “Trước mắt là ngày mốt mình cứ lo làm lễ giải hạn cho anh Mua trước đi, cứu người như cứu hỏa. Sinh mạng của ảnh là quan trọng nhất. Rồi sau đó mới đi tìm hiểu xem Thị Dùa là loại ma quỷ gì để mà còn dễ bề tìm cách đối phó, mạng sống của cả dân làng quan trọng hơn. Cuối cùng là trả Y Mây về lại với vòng tay bà Cáy, vì dù gì người mất thì cũng đã mất rồi và chuyện của cô Y Mây cũng không có nguy hại đến ai cả.” 

 

Aiss, cái số của hắn. Sao mà cứ đi đâu là lại có chuyện đau đầu nguy cấp cần phải được giải quyết không vậy? Chuyện này chưa xong thì chuyện khác đã đến, nó cứ dồn dập liên tiếp trong một ngày như thế chắc hắn bỏ nghề mất thôi. Cái làng gì mà có thầy pháp cũng như không, chẳng giải quyết được chuyện gì cho ra hồn hết. Để giờ đây hắn phải oằn mình ra giải quyết từng chuyện một, mệt muốn đứt cả hơi luôn đây này. 

 

Văn Khải mệt mỏi tựa đầu lên đôi vai mảnh khảnh của người bên cạnh, hắn như cọng bún thiu mà dựa hết cả người vào Thành An để cậu dìu dắt mình bước tiếp. Bàn tay rắn chắc nhẹ bám lấy cánh tay cậu không rời, khuôn mặt đẹp trai đang xụ xuống trông đáng thương vô cùng. 

 

“Nặng quá, đi ra coi.” Thành An chán ghét xua đuổi. 

 

“Đừng có đẩy người ta ra mà, cho người ta xin chút động lực để đi tiếp coi. Người ta đang mệt mỏi lắm đó, làm ơn thương người ta chút đi mà.” 

 

Hắn phụng phịu quyết áp chặt má mình vào bờ vai cậu không buông. Dù cho Thành An có cố đẩy Văn Khải ra như thế nào cũng không tài nào xoay chuyển nổi. 

 

“Cậu nhõng nhẽo vừa vừa phải phải thôi, sắp gãy vai tôi đến nơi rồi đây nè. Cái thây thì nặng hơn tám chục ký mà sao cứ thích dựa lên người người ta quá đi à.” 

 

“Hong thích á, rồi sao? Tôi sẽ bám riết theo mấy người cả đời này luôn cho mà coi. Có đuổi như thế nào thì tôi cũng không thèm đi đâu.” 

 

“Phiền thiệt luôn.” Thành An bật cười thành tiếng, chỉ đành bất lực để mặc cho người kia cứ như không xương sống mà bám riết lấy mình cùng đi hết đoạn đường còn lại. 

 

Bóng của hai người dần hòa vào nhau trải dài trên mặt đất. Họ có cùng chí hướng, cùng con đường và cùng cả một mục tiêu. Hiện tại là thế, chỉ hy vọng đến tương lai cũng sẽ như vậy. Dù phía trước có bao nhiêu hiểm nguy cùng gian khó, không mong cầu gì hơn chỉ mong có người mãi kề cận cùng tiếp tục đồng hành vượt qua tất cả. 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px