CHƯƠNG 1: NGÔI LÀNG
Cảnh báo
Chào bạn,
Câu chuyện bạn sắp đọc lấy bối cảnh tại một làng quê nhỏ ven sông thuộc vùng đất Nam Bộ. Để giữ trọn vẹn hơi thở mộc mạc, chất đời thường và không khí đặc trưng của vùng sông nước nơi đây, tác giả có sử dụng nhiều từ ngữ địa phương cũng như khẩu ngữ quen thuộc của người miền Tây trong các đoạn hội thoại và miêu tả.
Với những từ ngữ mang tính đặc trưng vùng miền hoặc có thể hơi xa lạ với bạn đọc các khu vực khác, tác giả có đánh dấu hoa thị (*) ngay phía sau từ đó. Bạn hoàn toàn có thể kéo xuống phần CHÚ THÍCH ở cuối mỗi chương để tra cứu ý nghĩa cụ thể một cách thuận tiện nhất.
Hy vọng điều này không làm gián đoạn mạch cảm xúc của bạn, mà ngược lại, sẽ đưa bạn về gần hơn với mảnh đất ngập tràn nắng gió và tình người nơi dòng sông này.
Chúc bạn có những phút giây lắng đọng cùng trang sách!
Nắng sớm ở làng bao giờ cũng bắt đầu từ những ngọn tre gai bên bờ sông.
Khi bạn bước chân ra khỏi ngõ, bụi đất mịn mát rượi như lớp bột cán mỏng dưới gót chân. Con đường đất đỏ chạy dọc xóm trên xuống xóm dưới vừa trải qua một đêm ngậm sương, hai bên mép cỏ gà* còn đọng những giọt nước trong vắt. Bạn cúi xuống, muốn lấy đầu ngón tay cái chấm thử vào giọt sương trên chóp lá nhọn, nhưng gió vừa thoảng qua, giọt nước đã rùng mình rồi lặn mất vào mặt đất. Bạn đứng thẳng dậy, phủi hai gối quần dính chút bụi trắng rồi hụt hẫng bước tiếp.
Hôm nay là một ngày trời trong. Gió thổi từ ngoài bến sông mang theo mùi sình non* và mùi lá dừa nước phơi trên mái hiên. Phía đầu cầu ao, tiếng khua của gáo dừa gõ vào thành lu nhôm* vang đều. Làng của bạn lúc nào cũng thức dậy bằng những âm thanh quen thuộc. Tiếng chổi quét sân xoèn xoẹt trên nền gạch tàu, tiếng rít thuốc lào sòng sọc từ quán nước bà Sáu, và tiếng bầy vịt bầu gọi nhau nơi bờ mương.
Bạn rẽ qua ngã ba có bụi dâm bụt trổ hoa đỏ như những đốm lửa con. Đứng ngay góc rào là con Vàng nhà ông Bảy. Bình thường, hễ thấy bạn từ xa là cái đuôi cong của nó đã ngoáy liên hồi, hai tai cụp xuống chờ bạn luồn tay vò vò chỏm lông sau gáy. Nhưng sáng nay, con Vàng nằm bẹp dưới bóng râm giàn mướp, hai chân trước duỗi dài, cằm dán chặt xuống mặt đất nứt nẻ. Đôi mắt nó hé mở, phủ một lớp mờ đục nhìn về phía con lộ.
“Vàng ơi,” bạn gọi khẽ.
Cái đuôi của nó hơi giật một cái, gạt nhẹ mấy hạt cát khô bắn vào vách dậu*. Nó không nhỏm dậy. Hai lỗ mũi đen thui khẽ phập phồng. Nó hít hít về phía bạn một lúc rồi lại nằm im.
Chắc là đêm qua nó thức canh chuột mệt quá rồi. Con Vàng vốn lười chảy thây, ông Bảy vẫn thường cầm cái chổi đót* dọa mỗi bận nó nằm chắn ngang lối vào chuồng gà. Bạn không thèm làm phiền giấc ngủ của nó nữa, chân đá nhẹ một hòn sỏi tròn lăn lông lốc về phía trước. Hòn sỏi nảy ba cái rồi rơi tõm vào rãnh nước cạnh hàng rào, nghe một tiếng “bõm”.
Đi hết con đường rải rác vỏ trấu là tới đình làng. Khoảng sân đình rộng thênh thang lát gạch bát tràng màu đỏ xỉn, mép gạch đóng rêu xanh sau những đợt mưa rào hồi tháng trước. Giữa sân, bóng râm của mấy cây bàng tròn như cái nấm lớn che kín một góc thềm.
Ở phía sau đình, nơi giáp với rặng tre sát mép nước, có một cây xoài cổ thụ. Thân cây to đến mức hai đứa cỡ tuổi bạn ôm không xuể, lớp vỏ xù xì loang từng mảng trắng xám như vảy cá lóc. Bạn thích cây xoài này. Mỗi độ hè về, lá non trổ ra màu tím tía, rồi dần chuyển sang màu xanh đậm, ken dày* đến nỗi đứng dưới gốc nhìn lên chỉ thấy những mảnh trời xanh vụn vỡ lọt qua kẽ lá.
Bạn ngửa cổ nhìn lên cành thấp nhất. Trên chảng ba* quen thuộc, một chùm xoài ba quả đang đung đưa theo từng nhịp gió. Da chúng chưa ngả vàng, vẫn còn màu xanh nõn chuối pha phấn trắng, nhưng phần đuôi quả đã bắt đầu tròn căng, núm cuống rỉ ra một giọt mủ trong.
Bạn nhón gót, vươn thẳng hai cánh tay lên trời. Đầu ngón tay giữa của bạn chỉ cách đuôi quả xoài ngoài cùng chừng một đốt ngón tay. Bạn nhún gối bật nhảy lên một cái, vạt áo hoa nhí bay phần phật, nhưng bàn tay chỉ quẹt trúng một chiếc lá già khô queo làm nó rụng xoay tròn xuống đất. Quả xoài vẫn nằm yên trên cuống, lắc lư trêu ngươi.
“Đợi vài bữa nữa nó chín mềm, rụng xuống thì mình nhặt,” bạn thầm tính trong bụng, miệng chép chép nhớ đến vị chua rôn rốt chấm với chén muối hột giã ớt hiểm mà mẹ hay làm mỗi trưa hè đứng gió.
Nghĩ đến mẹ, bạn đưa mắt nhìn về phía vòm cổng đình dẫn ra chợ. Từ đây nghe rõ mồn một tiếng người ta ngã giá mua bán. Mùi cá mè tươi lẫn trong mùi hành phi mỡ, mùi lá chuối gói giò thoảng lại. Đặc biệt nhất là mùi từ chiếc xửng nhôm hấp bánh bao của bà Sáu đặt ngay đầu dãy phản thịt*. Chiếc nồi hấp to đùng sôi sùng sục, nắp đậy nghiêng để hơi nước trắng đục bốc lên, mang theo vị ngọt của bột mì ủ men quyện với mùi tiêu sọ xay lẫn trong nhân thịt mộc nhĩ.
Bạn nuốt nước miếng cái ực. Hôm nay bạn không có đồng nào trong túi áo. Hai cái túi vải chỉ đựng mỗi một chiếc vỏ ốc xoắn nhặt được ngoài bãi cát hôm nọ. Thôi thì lát nữa chạy về nhà vòi mẹ, mẹ thể nào cũng cho bạn hai ngàn đồng để chạy ù ra mua chiếc bánh nhỏ nhất có nửa quả trứng cút luộc trắng phau bên trong.
Từ góc đình, bạn lần theo con đường mòn nhỏ dẫn thẳng xuống bờ sông.
Đây là nơi bạn thích nhất làng. Khúc sông này không sâu lắm, dòng nước chảy xuôi êm ả một màu phù sa đỏ đục như nước trà pha sữa. Dọc bờ, bãi cỏ mật* mọc lan ra sát mép nước, xen lẫn những cụm lục bình trổ hoa tím trôi lững lờ. Một bến đò cũ nằm nép dưới bóng râm của cây gừa* sum suê. Mấy cây cọc tre cắm đứng mé sông lâu ngày đã mục đen, rêu bám từng mảng trơn tuột, nước vỗ vào thân cọc từng nhịp.
Bạn ngồi bệt xuống đám cỏ mật dày xốp, co hai chân lên ngang ngực, cằm tì vào đầu gối.
Dưới chân bạn, dòng nước cứ thế chảy về phía hạ nguồn xóm Chài. Đôi dép nhựa quai ngang màu đỏ của bạn sáng nay chẳng biết rơi mất một chiếc ở xó xỉnh nào, lục tung gầm giường không thấy, thành thử bạn xỏ tạm một chiếc dép màu xanh lá cây của mẹ để đi.
Chiếc dép xanh rộng thênh thang, dài hơn bàn chân bạn cả một đoạn, mỗi bước đi cứ quẹt lẹt xẹt trên mặt cát. Bạn tháo chiếc dép xanh ra, để nó ngay ngắn cạnh chiếc dép đỏ mòn vẹt* gót của mình trên một mô đất phẳng. Hai chiếc dép cọc cạch nằm kề nhau, chiếc đỏ nhỏ xíu trơ trọi, chiếc xanh to bè phủ một lớp bụi mỏng.
Ở mép nước gần bến đò, chiếc thuyền câu của chú Năm sào đang cắm sào đứng đợi nước ròng*. Mũi thuyền nhấp nhô nhẹ theo từng con sóng. Trên sàn gỗ, một con cá lòng tong* nảy mình lên một cái, vảy bạc lóe dưới nắng rồi nằm im.
Gió bờ sông thổi lên mát rượi, làm bay mấy sợi tóc mai lòa xòa trước trán bạn. Xa xa bên kia doi cát*, bóng người đi làm đồng lom khom nhổ cỏ, nón lá nhấp nhô giữa màu xanh ngút ngát của ruộng bắp. Dưới chân dốc, mấy bụi trâm bầu* khẳng khiu ngả bóng xuống mặt nước đục.
Bỗng có tiếng bước chân sột soạt trên lớp lá khô sau lưng.
Bạn quay đầu lại.
Đó là mẹ. Mẹ mặc chiếc áo bà ba màu tro quen thuộc, vai quàng chiếc khăn rằn kẻ ô vuông xanh trắng đã sờn mép sợi. Mẹ không đội nón. Những lọn tóc đen dài búi trễ sau gáy bị gió thổi bay lơ thơ vài sợi dán vào gò má sạm nắng.
Mẹ bước chậm rãi trên con dốc thoai thoải dẫn xuống bến. Hai tay mẹ không xách giỏ đi chợ, cũng không bưng chiếc rổ sảo* rửa rau như mọi khi. Đôi bàn tay xương xẩu với những đường gân xanh nổi rõ buông thõng hai bên hông, ngón tay cái cứ miết mãi vào mép vạt áo.
“Mẹ!” bạn reo lên, định bụng đứng phắt dậy khoe mẹ chùm xoài ba quả sau đình đã sắp chín.
Mẹ không dừng lại. Bước chân mẹ đi qua chỗ bạn ngồi, chậm rãi xuống sát mép nước. Gấu quần lụa đen của mẹ chạm vào bùn ướt, vệt nước sẫm màu dâng dần lên tận mắt cá chân. Mẹ đứng im ở đó, mắt nhìn đăm đăm ra giữa dòng sông cuộn sóng, nơi những mảng lục bình đang dập dềnh trôi về phía cửa biển.
Gió sông thổi mạnh hơn, quất phần phật chiếc khăn rằn trên vai mẹ. Bạn chạy lại gần, đứng sát bên sườn mẹ, ngước nhìn lên gương mặt mẹ. Đôi mắt mẹ mở to, hai khóe mắt đỏ hoe và dường như không chớp. Hai dòng nước trong veo chầm chậm lăn dài xuống má, đọng lại nơi cằm rồi rơi từng giọt xuống mặt bùn dưới chân.
Mẹ chẳng nói một lời. Bờ vai gầy khẽ run lên từng chặp, như thể trong lồng ngực mẹ có một tiếng thở dài bị nghẹn lại không chịu thoát ra.
“Mẹ ơi, con ở đây nè,” bạn túm nhẹ lấy mép áo bà ba của mẹ.
Mẹ không quay lại.
Chỉ có một cơn gió bất chợt từ lòng sông thốc lên làm chiếc khăn rằn trên vai mẹ bay bạt sang, quệt qua má bạn một vệt lạnh buốt.
Mẹ vẫn nhìn thẳng ra giữa dòng nước cuồn cuộn đỏ. Có lẽ tiếng sóng vỗ vào mấy cọc tre mục dưới bến đò át mất tiếng gọi của bạn. Hoặc có thể mẹ đang mải buồn vì món nợ phân bón đầu mùa, hay mớ cá sáng nay mang ra chợ bị người ta chê ươn ép giá. Mẹ mà đã buồn thì hay đứng im như tượng gỗ, bạn có hỏi mẹ cũng chỉ xoa đầu bảo đi chơi đi thôi.
Bạn buông tay khỏi vạt áo mẹ, lùi lại một bước. Thấy mẹ buồn, bạn cũng quên béng mất chiếc bánh bao bốc khói và chùm xoài sau đình.
Bạn quay lại mô đất, ngồi xuống cạnh hai chiếc dép cọc cạch. Bạn đưa tay ngắt một cọng cỏ gà, tỉ mẩn tước phần ngọn thành hai nhánh bằng nhau để làm đôi gà chọi, rồi lại ngẩng lên nhìn mẹ đứng trơ trọi bên mép nước.
Nắng bắt đầu lên cao qua khỏi ngọn tre, rải một lớp vảy vàng lấp lánh trên mặt sông. Những cụm lục bình vẫn dập dềnh trôi về phía hạ nguồn.
Buổi sáng trong làng cứ thế trôi đi.
CHÚ THÍCH:
* Cỏ gà: Loài cỏ dại thân bò rất dai mọc sát mặt đất gà vườn hay ăn; trẻ con nông thôn thường dùng phần ngọn có chùm hoa tước ra làm đôi để chơi trò chọi gà cỏ.
* Sình non: Lớp bùn lỏng phù sa mới lắng đọng ven sông, kênh rạch, mềm nhuyễn đặc trưng của vùng bãi bồi.
* Lu nhôm: Đồ chứa nước sinh hoạt cỡ lớn phổ biến ở vùng quê Nam Bộ, thường được gò bằng tôn hoặc nhôm dày đặt dưới mái hiên để hứng nước mưa.
* Vách dậu: Hàng rào thưa dựng bằng tre, nứa hoặc cành cây đan cài quanh sân, vườn ở nông thôn.
* Chổi đót: Loại chổi quét nhà bện từ bông cây đót (còn gọi là cây chít).
* Ken dày: Đan sít sao, khít rịt vào nhau đến mức gần như không còn kẽ hở.
* Chảng ba: Chạc ba nhánh cây chẽ ra từ một điểm trên thân cành.
* Phản thịt: Tấm phản gỗ dày và phẳng kê trên bục cao ở chợ quê, tiểu thương dùng để bày các tảng thịt heo, thịt bò và đặt thớt pha thịt bán cho khách.
* Cỏ mật: Loài cỏ dại mọc thành thảm dày mềm xốp ven các bờ đê, bãi bồi ẩm ướt ven sông.
* Cây gừa: Loài cây họ dâu tằm/si cổ thụ đặc trưng ven sông rạch miền Tây Nam Bộ, có nhiều chùm rễ phụ buông dài xuống mé nước để giữ đất bãi bồi khỏi lở.
* Mòn vẹt: Bị mòn lệch hẳn sang một bên gót sau thời gian dài cọ xát.
* Nước ròng: Hiện tượng thủy triều rút xuống, làm lộ ra bãi bồi phù sa và lòng sông cạn nước.
* Cá lòng tong: Loài cá nước ngọt nhỏ cỡ ngón tay út, bơi thành đàn nổi sát mặt nước kênh rạch vùng sông nước.
* Doi cát: Dải đất hoặc cồn cát bồi nhô cao nổi dài ven bờ hoặc giữa ngã ba sông.
* Trâm bầu: Loại cây bụi hoặc thân gỗ nhỏ mọc hoang rất nhiều ở các bãi bồi ngập nước miền Nam.
* Rổ sảo (xảo): Loại rổ nan tre lòng nông, miệng rộng, nan thưa, người nhà quê hay dùng đãi gạo, rửa rau cá ngoài cầu ao.