Chương 36: Sa lồng
Vậy thì theo mợ. Đó là một sự ưu ái hiếm hoi của trời đất, hay chỉ là một món nợ đang treo?
Con tôi chết rồi. Đứa con tôi mang trong bụng đủ chín tháng mười ngày, cái ngày vượt cạn tưởng đâu đã bỏ mạng tới nơi mới sanh được nó ra, vậy mà vừa đặt tên xong, nó cũng bỏ tôi mà đi.
Ngày chôn con, bầu trời âm u một màu tang tóc. Mưa bay lất phất cuốn theo hơi lạnh thấu, đất chỗ mả nhão ra, dính chặt dưới đế giày. Tôi cứ ngồi đó mà dòm cái gò đất nhỏ, dòm mãi, dòm hoài. Cậu Ba Thuận cái áo khoác ngoài ra rồi choàng lên vai tôi, giọng trầm buồn:
"Trời tối rồi, về thôi. Con nó đi rồi, mình ráng mà giữ cái thân..."
Mấy ngày sau đó, chuyện ở ruộng với công việc ở sở cao su đều được cậu Ba giao hết lại cho người khác. Anh suốt ngày chỉ quanh quẩn ở nhà, chẳng chịu rời tôi nửa bước.
Có mấy đêm tôi giật mình thức giấc rồi trằn trọc, ngoảnh mặt lại sẽ thấy cậu Ba ngồi dậy theo, cầm cái quạt giấy nhè nhẹ huơ gió cho tôi mát. Chúng tôi sẽ thủ thỉ với nhau vài ba câu ngắn ngủi, rồi có khi ngồi lặng thinh vì chẳng biết nói gì. Trong thâm tâm hai đứa, ai mà chẳng biết chuyện con chết là tại cái nghi thức quái quỷ của hội kín? Anh sợ nhắc tới con làm tôi buồn, còn tôi lại sợ mình quên mất mình từng có một đứa nhỏ nếu cứ giả đò như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Tôi biết cậu Ba thương con cũng chẳng kém chi tôi. Không ít lần, tôi thấy anh cứ ngồi trố mắt dòm ra khoảng sân gạch, tay cứ mân mê cái vớ nhỏ xíu của con mà mặt mày thẫn thờ, ngơ ngẩn.
Ấy vậy mà chẳng hiểu sao, nhìn mặt cậu Ba Thuận chừng nào, lòng tôi lại càng sinh ra ngột ngạt, bực bội chừng nấy.
Trước kia tôi bằng lòng làm 'mợ Ba' một phần cũng tại cái bụng mỗi ngày một lớn. Tôi sợ cái miệng đời dị nghị, sợ đứa nhỏ vừa lọt lòng đã mang tiếng không cha. Một năm chung sống, một đứa con dại, mấy tiếng "tôi-mình",... hết thảy tựa như những sợi chỉ quấn tay chân tôi, cột chặt cả đời tôi vào cậu Ba Thuận. Nhưng nay con tôi mất rồi, thân tôi cũng đã chuộc ra, tiền bạc cũng không còn là nỗi bận lòng nữa. Tôi mới giật mình nhận ra rằng nếu giờ tôi còn ở lại, tức là tôi tự nguyện ở bên anh.
Nghĩ đến đó, tự dưng tôi không chịu nổi.
Tôi chẳng rõ tại sao trong lòng lại trồi lên cái ý muốn bỏ đi mãnh liệt tới vậy. Tới chừng tỉnh bừng, tôi mới giật mình nhận ra cái tay đã sửa soạn xong xuôi quần áo vô cái giỏ xách từ hồi nào. Nếu có đi, tôi sẽ canh lúc cậu Ba Thuận lên Thủ Dầu Một mà dọt* lẹ. Tôi cũng chẳng biết mình sẽ đi đâu, chỉ biết sẽ đi thiệt xa, tới cái chốn mà không ai biết tôi là ai.
(*dọt: chạy/rời đi)
Nhưng nghĩ là một chuyện, còn đi thiệt hay không lại là chuyện khác. Người tính không bằng trời tính, một buổi sáng nọ, chị Nụ chợt đem vô nhà một phong thơ. Đó là thiệp mời của hội Bách-chi Đồng-căn.
Cậu Ba Thuận đang cầm thơ thì ngước lên. Thấy tôi cứ trố mắt ngó chằm chằm không chớp mắt, anh liền vội vã cất cái phong bì vào túi áo:
"Mình nghỉ đi. Chuyện này mình hông cần phải bận lòng đâu."
"Đưa em lá thơ."
"Mơ..."
"Em biểu đưa đây! Đưa cái thơ cho em!"
Tiếng tôi lớn tới nỗi chị Nụ đứng gần cửa cũng giật mình. Cậu Ba chưng hửng. Anh nhìn tôi một hồi lâu, rồi cuối cùng cũng thò tay vô túi áo, rút phong thơ trả lại cho tôi.
Tôi giật lấy lá thơ, quệt nhanh giọt nước còn vương trên khóe mắt. Cái phong thư được niêm phong bằng sáp, được làm bằng giấy dày, láng mịn, lại phảng phất mùi dầu thơm sang trọng của người Pháp nhà giàu dư tiền lắm bạc. Ngoài bì thơ người ta chỉ đề ba chữ "Nguyễn Thị Mơ" bằng nét mực xanh thẳng tắp. Tôi lật qua lật lại, kiếm hoài chẳng thấy tên cậu Ba Thuận đâu.
Tôi liếc anh một cái sắc lẹm, rồi cầm lá thơ quay lưng đi thẳng vô buồng riêng.
Thả mình xuống giường, tôi xé liền cái bì thơ. Bên trong có một lá thơ viết tay cùng một tấm thiệp mời sang trọng. Đầu thơ, Bùi Vĩnh Quan hỏi thăm sức khỏe hai vợ chồng. Hắn viết rằng đã hay tin nhà tôi vừa trải qua chuyện chẳng may, mấy lời chia buồn về đứa con xấu số được viết bằng những lời văn đầy xúc cảm.
Đọc tới đâu, máu trong người tôi sôi rần rần tới đó. Tôi còn nhớ cái hôm hắn đưa tôi tới nhà ông bà Hội đồng để giúp người trong hội, giờ ngẫm lại, tôi chắc mẩm người đó chẳng ai khác ngoài cậu Hai Thành. Còn ai mà dại khờ tới mức đem những chuyện thầm kín trong nhà đi mách lẻo với người ngoài.
Nhưng chuyện con tôi mất thì khác. Cậu Hai không thể biết chuyện đó mà báo cho Bùi Vĩnh Quan.
Đang ngồi nghĩ ngợi mông lung, cửa buồng tự dưng bật mở. Cậu Ba Thuận bước vô, tay bưng theo một chén chè cho tôi. Anh để nó xuống cái bàn nhỏ ngay đầu giường, ngó tấm thiệp trên đùi tôi, rồi từ từ ngồi xuống bên cạnh.
"Chị Nụ mới nấu đó, mình ăn chút đi."
Tôi không thèm đáp lời, cũng chẳng ngoái đầu dòm mặt anh, chỉ lẳng lặng lật qua mặt sau của tờ thơ.
Quan viết rằng hội Bách-chi Đồng-căn rất lấy làm vinh hạnh nếu tôi chịu đến dự bữa tiệc sắp tới, vì có những chuyện cần phải giải quyết nhanh gọn. Tôi nhìn dòng chữ ấy một hồi lâu, rồi mới rút từ bì thơ ra tấm giấy còn lại. Đó là thiệp mời đi tiệc, bên trên ghi rõ ràng ngày giờ, địa điểm, kèm theo một lời chúc sức khỏe không thể nào tử tế hơn.
Tôi bặm môi lại, lặng lẽ gấp lá thơ tay cùng tấm thiệp lại rồi nhét ngược vô bì thơ.
"Em giận qua cái chi hả?"
Chẳng hiểu sao tim tôi đánh thụp một cái mạnh khi anh đổi cách xưng hô khi nói chuyện. Tôi ngước mắt lên. Cậu Ba Thuận vẫn nhẫn nại, đôi mắt đong đầy lo lắng mà dòm tôi.
"Hông có..." Tôi đáp lí nhí.
"Vậy sao hổm rày em cứ tránh mặt qua hoài vậy?"
Tôi hé môi ra, nhưng càng dòm nét mặt anh, cổ họng tôi tự dưng nghẹn cứng. Tôi giận anh cái chi được? Chính tôi cũng chẳng tỏ tường liệu mình có giận anh hay không. Cuối cùng, tôi chẳng đáp được gì ngoài viện cớ mình mệt, rồi đứng dậy, ôm theo phong thư mà tránh đi.
Tối đó, chừng cậu Ba Thuận lên giường ngủ, tôi đã nằm quay mặt vô vách. Anh kéo tấm mền đắp ngang bụng tôi rồi nằm xuống bên cạnh, thở ra một hơi dài thượt. Một hồi sau, tôi bỗng nghe thấy tiếng anh:
"Hôm tới, tôi có chuyện phải lên Thủ Dầu Một một chuyến." Giọng cậu ba trầm buồn, tựa như lòng chẳng muốn đi như thế sự bắt buộc. "Việc ở trển bỏ bê lâu quá, ông quản lý cứ gửi thơ thúc giục hoài, hổng lên thì hổng được. Tôi đi chừng một hai hôm rồi về. Thành thử... mình đừng có lên Sài Gòn gặp cái hội đó nữa, nghen mình?"
Tôi bất giác mím nhẹ môi lại. Tâm tâm tôi vốn dĩ cũng chẳng tính đi. Tôi đã có thể nói với anh rằng mình sẽ không đi đâu hết, rằng Bùi Vĩnh Quan muốn giải quyết chuyện chi thì kệ cha hắn, tôi đâu có ngu đâu mà đem cái mạng mình tới nộp cho hội Bách-chi Đồng-căn chỉ vì mấy lời chia buồn.
Nhưng rốt cuộc, tôi chỉ nằm lặng thinh đó, nhắm mắt nghiền lại, giả đò như mình đã chìm vô giấc ngủ sâu.
Đêm trước khi anh đi, tôi trằn trọc tới sáng mới chợp mắt được đôi chút, thành thử lúc cậu Ba thức dậy sửa soạn lên Thủ Dầu Một, tôi vẫn còn ngủ mê man chẳng hay biết gì. Tới chừng thức giấc, dòm cái giường bên kia trống trơn, nhìn chị Nụ chỉ bưng ra một phần ăn bữa sáng, tôi mới biết mình đã bỏ lỡ cơ hội tạm biệt anh.
Từ hồi mất con tới giờ, tôi cảm giác hai vợ chồng chưa từng có một lần chuyện trò cho tử tế. À không, trước đó mới đúng. Từ lúc tôi bắt đầu làm vợ cậu Ba Thuận, chẳng hiểu sao tôi luôn cảm thấy gượng gạo và mệt mỏi trong lòng. Thấy ở nhà chèn ép bực bội quá, tôi quyết định ra chợ cho khuây khỏa. Chị Nụ thấy tôi định đi liền lẹ miệng giành mần dùm, song chưa kịp cho chị ấy dứt câu, tôi đã xỏ đôi guốc, xách cái giỏ mà đi.
Con đường vẫn vậy, cái chợ quê vẫn thế, mấy người bán buôn vẫn rao hàng lanh lảnh, chèo kéo người mua vô xem. Mỗi bận tự tay mần việc chi đó, tôi lại nhớ tới hồi mình còn làm con ở. Tôi đã tự đi chợ, tự nấu ăn, muốn mua cái chi cho mình thì phải đắn đo mấy ngày trời mới dám xuống tiền. Giờ thì tôi không cần lo chuyện tiền nong nữa, song cái thú vui khi tự tay mần việc vẫn khiến tôi dễ thở hơn bội phần. Tôi mua vài ba trái cây, ngó qua mấy gian hàng quần áo, ấy vậy mà đến gần trưa mới chịu rời khỏi chợ quê.
Con đường về lổn nhổn đá sỏi, vắng ngắt vắng ngơ, thoảng trong không khí có mùi lúa chín thơm phức. Vừa bước qua khỏi cái ngã ba, tôi bỗng nghe phía sau lưng vang lên tiếng xe hơi ầm ầm.
Tôi ngoái đầu lại dòm, thấy một cái xe lạ màu đen đang dần tiến tới, bên trong thấp thoáng hai ba bóng người. Xe hơi ở vùng này hiếm hoi lắm, thành ra khi thấy nó xuất hiện, trong lòng tôi cũng dấy lên sự ngờ ngợ. Tôi vội nép mình vô sát bên vệ đường đặng nhường lối cho xe đi qua.
Nào ngờ chiếc xe chạy tới ngang hông liền thắng gấp lại cái "két".
Cửa sau xe hơi bật mở. Chưa kịp hiểu chuyện gì, tôi đã thấy hai gã đàn ông nhảy xuống. Một tên chụp lấy tay tôi, tên còn lại vòng qua lưng kéo xốc tôi đi. Tôi hốt hoảng vùng vẫy kịch liệt, quơ cả cái giỏ đi chợ đập mạnh vô mặt một tên.
"Ê! Mấy người mần cái giống gì vậy?!"
Một mảnh vải thô lập tức bịt ngang miệng tôi, kế đó lại có tấm khăn khác che khuất đôi mắt. Tôi cảm nhận được cả thân mình mình kéo vào khoang xe. Cái giỏ đi chợ văng xuống rãnh nước bên đường, trái cây văng tung tóe. Đầu gối tôi đập vô mép xe đau điếng, rồi cả người bị đẩy nhào xuống băng ghế xe hơi.
"Ưm! Ưm!"
Tôi giãy giụa, tung chân đạp loạn xạ. Một bàn tay đàn ông lập tức đè chặt lấy vai tôi, kèm theo tiếng quát tháo đe dọa bắt tôi ngồi yên. Tôi vẫn liều mình vùng vẫy, cho tới khi một vật cứng lạnh toát bỗng áp sát vô cổ tôi.
"Ngồi im!"
Tôi cứng người. Dẫu đôi mắt bị che kín chẳng thấy chi, tôi vẫn thừa sức cảm nhận được lưỡi dao bén ngót đang kề sát bên cổ. Thấy tôi đã biết thân biết phận, tên nọ mới chịu rút con dao lại. Tiếng máy xe lại gầm lên ầm ầm, chiếc xe chạy qua gò đất làm trong xe nẩy lên nhẹ, rồi chạy càng lúc càng nhanh.
Khoảng thời gian ngồi trên xe đối với tôi tựa như một cơn ác mộng. Tôi chẳng rõ mình đã ngồi trong xe bao lâu. Cả hai tay tôi đều bị trói lại phía trước, đôi mắt thì bịt kín không ngó thấy đường. Khoang xe ngột ngạt, tôi bị kẹp cứng giữa hai người đàn ông, mùi da thuộc trộn lẫn với mùi mồ hôi nồng nặc làm tôi mắc ói vô cùng.
Một hồi lâu sau, tôi nghe tiếng diêm xẹt một cái bên cạnh, tiếp theo là mùi khói thuốc hăng hắc lan khắp xe. Tôi khịt mũi, nghiêng đầu tránh đi.
"Ha!" Tên đó bật cười khoái chí. "Con nhỏ này thính mũi ghê ta!"
"Thôi!" Một giọng đàn ông khác cản lại. "Ông chủ dặn phải đối đãi với nó đàng hoàng. Mày đừng có kiếm chuyện nữa."
"Đ.ụ mẹ nói chuyện nghe mắc cười ghê! Sai đi bắt cóc mà cũng đòi đàng hoàng!"
Tôi im lặng, nhẫn nại lắng tai nghe. Ông chủ – chỉ hai tiếng đó thôi cũng đủ đặng tôi đoán mười mươi câu chuyện. Là Bùi Vĩnh Quan. Ngoài hắn ra, còn ai đủ trơ trẽn mà sai người bắt tôi đi giữa ban ngày ban mặt như vầy? Tim tôi bất giác đập thùm thụp. Nhưng so với sự giận dữ, lòng tôi ngập tràn nỗi hoảng sợ nhiều hơn.
Chạy thiệt lâu, chiếc xe cuối cùng cũng dừng hẳn. Tiếng cửa mở vang lên, tôi lại bị những bàn tay thô bạo lôi xộc xuống. Chân vừa chạm đất, tôi đã loạng choạng suýt té. Một bàn tay nhanh chóng chộp lấy vai tôi, rồi đẩy mạnh về phía trước.
"Đi."
Một tên nhắm chặt cánh tay tôi, giật mạnh ép tôi rảo bước theo. Tôi cảm nhận được con đường rải sỏi, tiếp đó là tiếng đề giày gõ lên sàn đá cẩm thạch vang rền. Không khí ở đây phảng phất mùi thơm tho dễ chịu, cảm giác cũng mát mẻ tựa như bước chân vào gian nhà rộng lớn. Tôi chợt hiểu mình đã tới nơi.
Đi được một quãng, tấm khăn che mắt tôi rốt cuộc cũng được tháo xuống. Trước mắt tôi là một cái đại sảnh rộng thênh thang, trên tường treo những bức tranh sơn dầu cùng những món đồ trang trí bên tây, ngay giữa phòng là cái sàn khiêu vũ lát gạch bóng loáng. Khi không còn bàn ghế dành cho khách khứa, không gian ở dinh thự này lại càng rộng thêm bội phần. Vậy lại sau tất cả, tôi lại đứng trong căn biệt thự của Bùi Vĩnh Quan.
"Thưa mợ, mời mợ đi lối này."
Nghe tiếng người gọi, tôi quay phắt đầu lại. Hai gã đàn ông bắt cóc tôi khi nãy đã quay lưng đi thẳng ra cửa, để lại mình tôi với một người đàn bà có mái tóc bạc phân nửa. Ngó bộ dạng bà ấy, tôi bất giác nhớ tới vú Thơm. Bà vẫn giữ tư thế hơi khòm lưng, khép nép đưa tay mời tôi lên lầu.
"Bùi Vĩnh Quan đâu?" Tôi hỏi.
"Thưa mợ, hiện tại ông chủ không có ở nhà. Ông dặn tụi tôi dẫn mợ lên phòng đặng nghỉ trước. Tới hôm tổ chức tiệc, ông mới về đây."
Tôi ngó ra ngoài, hai gã đàn ông vẫn còn đứng canh chừng ngoài cửa đại sảnh. Ngước đầu lên lầu, tôi lại thấy thêm một gã lớn tướng đang trợn mắt dòm chúng tôi chằm chằm. Chẳng cần cầm theo dao hay súng, dòm cái cách họ đứng chèn các lối đi, thôi cũng thừa biết mình khó lòng liều mạng chạy ra ngoài được.
Tôi đành cắn răng bước theo bước người đàn bà, đi lên căn buồng dành cho khách ở lầu hai.
Hai ngày tiếp theo đó, tôi bị nhốt chặt trong căn phòng ấy chẳng khác chi một người tù đặc biệt. Một ngày hai lượt, sẽ có mấy cô người ở khép nép bưng đồ ăn lên cho tôi, trong lúc tôi ăn thì tranh thủ dọn dẹp buồng phòng. Họ kiệm lời, rất dễ giật mình, và e sợ quá mức so với đám người mần tôi biết. Cái đầu của những người ở đây lúc nào cũng cúi gằm xuống đất, ngay cả cách di chuyển cũng ráng sao không phát ra tiếng động.
Thấy ngờ ngợ, tôi bất ngờ chộp lấy tay một cô hầu trẻ lúc cô bưng khay đồ ăn tối lên đặng hỏi chuyện. Cô liền hoảng loạn, cuống quýt rụt tay:
"Xin cô... xin cô đừng hỏi tụi tui. Tụi tui hổng biết chi hết!" Cô run rẩy quỳ rạp xuống đất, cất giọng khẩn khoản. "Ông chủ... ông chủ mà biết tụi tui mở miệng nói chuyện với khách... là ông chủ đánh tới chết... đánh tới chết đó cô...!"
Tôi nghe xong thì chưng hửng. Nhân lúc tôi còn bối rối, cô ta đã lẹ lẹ bò giật lùi rồi đâm đầu chạy hối hả ra khỏi phòng. Lúc tôi ló đầu ngó ra ngoài thì chẳng thấy bóng dáng cô hầu đâu nữa, chỉ thấy ở đầu hành lang có một gã đàn ông đứng canh chừng nghiêm ngặt.
Tôi lẳng lặng khép cửa lại, trở vô buồng.
Đêm đó, tôi trằn trọc không sao ngủ được. Tôi ngồi tựa bên khung cửa sổ, dòm xuống khu vườn tối om mà suy nghĩ mông lung.
Giờ này chắc cậu Ba Thuận đã hay tin tôi mất tích, không biết anh sẽ phản ứng ra sao? Chắc anh sẽ quýnh quáng lên, sẽ tìm tôi khắp nơi, hoặc có khi sẽ đau đớn suy sụp vì tưởng tôi bỏ trốn. Dưới vườn có mấy ngọn đèn đặt dọc lối đi, ánh sáng vàng vọt hắt lên tán cây khiến bóng lá nhập nhòe, làm tôi hoang tưởng như có ai đó đứng núp bên dưới mà dòm lên.
Nhưng rốt cuộc chẳng có ai cả, tôi chỉ đang mơ tưởng viễn vông.
Tới gần nửa đêm, một tiếng hét thất thanh vọng lên làm tôi bừng tỉnh. Tôi giật mình ngồi dậy. Hình như có vật chi vừa bị quật mạnh xuống đất, kế đó là tiếng rên rỉ đau đớn. Tôi nín thở lắng nghe, nhưng rồi mọi thứ lại chìm vô tĩnh mịch.
Tôi bước xuống giường, áp sát tai vô cửa mà nghe ngóng. Hình như bên ngoài có tiếng người nói chuyện:
"Sao lại giết nó?" Một giọng đàn ông.
"Nghe đâu thằng đó rình mò ở buồng riêng mấy ngày nay. Quản gia nghi ngờ nó định lấy trộm phô-mát thánh thần."
"Chậc."
Tiếng bước chân người lại vang lên, chậm rãi tiến gần đến cửa buồng. Tôi hốt hoảng trở lại giường rồi nằm xuống, trùm mền kín mít, quay mặt vào vách tường. Cánh cửa phòng kẽo kẹt mở ra, nhưng người bên ngoài không bước vô mà chỉ đứng dòm một lượt. Sau một hồi, hắn tắt đèn trong phòng tôi. Bóng tối đặc quánh phủ lấy không gian kín, rồi tiếng cửa khép lại vang lên một cái "cạch".
Tôi đưa hai tay ôm chặt lấy miệng, cả người run lên bần bật. Chưa bao giờ trong đời tôi lại khao khát được nhìn thấy bóng dáng cậu Ba Thuận như lúc này. Ruột gan tôi cào xé vì hối hận. Giá mà lúc trước tôi chịu nói rõ cho anh hay là mình chẳng bao giờ muốn tới cái tiệc của hội Bách-chi Đồng-căn.