Dawn on Day 14.
Mặt trời đã lộ quá nửa mình qua những rặng núi trẻ gai góc, đưa ánh nắng ấm áp xoa dịu vạn vật sau màn đêm lạnh lẽo. Từng tia sáng trượt dài trên sàn nhà, đẩy lùi bóng tối đang phủ lấy sảnh dinh thự rộng thênh.
Tiếng đế giày nện lên sàn nhà khuấy động bầu không gian yên tĩnh đến đáng sợ, lướt qua hàng chục cái xác chết nằm la liệt. Đoạn dừng bước trước cầu thang dẫn lên tầng một, đôi mắt xanh quây quét qua cột trụ gần đó, nơi vừa lấp ló một bóng người ẩn nấp.
Giờ thì sự tĩnh lặng choáng ngợp đến độ hô hấp thôi cũng thấy khó khăn. Chờ cho tới khi lại nghe thấy tiếng bước chân, kẻ ẩn mình sau thân cột nhảy bổ ra, mạnh tay thảy thanh gươm đến người đàn ông trên bậc thang.
“Vụt.”
“Pặc.”
- Khặc… - Hắn ta rên rỉ. Cổ họng bị bóp chặt đến độ không khí khó mà lưu thông và xương sống thì muốn gãy rụp.
Hắn trừng mắt nhìn chằm chặp kẻ thù, yếu ớt chửi rủa:
- Mẹ… kiếp… Nó không… có ở đây…
Nhận lấy câu trả lời không vừa ý, năm đầu ngón tay dùng thêm sức, bấm sâu vào thớ da sắp sửa rách đến nơi. Biết mình thể nào cũng chầu ông bà, hắn vùng tay lấy con dao thủ ở hông toan đâm vào động mạch cảnh.
“Crắc.”
Chưa gì thì đốt sống cổ phát ra tiếng gãy giòn tan, báo hiệu cái chết đã đến và tử thần Apep đã tước đi mạng sống hắn.
- Cô ấy không có ở đây thật. Ta nên tìm chỗ khác thôi. - Có người đàn ông thông báo tình hình ngay khi xác kẻ nọ rơi bộp xuống sàn. Chú ta xuất hiện cạnh cột trụ, giương mắt ngó tử thi xấu số dưới chân. - Cậu ra tay hơi ác rồi đấy, Jacob!
Anh nhìn đáp một cái rồi bỏ lên tầng một. Sau lưng, Samanvay không ngừng nói, có vẻ hoạt ngôn hơn so với vẻ lạnh lùng thường ngày:
- Bọn chúng chắc giấu cô ta đâu rồi. Cậu cũng nên về đi. Vắng mặt ở rừng cấm hơn nửa ngày rồi.
Lúc lên tới tầng trên, Jacob quay mặt ngó chằm chặp người đàn ông sở hữu làn da xanh đặc trưng của gia tộc cổ xưa, quyền lực bậc nhất ở vùng đất Đông Ấn xa xôi, huyền bí Hiran-ya.
Cảm nhận ánh mắt dò xét nghiêm ngặt, Samanvay khựng người, hỏi vặn lại cho đúng với phản ứng tự nhiên:
- Sao vậy?
- …
Hai người im lặng đấu mắt nhau một chặp thì ngưng. Là Jacob dứt cái nhìn lăm lăm trước. Anh kiểng chân đi tới thư viện của gia tộc Blutheim còn Samanvay bén gót theo sau.
- Ở đó có gương Vị Lai. Cậu có thể dùng nó để về. Việc tìm kiếm Beatrix thì cứ để tôi và Friedrich lo liệu. Phải bảo toàn cái mạng của cậu trước.
Thà gã đừng mở miệng thì hơn. Đã nhận cái ghim từ Jacob vài giây trước mà giờ đây thích được dòm xiên xỏ thêm. Cơ mà mang phong thái của một kẻ sinh ra đã ngậm thìa vàng như Samanvay, gã đâu kiêng dè gì mà không ngó đối đáp. Đó là chưa kể gã đang nói sự thật.
Jacob đã rời rừng cấm từ chạng vạng hôm trước. Bởi vì sự tình rối ren ở Liên bang Thụy Sĩ mà phải nán lại lâu đến rạng sáng hôm nay.
Cái bất tiện của việc trở thành hậu duệ rừng cấm là đây. Muốn đuổi gã bốn tay da xanh này mà không mở miệng coi bộ khó. Jacob đành ngó lơ, tiếp tục đi tới hết hành lang rẻ vào căn phòng cuối dãy.
Thật tình Jacob không ghét Samanvay mà là anh đang đề phòng. Gã là thành viên trong Hội Trật Tự, thời khắc này đã tan rã mỗi người một hướng.
Sở dĩ hội giải thể là vì họ nhận định mục tiêu cuối cùng của Hecate đã khác rất nhiều so với những gì hội vạch ra. Và họ có những thứ quan trọng riêng để bảo vệ khỏi nanh vuốt bà ta. Tất nhiên một số thành viên vẫn giữ liên lạc để hỗ trợ nhau do có cùng mục đích, ví như trường hợp giữa Jacob và Friedrich.
Nguyên nhân đáng lo ngại nhất mà Hội Trật Tự rã rời là nội gián. Trong số mười người bọn họ có kẻ là tay sai của Hecate.
“Két.”
Jacob mở cửa. Trước khi vào thảy ánh mắt ra hiệu bảo rằng gã đừng bám theo nữa. Samanvay gật đầu, căn dặn:
- Cậu đi cẩn thận. Nhớ sống sót đấy! - Dứt lời liền xoay người một mạch rời đi.
Dõi mắt theo bóng lưng xa dần, mối nghi ngờ trong người anh vơi bớt tí tẹo. Chắc là anh đã nghĩ nhiều rồi. Samanvay đang trên con đường chứng minh cho thế giới (nhất là với bọn thánh sứ) thấy rằng không phải loài quỷ nào cũng đều xấu xa. Sẽ không có chuyện gã là gián điệp mà Hecate gửi đến.
Âm thanh “lẻng xẻng” từ mớ phụ kiện vàng lấp lánh nhỏ dần phía đầu bên kia hành lang. Khi ấy, Jacob yên tâm vào thư viện.
Cứ ngỡ gia tộc Blutheim sẽ giấu nhẹm đi món ma vật cấm gương Vị Lai nhưng rốt cuộc họ trưng bày nó trước khung cửa sổ lớn. Bước chân vào thư viện là thấy nó ngay. Thế cũng hay. Đỡ công anh đi lòng vòng tìm. Jacob sải rộng chân tới cuối phòng.
Gọi là gương song bề mặt không hề phản chiếu bất kỳ thứ gì. Chính xác thì nó giống một mặt hồ xanh vắt, chạm tay vào thì xúc cảm dòng nước lạnh đọng trên đầu các ngón tay.
- Aer thorn vel. Ma vật cấm. - Jacob đọc thầm trong đầu dòng chữ nằm tuốt trên cùng khung gương. Bên dưới còn có thêm ký tự mạ vàng khác nhưng không to và không nổi bật bằng dòng chữ này. Nó gợi nhắc anh tiếp tục tốn nhiều chất xám để giải đáp thắc mắc qua nay: Hecate đang âm mưu điều chi?
Mặt gương lay chuyển. Mỗi một vòng tròn sóng nước dao động chầm chậm khắc họa hồ Peyto đúng như mong muốn điểm đến của Jacob.
Nhấc chân định bước vào thì anh sực đơ người. Ngay khoảnh khắc ánh mắt anh rời đi, mặt gương gợn lên một làn sóng mờ đục.
Thoáng qua, Jacob tưởng mình nhìn thấy một đốm lửa đen chập chờn như ma trơi ở chính giữa. Xung quanh nó, năm quầng sáng lờ mờ lần lượt hiện ra mang hình dáng khó nắm bắt: một chiếc đũa phép, một biểu tượng Lemniscate mà anh đã đọc qua trong cuốn “Tử thư bên kia thế giới” dạo gần đây, một ngôi sao đang lập lòe muốn dập tắt, một cây trượng và một thanh kiếm.
Hình ảnh ấy chỉ tồn tại trong chớp mắt rồi tan biến. Jacob chẳng kịp hiểu nó muốn truyền tải thông điệp gì. Ngẩn ngơ ngẫm nghĩ một hồi, anh bước xuyên qua mặt gương. Không gian xoáy mòng, bóp méo cùng cực. Sau cùng nhã ra khung cảnh hồ Peyto tọa lạc giữa lòng rừng cấm.
Bấy giờ ở lục địa Bắc Mỹ vẫn là buổi tối. Mặt trời chưa kịp rọi chiếu tới đây và màn đêm hãy còn bao trùm lấy khoảng không ở tít trên cao. Nổi bật trên phông nền xanh đen đậm đặc là cực quang thất sắc rung rinh một cách bình thản. Khu rừng chìm trong sự im ắng yên bình. Thật chẳng hợp tí ti với hoàn cảnh nguy khốn ngày hôm nay.
Jacob ngồi bệt dưới gốc cây phong sát bờ hồ. Nghĩ đến kế hoạch mà bản thân đã vạch ra từ lâu đang ngày một đổ vỡ, anh uể oải gỡ chiếc hộp sọ cừu đặt kế bên. Hạ hàng mi được một chút và nhớ đến tình hình gian nan hiện tại thì chẳng yên lòng bèn mở choàng mắt. Anh co một chân kê tay đỡ trán. Thiếu điều muốn vò đầu bứt tóc để ép não bộ nhanh nhanh tìm cách xoay chuyển cục diện.
“Biết địch biết ta, trăm trận trăm thắng.” Giờ anh đâu mò ra nổi trong cái đầu mụ Hecate đang chất chứa âm mưu đen tối nào. Tuy vậy, rõ ràng mười mươi hôm nay bà ta sẽ đến đây lấy mạng anh. Nghiễm nhiên Jacob đã nảy ra kế sách khác đối phó với tình huống hiện giờ cơ mà với điều kiện không một kẻ nào xen vào cuộc chiến giữa anh và bà ta. Có thế thì ngày này năm sau là ngày giỗ hoặc của anh, hoặc của mụ ta.
Phía bên cánh trái truyền đến âm thanh lá cây khô xơ xác rùng mình kêu lên yếu ớt, lôi kéo anh quay về thực tại. Vừa ngẩng đầu thì một chú hắc kỳ lân phe phẩy đuôi đứng sát cạnh. Hàng mi đen tuyền cụp xuống, thấu trọn mọi nỗi niềm xoáy vòng trong lòng anh. Jacob mỉm cười, vươn tay vuốt ve dọc sống mũi nó. Được âu yếm, nó bốn chân gập gối nằm tựa mình kế bên. Cũng có khi là nó muốn anh tựa mình lên người nó.
Giống loài kỳ lân nói chung khá kiêu ngạo. Những ai muốn gần gũi phải thể hiện sự tôn trọng và không có ý đồ xấu với chúng. Bởi lẽ chúng sở hữu khả năng đọc vị cảm xúc và ý định mạnh mẽ hơn bất cứ loài nào, dễ dàng bắt sóng dòng suy nghĩ chảy trôi trong đầu người khác. Chính nhờ năng lực hệt giác quan thứ sáu này mà nó kiêu kì, khó tiếp cận hoặc chủ động cô lập để tránh dây vào luồng xúc cảm tiêu cực. Nhưng một khi đã hạ mình, nó sẽ là người bạn trung thành, biết lắng nghe và đồng điệu tâm trạng nhằm an ủi, vỗ về.
Chẳng rõ thực hư ra sao song khi chú hắc kỳ lân xuất hiện, Jacob đã thôi để đầu óc lan man, lạc trôi quá đà. Bộ lông đen bóng mượt quả tình không đem đến cảm giác bất an nào. Ngược lại, anh khá thoải mái với sắc màu tựa hồ như màn đêm lắng mình trên từng sợi lông óng ả ấy. Chắc do bản chất sâu bên trong con người anh cũng nhuốm màu tương tự.
“Xào xạc.”
Thêm tiếng động thảm lá khô khốc rệu rả sau mỗi dấu chân. Anh hơi ngoảnh mặt ngó dù đã biết trước đó là Rosie. Luồng ma lực trong trẻo bùng phát lên quá dễ cảm nhận từ lúc cô lọ mọ trèo xuống thân cây phong cổ thụ.
- Anh về rồi à? - Rosie vén tà váy ngồi bên phải anh.
“Ừm. Tôi về rồi.” Khóe môi Jacob càng cong hơn.
- Về trễ vậy. Thật sự không có gì đó chứ? - Ánh mắt cô xét nét một lượt trên người.
Anh quay mặt tránh né, miệng thì cười cười, đáp:
“Không có gì thật. Tôi không sao.”
Lỡ tay cởi bỏ hộp sọ cừu nên anh khó lòng mà giấu giếm bao nỗi mệt mỏi, suy tư vương bên đáy mắt dẫu cho có treo nụ cười ấm áp như mọi khi che lấp.
Hiếm hoi thấy dung mạo Jacob thành ra Rosie có bất ngờ vài giây đầu. Lúc cảm xúc đó qua đi, cô đã bình tâm đôi chút để tự hỏi tại sao. Không phải vì mệt nhoài thì còn vì lý do gì nữa.
- Mọi chuyện vẫn ổn, phải không? - Cô cầm chiếc hộp sọ cừu vân vê.
“...Không hề.” Jacob lựa chọn thành thật. “Nhưng tôi đã chuẩn bị cho tình hình hiện tại. Trước mắt vẫn có một số thứ đang nằm trong tầm kiểm soát.”
Một lát sau thì anh đế thêm:
“Tôi sẽ bảo vệ cô.”
- Anh thì sao? - Một giây thôi, gương mặt Jacob thoáng sững sờ và cô biết mình đã hỏi trúng tim đen.
Mặt đối mặt thế này thuận tiện làm sao, giúp cô nhìn thấu ruột gan gã này trong tức khắc. Rosie hỏi lại lần nữa:
- Còn anh thì sao?
Jacob nhất thời cứng họng. Đầu óc ngưng hoạt động không thể tìm ra lời lẽ lấp liếm. Anh bị làm sao thế này? Liệu có phải do Rosie dùng ma thuật không? Nhưng làm gì có thứ ma thuật nào đánh động làm đối phương cứng đờ?
Đối diện với đôi đồng tử đen lay láy, sau cùng Jacob đã có thể lý giải trọn vẹn, vừa cho tâm trạng bỡ ngỡ hiện tại, vừa cho sự nhiễu loạn nơi lồng ngực suốt mấy ngày qua.
Kỳ lạ thay mỗi khi đối mặt với Rosie, mọi hỉ nộ ái ố đều phóng đại quá thể. Lúc vui thì hóa thành hân hoan, khấp khởi. Khi buồn thì quặn thắt, xót xa tột cùng. Có bực tức cũng trở nên nóng máu, điên tiết. Làm như tất thảy những thứ trên đời này liên quan đến cô đều có thể kích động, khuấy đảo thất tình lên đến bậc cao nhất. Và thế giới dường như đậm màu sắc hơn trước đây vạn lần. Đặc biệt, sau hơn năm trăm năm, đây là lúc anh cảm tưởng mình thực sự đang sống. Phải chăng nhận ra trái tim ở lồng ngực đang đập sống động mà khao khát được tạ lỗi trở nên mãnh liệt hơn?
Thấy anh thất thần chăm chăm ngó mình, Rosie buông một tiếng thở ngắn, khẽ khàng bộc bạch:
- Tôi không biết những gì anh đang gồng gánh. Tôi không biết phải nói gì nữa. Nhưng… ít nhất lúc này, anh không ở một mình.
Giờ thì anh đã nhoẻn miệng cười. Một nụ cười rất tươi không hàm chứa nỗi cực nhoài.
“Cảm ơn cô nhiều nhé, Rosie.”
Đôi môi cô vô thức uốn thành đường cong mỏng.
“Lần đầu học ma thuật, cô thấy thế nào?” Jacob tỏ ra tò mò. “Có gặp khó khăn gì không?”
- Scarlett đã dạy tôi kha khá phép đó. Đầu tiên là chỉ tôi cảm nhận ma lực. - Mặt mày Rosie vơi bớt nỗi lo. Trong đôi mắt lấp lánh sáng ngời đã thay cô bộc lộ niềm phấn khích, thích thú. - Sau đó là điều khiển đồ vật. Phép này hay này. Tôi nghĩ nó sẽ có ích lắm. Nhưng mà…
Rosie ủ rũ hẳn:
- Tạo lá chắn thì tôi còn yếu lắm. Luyện mãi mà tôi chẳng thể biến ra một cái đàng hoàng. - Sực nhớ tới ký ức làm cô bực bội, sắc thái trên gương mặt Rosie liền thay đổi tiếp. - Lúc tôi tạo lá chắn thất bại lần thứ năm, đống lá phong mà Scarlett thổi tới ập vô người tôi tự dưng có một con sâu trong đó làm tôi hết hồn. Tôi có chạy tới nhờ Melas lấy ra hộ mà cậu ta cứ ôm bụng cười ngặt nghẽo miết. Thật muốn đánh một cái mà!
Trông cô vô tư kể về buổi học ma thuật lắm chuyện thú vị, Jacob bật cười khúc khích. Mang tai Rosie hồng hồng. Cô cau mày, lên án vị đệ tử duy nhất của anh:
- Anh cười cái gì? Dạy dỗ đàng hoàng học trò mình đi chứ? Cậu ta hơn hai trăm tuổi rồi mà hành xử cứ như thanh niên mười lăm tuổi không bằng ấy.
“Tôi có đấy chứ. Thằng bé là không chịu lớn thôi.” Anh gắng ngưng cười để giúp Rosie hiểu thêm về Melas. “Ở thế giới ma thuật, việc một người sống tới trăm tuổi hay thậm chí là cả ngàn tuổi không hề hiếm gặp. Nhiều lần tôi có thắc mắc vì sao những người như thế khó trưởng thành. Ngài Sakwahuyma đã từng giải thích cho tôi rằng chính vì họ biết mình sống lâu nên luôn cho rằng mình còn rất nhiều thời gian. Với cô, Melas đã hai trăm tuổi. Nhưng trên thực tế, quy đúng với chủng tộc linh thú như cậu bé thì Melas mới có ngoài hai mươi thôi.”
- Melas hai mươi tuổi á? - Rosie thảng thốt.
“Ừm.” Jacob co hai chân, thảy tầm mắt ra ngoài hồ Peyto xa xăm. “Con người nói riêng, và những chủng tộc có tuổi thọ ngắn nói chung, đa phần đều chín chắn hơn bọn tôi nhiều. Họ có những điều chiêm nghiệm mà bọn tôi không thể hiểu nổi.”
Suýt nữa thì cô đã bật ra câu hỏi chẳng phải chính anh cũng là con người sao. Bắt đầu khi nào mà cô đã xem Jacob là con người vậy. Anh ta chỉ có phần nhân tính thôi. Về cơ bản, anh ta vẫn là một con quái vật không hơn không kém.
Rosie dõi mắt ngắm khung ảnh dòng nước êm ả phía trước, bận tâm nghĩ ngợi về lời anh nhận định. Thật khác với cảm nghĩ của thất công chúa Mako. Mặc dù Jacob ghét con người song không hề để nỗi hận thù ở quá khứ che lấp đi hoàn toàn cái nhìn bao quát, toàn diện về họ. Bỗng dưng Rosie ngờ ngợ ra một điều: Con người cũng có thể là quái vật. Quái vật cũng có thể là con người.
- Vậy à… - Cô nhả ra hai chữ nhẹ tênh khỏi miệng.
Nhắc đến con người, Rosie nhớ ngay tới ngôi làng (chết tiệt) của cô. Bọn họ thẳng thừng từ chối, nguyền rủa, căm thù anh đến mức không một ngày nào là không mong cầu lấy đầu anh. Và anh, có bị hiểu lầm tai hại đến đâu, chưa từng oán trách, phẫn nộ. Nếu muốn, Jacob dư sức thâu tóm cả ngôi làng từ lâu. Nhưng anh chọn dâng hiến sức mạnh của mình chỉ để bảo vệ rừng cấm.
- Hay là anh ta đang dè chừng đám thánh sứ thần Athon ta? Cái đó cũng tính là vi phạm Thiên Luật mà nhỉ? - Rosie tự lần mò.
Với cái tính khí hòa nhã đó, có không phạm Thiên Luật thì Jacob chả thèm đả động đến ngôi làng. Nhất định là thế. Hùm đại không bắt muỗi. Huống hồ chi bọn dân làng chỉ là con kiến.
Vậy nên, việc của cô bây giờ đó là bảo vệ bản thân thật tốt. Bấy nhiêu đã giúp đỡ cho Jacob và những người khác rất nhiều rồi.
- Chốc nữa tôi sẽ luyện tập thêm. Tôi sẽ thành thạo phép lá chắn và những phép khác. Tôi không muốn gây ảnh hưởng đến mọi người đâu. - Rosie ngồi bó gối song đầu ngẩng cao rất mực tự tin mình sẽ làm được.
Jacob bèn tựa thái dương lên tay, hạ thấp tầm nhìn để có thể ngắm cô ở góc độ từ dưới lên.
“Ừm. Cố lên.”
- Anh cổ vũ qua loa quá đó! - Rosie lườm nguýt. Ngượng ngùng vì Jacob cứ hay dịu dàng nhìn cô chằm chằm tưởng chừng muốn ôm lấy cô bằng ánh nhìn trìu mến, cô bèn gác thái dương lên đầu gối cho tầm mắt hai người ngang nhau. - Bộ anh không tin tưởng tôi hả? Không phải nói phét chứ tôi đây học hơi bị giỏi nha.
“Vâng, vậy thì thiên tài của tôi ơi, cố lên nhé. Tôi tin ở cô.”
- Cái anh này! - Rosie phát cáu.
“Thiên tài của tôi ơi, có chú sâu trên vai cô kìa!” Jacob cười hóm hỉnh.
Nghe chữ “sâu” thôi, Rosie nhảy cẫng lên làm chú hắc kỳ lân giật nảy. Cô phủi phủi hai bên vai, sợ hãi dòm khắp người rà soát. Được phen Jacob nhe răng cười khanh khách.
“Cô sợ sâu thật à?” Chả rõ anh đang hỏi hay đang chòng ghẹo nữa.
Chắc chắn là vế sau rồi. Máu nóng dồn lên não, Rosie nghiến răng cầm chiếc hộp sọ cừu, hậm hực nhấn vô mặt Jacob coi như đó là cái đánh ghét.
- Tôi có lòng ra ngồi với anh an ủi mà anh không muốn thì thôi. Ở đó chơi với kỳ lân một mình đi. Đồ điên!
Nói rồi tức thời cáu bẳn bỏ vô trong, không thèm để một lời anh nói lọt vô tai. Nghe sao được mà nghe. Điệu cười sảng khoái còn đó thì bảo sao người ta không phớt lờ.
———
Trời dần dần sáng trưng thì Nolan tỉnh giấc. Sau cái vươn mình giãn gân cốt, cậu ngồi dậy ngáp một cái thật dài. Não bộ vô guồng hoạt động, liệt kê các đầu việc hôm nay phải làm. Khi tỉnh táo hơn, cậu sốt sắng bước chân rời giường bắt đầu một ngày mới.
Thay bộ quần áo nom chỉnh tề và rất ra dáng một tên công tử nhà giàu, Nolan xuống tầng dưới. Kết thúc bậc thang thì rẻ ngay vào nhà bếp bên tay trái. Mùi đồ ăn tràn ngập khắp không gian, kích thích vị giác và cái bụng rỗng sau một đêm dài ngon giấc.
- Thật tình! Mới sáng bảnh mắt ra mà đã bị mất đồ rồi! Phải cho người lục tung hết cái làng này tìm ra bộ đồ đó cho tôi! - Mẹ cậu cằn nhằn với mấy người giúp việc.
Nolan bèn xéo tới hôn bên má chào buổi sáng tốt lành với mẹ mình, giở giọng yêu thương xoa dịu cơn tức của bà:
- Thôi nào mẹ! Sáng sớm mà tức giận gì chứ? Nhà mình thiếu gì đồ và tiền. Mất thì mua cái khác thôi!
- Sao mà được chứ! Bộ đó mẹ thích lắm đấy! Hoa văn sang trọng. Vải là lụa pha len đắt tiền đó, con ạ. Trộm bộ nào không trộm, lấy trúng bộ đẹp nhất. Nó cũng có mắt nhìn đó!
- Vậy chứng tỏ mắt thẩm mỹ của mẹ siêu tốt nên mới đặt may ra bộ đồ đẹp đến độ hút mắt ngay tên trộm từ cái nhìn đầu tiên còn gì. - Cậu vờ vịt hùa theo trong khi đẩy vai bà tới bên bàn ăn và nhấn xuống chiếc ghế gần đó. - Trước hết ăn sáng đã, mẹ à. Mình có sức thì mới tóm cổ tên trộm được chứ? Đâu thể vì nó mà bỏ bữa sáng được.
Nghe vậy, mẹ Nolan ậm ự, cố dồn hết tâm trí vào đĩa thức ăn đã bày sẵn ngay trước mặt, song tức thì vẫn tức. Ông Donalbain vào ngay sau đấy. Sáng sớm nay, vài người trong toán thợ săn đến gặp ông thảo luận. Họ về rồi ông mới dùng bữa sáng.
Như mọi khi, bầu không khí gia đình ba người hòa thuận, êm ấm. Nhưng lúc Nolan đặt nĩa muỗng xuống chén xong phần ăn, mẹ cậu sực nhớ ra và răn dọa:
- Nolan, con không được phép lén đi cùng với bọn họ đâu đấy! Đợt này họ sẽ tấn công lớn vào rừng cấm. Rất nguy hiểm! Con phải ở nhà! Mẹ sẽ cho người theo con.
- Con không đi đâu. Mẹ khỏi cho người theo. Có tụi Ruvey ở đây, con chỉ đi lòng vòng với bọn nó thôi! - Nolan lấy khăn lau miệng, đẩy ghế đứng dậy.
- Em cứ làm quá! Mấy ngày trước thằng bé đâu đi theo bọn họ vào rừng cấm. Em cũng thấy mà! Để anh kêu thợ đến may cho em bộ mới nhé. - Ông Donalbain chuyển chủ đề nhằm tránh để vợ mình quá lo lắng cho con trai.
Cơ mà mẹ Nolan chả đoái hoài, khăng khăng cho rằng cậu đang có dự định sâu kín cho riêng mình. Bà lom lom dòm cậu thanh niên có cái đầu xoăn hệt tổ chim sà tới sau lưng mình và hôn lên bên má, giọng hạ thấp một bậc:
- Không được đi đâu đó!
- Con biết rồi mà. - Nolan cười hề hề.
Là người mang nặng đẻ đau, chứng kiến sinh linh mới ngày nào nằm gọn bên cánh tay giờ đây đã là chàng trai trưởng thành cao lêu khêu, bà Steward tin rằng con trai bà sẽ tiếp tục lao vào nguy hiểm thêm lần nữa. Không phải ai khác ép buộc mà chính nó tự nguyện nhảy vô. In hình phần máu thịt từng chung một nhịp đập kia đang gào thét, mách bảo bà những suy nghĩ thầm kín mà cậu cố giấu nhẹm đi trong đầu.
Bóng lưng thẳng tắp khuất dạng sau cánh cửa. Bấy giờ, bà Steward cúi đầu, xơi nốt nửa phần ăn còn lại.
…
Lửng thửng cuốc bộ một chặp thì Nolan đã có mặt trước quán rượu hôm nào nghe thông báo chuyến săn đầu tiên. Cậu đẩy cửa bước vô với phong thái của một đại thiếu gia, tấp vô quầy hỏi chị chủ quán:
- Ông Vane có ở nhà không, chị Farah?
- Chào buổi sáng, thiếu gia Steward. Tiếc quá! Ông ấy ra ngoài lúc sáng rồi. Cậu tìm ông ấy có việc gì à?
- Tôi hỏi chút chuyện.
- Ưm… - Chị chủ quán đánh mắt sang chiếc đồng hồ. - Chị nghĩ ông ấy sắp về rồi. Ổng mới ra ngoài nửa tiếng trước thôi.
Chị Farah chưa kịp mở lời mời ngồi vào ghế chờ thì Nolan đã rảo chân tới bậc thang dẫn lên phòng trọ ở trên.
- Cậu đợi chút đã, thiếu gia Steward! - Chị chủ quan la oang oang.
- Hử?
- Ông Vane không cho người khác vào phòng ông ta đâu. Cậu nên chờ dưới đây thì hơn.
- Tại sao? - Nolan nhướn mày.
- Thì vì ông ta cấm người khác vô phòng mình.
Nolan nhếch một bên khóe miệng, thở ra một câu nồng mùi kiêu ngạo của một tên có tiền có quyền:
- Ông ta dám cấm tôi không?
- Ưm… Chắc là…
- Là không. - Nolan điền chỗ trống giúp chị chủ quán với thái độ kênh kiệu. - Tôi muốn vào thì vào. Ai cấm tôi được, chị Farah?
Rồi mặc kệ chị chủ quán, Nolan đút tay vào túi quần lên tầng trên. Dọc hành lang hẹp có bốn cánh cửa. Cậu dừng chân trước căn phòng cuối dãy, thản nhiên vặn cửa xông vô làm như cùng lắm chỉ là buồng kho nhà mình. Mà ông ta cũng quá buông lơi cảnh giác đi. Chả thèm khóa cửa khi ra ngoài. Chắc ông ta đi chút rồi về.
Bảo là trọ nhưng bên trong khá rộng. Ước chừng phải hơn hai chục thước. Nội thất vô cùng tối giản đủ cho một người ở. Chiếc giường ọp ẹp đặt bên góc phải. Tủ đồ thì ở phía đối diện. Kê sát cạnh giường và ngay trước ô cửa sổ là chiếc bàn làm việc bừa bộn. Sách, bút, giấy nằm ngổn ngang không theo trật tự.
Nolan đến bên bàn kéo ghế ngồi phịch xuống rất chi là tự nhiên. Vừa xoay đầu ngó sang bức tường thì thấy hai cây súng bắt chéo nhau treo cứng ngắc phía trên đầu giường. Nó khơi gợi loạt kỷ niệm khi đang học khóa đào tạo thợ săn.
Hầu như buổi học nào cậu cũng bày trò chọc phá Rosie, cô gái mà cả làng miệt thị. Lâu dần, cậu học cách ghi nhớ những thứ vụn vặt từ cô: mái tóc nâu đỏ túm gọn bởi một sợi dây đỏ, làn da ôliu sáng khỏe mạnh, cái cau mày đầy chán ghét, âm sắc the thé mỗi khi đấu khẩu,... Rất, rất nhiều thứ nhỏ nhặt khác được gom góp từng ngày để rồi hiện tại tâm trí cậu toàn là hình ảnh cô.
Nhất là sau khi cô bỏ làng đi theo quỷ gác rừng cấm, bóng dáng cô hiện hữu trong đầu càng nhiều và càng rõ rệt. Cứ như giữa Nolan và Rosie tồn tại một khoảng cách vừa vặn, đủ gần để vươn tay là chạm đến nhưng cũng đủ xa để cậu không thể nào lấn sâu thêm dù là một bước. Như thể cậu và cô đơn giản là người cùng làng, bạn học chung khóa đào tạo, cao hơn một chút là kẻ bắt nạt và kẻ bị bắt nạt.
Cậu chấp nhận là một tên thiếu gia xấu xa, chuyên ức hiếp cô. Có thế thì ít nhất cậu vẫn được lưu giữ hình bóng trong trí nhớ cô. Nhưng đó là trước lúc quái vật rừng cấm bắt Rosie đi. Kể từ ngày ấy, khoảng cách giữa Nolan và cô xa hơn, bồi thêm bức tường vô hình ngăn cách mọi tiếp xúc.
Cuộc thương lượng ngày hôm qua quả thật cậu đã quá nóng vội, vô tình đẩy Rosie vào thế khó. Giả sử cô không theo quỷ gác rừng cấm đi nữa thì sống ở làng chẳng được yên thân. Vì e sợ và căm phẫn nó mà cậu đã hành động hấp tấp. Nhưng chuyện không mong đã diễn ra rồi, có ngồi đây ăn năn, bứt rứt thì được gì.
Nhận ra tâm trí đang dần xoáy sâu vào góc tối tăm, Nolan bèn đứng dậy vận động thân thể. Cậu thử nghía qua đống giấy trên bàn, thắc mắc một người như ông Vane mà cũng biết đọc sách, viết chữ. Đó có vẻ là ngôn ngữ nước ngoài nữa chứ. Chữ nghĩa ngoằn nghèo, chằn chịt. Chêm vào đó là vài ký tự lạ. Một số mẫu giấy bị vò nát lặp đi lặp lại một hình tròn với họa tiết cầu kì. Chả hiểu mô tê gì nên Nolan bỏ qua.
Cậu với tay lấy nửa chiếc sừng được trưng bày bên góc bàn. Đây có thể xem là bảo vật của ngôi làng. Ông Vane trân quý nó quá nên dành trọn một không gian nhỏ gọn gàng nhất trên bàn trang trí, bước vô phòng là đập thẳng vào mắt liền. Thấy cậu táy máy tay chân, vô tư cầm bảo vật dòm ngó thì thể nào ông Vane sẽ nổi đóa. Tưởng tượng khuôn mặt hung tợn dúm dó vì cáu bẳn, Nolan bật tiếng cười khinh.
Ngoảnh đầu dáo dác quan sát căn phòng trọ thêm một lượt, cậu phát hiện bức tường sau lưng có mắc mảnh vải lớn che phủ. Theo cơn gió thoang thoảng từ cửa sổ lùa vào, tấm vải phồng lên nhè nhẹ, ma sát với bề mặt giấy kêu lên tiếng “sột soạt”.
Cậu tò mò thử nhấc một bên vải lên xem. Kinh ngạc thay. Một người thuộc tầng lớp bình dân như ông ta có thể sở hữu tấm bản đồ thế giới đầy đủ hiện nay. Điều đáng lo ngại hơn chính là những điểm nối trên bản đồ. Một điểm ở khu vực An Nam, các chấm đỏ khác ở Ai Cập, Peru, Polynesia và Bắc Iceland. Tất cả năm vị trí này được móc nối với nhau bằng sợi dây đỏ. Nhìn từ xa sẽ liên tưởng ngay tới ngôi sao năm cánh méo mó. Chuyện sẽ không có gì để bận tâm nếu ông Vane không treo đính kèm theo đó những ký tự và hình vẽ kỳ quái làm nguyên tấm bản đồ toát lên vẻ ma mị, bí ẩn và có chút nguy hiểm. Là người lạ, không quen biết ông Vane nhìn thấy sẽ hiểu lầm ông ta là một phù thủy.
Liên kết với cuộc nghe lén chiều qua, cơn rùng mình chạy dọc sống lưng Nolan. Không muốn cũng buộc phải đặt ra nghi vấn về thân phận ông Vane. Sự thật thì ông ta là người từ vùng khác chuyển đến sinh sống vào khoảng ba năm trước, giống Rosie và ông Haveri vậy. Ngoài ra, Độc Dược Phệ Hồn, thứ độc diệu kỳ có thể làm suy yếu quỷ gác rừng cấm, con quái vật đã tồn tại hơn năm trăm năm, thợ săn như ổng làm quái gì điều chế ra được. Liệu có điều ẩn khuất mà cậu không biết chăng? Chẳng hạn là một thế lực tà ác đứng sau tất cả?
Đột nhiên bên ngoài truyền đến tiếng động. Sàn gỗ bắt đầu rung lên theo nhịp bước chân không phải một mà là hai người. Giây sau, Nolan loáng thoáng nghe ra giọng ông Vane. Cậu giật mình, đánh rơi nửa chiếc sừng trên tay. Cơ mà giờ này lấy đâu tâm trí mà lo đến nó. Và kìa, chưa gì họ đã đứng ngay trước cửa.
“Lạch cạch.”
- Thật không thể ngờ trên đời này có người như cậu ta. Gì mà mạnh quá chừng. Không kể đến xuất thân bình thường, cậu ta vẫn trở thành huyền thoại của huyền thoại. Mặc dù chưa đạt cấp bậc huyền thoại, hì hì. Nhưng mà… tôi phục sát đất cậu ta đó. - Ông Vane luyên tha luyên thuyên, hết lòng bày tỏ sự ngưỡng mộ dành cho thần tượng của mình, nào có biết phòng trọ mới có kẻ đột nhập.
- Có mạnh đến mức nào, nếu sơ sẩy thì kế hoạch vẫn thất bại như thường. - Đáp trả lời ông ta là một bà cụ. - Ngươi nên nhớ, nó cũng là một “chìa khóa” đấy. Kiểm soát sự sùng bái của mình lại đi. Ngươi mà lỡ miệng nói ra là toang hết kế hoạch của ta đấy.
- Ngài thấy tôi có nói gì đâu. Nhưng thật sự không thể tìm kẻ khác thay thế sao? Chẳng hạn như… Metangis? - Thế mà ông ta dám đem người đồng đội ra để hy vọng mụ bà thay thế vai trò của thần tượng mình trong chiến lược.
- Ngoài việc to xác ra thì bộ não nhà ngươi không to theo được à? - Mụ bà cười cong môi lẫn mắt, cố thấu hiểu cho sự kém hiểu biết của tay sai mình. - Metangis đã chết mất xác từ lâu. Thứ bây giờ ngươi thấy chỉ là linh hồn hắn ta trú ngụ trong thân xác đó thôi. Xác thật của hắn đã phân hủy tám kiếp rồi!
- Vẫn còn nhiều người khác mà! Đâu nhất thiết phải là cậu ấy.
- Thay vì lo cho hắn thì lo cho thân người trước đi. Coi bộ có người xông vào phòng ngươi lúc ngươi không có ở đây rồi đấy! - Nói rồi, bà hạ đồng tử lưu tâm nửa chiếc sừng nằm cù lăn cù lóc trên sàn.
Không khí phút chốc im bặt. Sự căng thẳng dâng lên từng nấc như thủy triều. Mụ bà cất chân đến nhặt nửa chiếc sừng, là kẻ đầu tiên phá tan im lặng, đồng thời cố tình đẩy cơn ngột ngạt tới đỉnh điểm gây khó dễ cho Nolan khi đảo mắt ra ô cửa sổ chữ nhật nằm ở cuối chiếc giường:
- Có con chuột nhắt vô tình chạy vô hang cọp rồi.
- Ngài có cảm nhận gì không, ngài Hecate? - Khác với mụ ta, ông Vane chưa biết vị trí Nolan lẩn trốn, mắt xiên xỏ tứ phía tìm kiếm. - Để tên đó nghe được kế hoạch thì hỏng.
- Ngươi yên tâm! - Hecate bình thản tiến đến gần cửa sổ. - Nó có biết cũng chẳng làm gì được. Bởi vì nó là một con chuột nhắt yếu ớt.
Ngay lúc này, mồ hôi mồ kê chảy nhễ nhại trên đầu, trên lưng Nolan giống như cậu mới tắm xong. Cố co chân, lực tay bám bên bệ cửa sổ mà còn phải chịu đựng áp lực từ cặp mắt viên đạn đâm xuyên qua tấm rèm dày, lớp kính dày găm chặt lên người, Nolan cảm tưởng mình sắp sửa ngã đến nơi. Nhưng tín hiệu cầu cứu từ các sợi thần kinh ra sức ngăn cản, tiếp thêm sức giúp cậu cố bám trụ lâu hơn.
Mưu tính một hồi, mụ Hecate thôi giương mắt trừng trừng với Nolan. Bà quay sang chìa chiếc sừng tới ông Vane, giễu cợt:
- Ngươi cũng độc ác thật đấy! Cháu trai của ngươi là kẻ bán hồn, từng bị ác linh chiếm xác. Đã không giúp nó thì thôi, đằng này còn muốn tìm cách giết nó nữa chứ. Jacob biết chắc hận ngươi lắm! Vì cậu ruột nó lại nhẫn tâm bán đứng nó thế này!
- Thằng chết dẫm ấy đáng bị như vậy! Tôi cứu nó làm gì? - Ông Vane nhận chiếc sừng từ tay bà Hecate, cười giễu. - Nó đã từng cướp đi chức vị của tôi thì nó phải trả lại cái gì cho tương xứng chứ. Nhờ ơn nó mà tôi bị bọn họ xua đuổi khỏi làng vì nghi ngờ tôi đã hãm hại nó đó.
Nolan ngưng thở, mắt khẽ liếc vô trong muốn xác minh kẻ thốt lên những lời sặc mùi ganh ghét là từ ông Vane. Bất giác trí não vận công suất đùn đẩy bao nhiêu hoài nghi vọt ra. Sao ông ta biết rõ con quỷ kia? Sao khoái chí khi có được nửa chiếc sừng của nó? Và sao căm ghét nó đến mức cực đoan? Mỗi một nghi vấn đánh động mạnh vào niềm tin mà cậu luôn bám vào suốt bấy lâu nay. Rốt cuộc, ông ta là kẻ ác hay con quái vật kia mới là kẻ tàn độc hơn? Làm gì có ai đi hãm hại người thân của mình. Mà gượm đã. Ông ta… và con quái vật đó có quan hệ máu mủ?
- Ồ…! Nhưng chẳng phải nó rất được người làng ông ủng hộ sao? - Tự dưng bà Hecate tiến gần hơn ô cửa sổ đoán chừng muốn mở cho thoáng khí. - Nó hay thật! Dù người làng biết cha nó là pháp sư mà vẫn tin tưởng giao chức trách cho nó.
Nolan bấn loạn cả lên. Loay hoay tìm cách, cuối cùng quyết định nhảy phóc xuống. Chân tiếp mặt đất thì cậu mau mắn lấy đà phóng như bay về nhà. Ngay khi khuất lưng sau căn nhà kế bên, bà Hecate mở toang cửa sổ ra, nheo mắt gói gém con chuột lưu dưới đáy mắt.
- Còn chẳng phải do mẹ nó là trưởng họ quạ à? Chị tôi lúc tại vị quản lí cũng ra gì và này nọ lắm! Chính bả là người nhào nặn ra nó đó. Một thằng chỉ giỏi giả tạo là tốt! - Nhớ tới khuôn mặt luôn sẵn đó nụ cười dịu dàng, ông Vane tặc lưỡi đảo trắng mắt.
…
Chạy thục mạng được một đoạn xa và chắc chắn không ai đuổi theo, Nolan giảm tốc độ, gác tay lên một bên hàng rào thở hổn hển. Từ lồng ngực dội lên không ngừng âm thanh “thình thịch”. Quệt ngang mồ hôi rải đầy vầng trán, cậu cố điều chỉnh nhịp thở vừa để lấp đầy không khí thiếu hụt ở hai lá phổi, vừa để bình tâm đầu óc sau khi tiếp nhận tin sốc động trời.
Kiễng gót đi nốt cung đường dẫn về nhà, Nolan sắp xếp lượng thông tin quá tải so với sự hiểu biết và niềm tin của cậu. Hoá ra, ông Vane, cái gã trưởng đoàn thợ săn mà cậu biết đó, thực chất là một phù thủy. Trên bàn làm việc bừa bộn ban nãy ngoài nửa chiếc sừng của quỷ gác rừng, Nolan để ý thấy một cây gậy gỗ vùi mình dưới mớ giấy vẽ ký tự lạ. Rất có thể là đũa phép.
Cậu cũng không muốn tin vào chuyện hoang đường do chính cái đầu mình vẽ vời ra đâu. Nhưng những ký tự đó giống thứ ngôn ngữ mà cậu đọc qua từ cuốn truyện lấy bối cảnh thế giới ma thuật: chữ rune.
Hiểu như vậy sẽ dễ lý giải hơn nhiều cho khúc mắc ông ta có quan hệ huyết thống với quái vật rừng cấm. Có thể là… ông ta đã hơn năm trăm năm tuổi…
Nolan cau mày, khó hiểu và khó xử trước sự thật mình mới vô tình tìm ra. Ngẩng đầu quan sát một góc nhỏ ngôi làng, cậu cho rằng bao chuyện bí mật mà mình chưa biết đang ẩn nấp kín kẽ dưới từng mái nhà. Nhưng đáng lo ngại hơn cả vẫn là thân thế ông Vane.
Nếu quỷ gác rừng cấm là quái vật, chính xác hơn theo đúng lời mụ già kia gọi là kẻ bán hồn gì gì đó, vậy ông Vane đích thị là cái gì?