Dấu vết
Yên Vũ ngồi bên tập hồ sơ đã mở suốt đêm, tới khi nắng sớm len qua song cửa chạm tới mặt bàn thì chén nước bên tay đã lạnh ngắt từ lâu, ngọn đèn dầu cũng lụi bấc tự bao giờ, chỉ còn một quầng muội đen đọng lại trên đĩa sứ. Nàng vừa mở sang trang khác thì ngoài hành lang đã vọng vào một tiếng gọi trong trẻo:
“A tỷ!”
Hôm qua mới sai người mang bánh sang, sáng nay Chu Tịnh Dao lại tự mình ôm hộp gỗ chạy tới, hai tay giữ khư khư như sợ bánh nguội mất dọc đường. Chóp mũi muội ấy ửng đỏ vì lạnh, mái tóc rối đi đôi chút, trên tà áo màu hạnh nhạt còn mắc một chiếc lá khô từ ngoài viện, người vừa dừng trước bàn cứ cố nói cho bằng được dù hơi thở vẫn còn gấp gáp:
“Bánh còn nóng này!”
“Muội chạy tới đấy à?”
“Đâu có.” Tịnh Dao chớp mắt. “Muội đi nhanh mà.”
Câu trả lời vừa lạ lùng vừa khó hiểu đúng kiểu Tịnh Dao khiến Yên Vũ hơi buồn cười. Tịnh Dao mở nắp hộp, bẻ một góc bánh còn nghi ngút khói đưa tận tay tỷ tỷ:
“Tỷ ăn đi.”
“Ta ăn rồi.”
Tịnh Dao chẳng thèm đáp, quay phắt sang góc phòng gọi:
“A Lâm!”
Thiệu Lâm đang tráng lại chiếc bình gốm cũ bên khay trà, nghe gọi cũng không buồn ngẩng lên:
“Ăn nửa bát.”
“Nửa bát mà cũng tính là ăn sao?” Tịnh Dao chống nạnh quay lại nhìn tỷ tỷ. “Tỷ xem, tới người nói dối giúp tỷ cũng không biết nói dối kìa.”
Thiệu Lâm mang bình trà mới pha tới rót cho mình một chén, nhấp một ngụm rồi mới ôn tồn sửa lời:
“Ta là đại phu, không phải người nói dối.”
Hai người ấy một xướng một họa nhuần nhuyễn quá, Yên Vũ đành nhận lấy miếng bánh từ tay muội muội. Tịnh Dao chống cằm lên mặt bàn, đôi mắt cứ dõi theo từng miếng tỷ tỷ cắn, tới khi thấy nàng ăn hết rồi mới thở phào một hơi như vừa xong được một việc hệ trọng lắm:
“Đó, ngon mà, phải không?”
Bấy giờ muội ấy mới nhớ tới phần mình, cắn một miếng rồi bắt đầu kể chuyện trong cung. Hôm qua Ngự Hoa Viên mở yến, có vị tiểu thư uống say nhận nhầm nội thị thành người nhà, làm cả dãy hành lang được một phen náo loạn, tới sáng nay lại thêm một cung nữ để sổng con vẹt, để nó đậu trên cành cao mắng người, đám tiểu thái giám đuổi theo suốt nửa buổi rồi vẫn không sao bắt được. Muội ấy kể tới đâu tự cười tới đó, có đoạn cười nhiều quá phải đặt cả bánh xuống bàn mới nói tiếp được.
Tịnh Dao kể nhiều, Yên Vũ đáp ít, thế nhưng câu chuyện cứ liền một mạch không lúc nào đứt quãng. Thỉnh thoảng nàng rót thêm chén trà nóng đẩy sang, muội ấy uống một ngụm lại ríu rít kể tiếp, còn Thiệu Lâm lâu lâu mới chen vào một câu.
“…Con vẹt ấy cứ kêu ‘Hoàng thượng vạn tuế’ làm cho…”
Kể tới đó, Tịnh Dao bỗng bỏ lửng câu chuyện giữa chừng, miếng bánh trên tay cũng dừng lại trước miệng. Yên Vũ nhìn theo ánh mắt muội ấy thì thấy lớp gấm bọc bức quốc thư Càn Vũ vẫn đặt ở góc bàn, chưa kịp nói gì thì muội ấy đã vội đổi giọng như vừa chợt nhớ ra điều gì:
“À… phải rồi. Hoa tuyết mai ngoài viện nở rồi đó. Lát nữa tỷ đi xem với muội nhé?”
Yên Vũ khép tập hồ sơ lại, tiện tay kéo nó phủ lên góc gấm kia rồi đặt chiếc chặn giấy bằng đá lên trên:
“Được. Đợi ta xem nốt mấy trang này rồi đi với muội.”
Đáp xong, nàng lấy khăn tay lau chỗ bột bánh còn dính nơi khóe môi muội muội, sửa lại chiếc trâm cài bị gió sớm làm lệch đi. Những việc nhỏ ấy nàng đã quen tay từ mười mấy năm trước. Tịnh Dao ngồi yên cho tỷ tỷ sửa sang, môi mấp máy như muốn hỏi gì đó rồi lại thôi. Chuyện trong điện hôm qua hẳn đã tới tai muội ấy từ chiều, nhưng Yên Vũ cũng không nhắc gì đến nó mà chỉ cài lại chiếc trâm cho thật chắc.
Ngoài thềm đá vọng vào tiếng khánh ngọc bên hông người mới tới chạm nhau lách cách, rồi giọng nội thị tổng quản cất lên qua khe cửa:
“Bệ hạ triệu kiến Chu Huyền Vương tại ngự thư phòng.”
Tịnh Dao đứng bật dậy, đi được hai bước về phía cửa hiên lại ngoảnh vào dặn:
“Tỷ ăn hết bánh đó, đừng có lén bỏ.”
Thiệu Lâm đứng bên cạnh, thần sắc vẫn điềm tĩnh như thường:
“Ta sẽ trông chừng.”
“Vậy thì muội yên tâm rồi.”
Tịnh Dao cười cong cả mắt rồi xoay người chạy ra hiên, tà áo hạnh nhạt thoắt cái đã khuất sau rặng trúc, vẫn cái dáng vội vàng tươi tắn như lúc mới tới. Yên Vũ theo nội thị vào cung, còn Thiệu Lâm mang phần ghi chép ở cửa lao tới chợ ngầm để hỏi thêm về người nô lệ của Tống gia.
Ngự thư phòng sáng nay yên ắng lạ thường. Nghe tiếng bước chân dừng lại dưới bậc, Chu Dực vẫn đọc cho hết hàng chữ đang dở rồi mới ngẩng lên.
“Phụ hoàng.”
“Đứng lên đi.”
Yên Vũ đứng dậy, hai tay buông trước người, giữ đúng khoảng cách của lễ quân thần như mọi lần.
“Vụ mười bảy người mất tích ở ngoại ô đã tiến triển tới đâu rồi?”
“Nhi thần vẫn đang rà soát, tạm thời chưa tìm được manh mối.”
Ông đặt tờ tấu xuống nhìn con gái. Triều phục xanh xám vẫn phẳng phiu, đai ngọc ngay ngắn, riêng cổ áo hơi lệch sang một bên, hẳn là lúc tới đây có phần vội vàng. Thuở nhỏ mỗi lần chạy tới thư phòng tìm ông, con bé cũng hay để cổ áo xô lệch như thế, khi ấy ông chỉ cần đưa tay ra là sửa lại được. Bàn tay ông đã nhấc khỏi cuộn tấu chương theo thói quen từ những năm ấy, đưa lên được nửa chừng rồi dừng lại giữa khoảng không. Từ sau ngự án tới chỗ nàng đứng vốn chẳng xa là bao, nhưng cũng đã không còn gần như ngày trước nữa.
Chu Dực thu tay về cầm lấy cuộn chỉ dụ bên cạnh, khi cất lời giọng vẫn bình ổn như mọi khi:
“Về sắp xếp việc trong phủ đi.” Ông đặt cuộn gấm ra phía trước án. “Mười ngày nữa khởi hành tới Thanh Sa, Thiệu Lâm sẽ đi cùng con.”
Ngừng một chút, ông mới nói tiếp:
“Vụ án ấy… trẫm sẽ cho người khác tiếp nhận.”
Yên Vũ nhìn cuộn gấm vàng hồi lâu mà chưa bước lên nhận. Ông biết con bé còn muốn nói gì đó, có lẽ là xin được giữ vụ án thêm ít ngày, có lẽ là điều khác mà cả hai cha con đều đã hiểu từ hôm sứ thần Càn Vũ dâng quốc thư, nên cuốn tấu chương mở trước mặt ông vẫn dừng mãi ở trang cũ.
Gió ngoài hành lang lùa qua mái điện nghe rõ dần, tới lúc ấy nàng mới tiến lên, hai tay nâng lấy cuộn chỉ dụ:
“Nhi thần tuân chỉ.”
Nàng lui ba bước theo lễ rồi xoay người đi ra. Chu Dực nhìn theo tới khi cánh cửa gỗ khép lại sau lưng con gái mới cúi xuống chồng tấu chương, đọc lại từ đầu hàng chữ ban nãy ông đã đọc qua rồi chợt nhận ra mình vẫn chẳng nhớ được chữ nào.
Chợ ngầm ban ngày vắng hơn buổi tối, phần lớn sạp hàng còn buông rèm, đèn lồng dọc lối cũng chưa thắp, riêng quầy dược liệu ở đầu dãy thì đã mở cửa từ sớm. Người chủ hiệu vốn quen mặt các vị khách hay tới tìm những vị thuốc khó kiếm, đặc biệt là vị đại phu nổi tiếng khắp kinh thành như Thiệu Lâm, nên vừa thấy anh lão đã vội gọi người mang ghế, nghe anh hỏi tới người nô lệ của Tống gia thì nheo mắt cười:
“Đại nhân cũng định mua người ấy sao?”
“Ta cần gặp hắn trước đã.”
“Vậy là đại nhân tới sớm một ngày rồi. Tối mai mới mở phiên, người này qua tay bên ấy mấy lượt rồi, lượt nào cũng có khách ngồi đợi sẵn.” Ông ta chỉ về gian phòng cuối sảnh. “Quản sự nhận bán lần này cũng chính là người từng bán hắn trước kia, đại nhân cứ tới đó mà hỏi.”
Thiệu Lâm cảm tạ rồi đi tiếp, chưa qua hết dãy hàng thì lòng bàn tay đã ấm lên. Anh tránh vào một lối vắng, dẫn chút linh lực vào những đường linh văn vừa hiện, đợi giọng nàng truyền tới rõ dần:
“A Lâm, ngươi tới chợ chưa?”
“Ta đang định đi gặp quản sự. Người ra khỏi ngự thư phòng rồi sao?”
“Ừm. Phụ hoàng ban chỉ dụ mười ngày nữa lên đường.”
Từ hoàng cung tới chợ ngầm không quá xa, giữ một cuộc truyền âm qua khoảng cách ấy cũng chẳng hao tốn mấy linh lực. Thiệu Lâm nghe nàng nói xong chuyện khởi hành thì đợi xem có dặn gì thêm; quả nhiên nàng lại nhắc tới vụ án:
“Vụ án cũng đã giao cho người khác. Ta phải thu xếp hồ sơ để bàn giao.”
“Vậy còn người ở nhà Thanh Hà?”
“Ngươi cứ xem giấy tờ cũ trước. Chỉ dụ đã ban, chúng ta không tiện lấy danh nghĩa Vương phủ gọi hắn về lấy lời khai nữa.”
“Nếu bên chợ chịu bán riêng, người có muốn mua không?”
“Ngươi hỏi giá trước đi, về rồi bàn tiếp.”
“Lần này người cũng biết bàn với ta trước rồi đấy.”
Đầu bên kia im đi một lúc rồi tiếng nàng mới truyền tới, vẫn ngắn gọn như mỗi lần bị anh nói trúng:
“Hỏi giá đi.”
Thiệu Lâm đi tiếp về phía gian phòng cuối sảnh. Ban ngày rèm các phòng bao đều được vén cả lên, dưới đài đấu giá những dãy ghế vẫn còn trống trơn.
Quản sự nghe người hầu báo tên thì ra tận cửa đón, lúc mời vào còn hỏi có phải anh cần tìm vị thuốc nào khó kiếm. Đợi người mang trà lui ra, Thiệu Lâm mới đưa tờ ghi chép ở cửa lao cho gã xem:
“Người nô lệ của Tống Thanh Hà là do ngươi lĩnh về?”
“Bẩm, chính tiểu nhân. Đại nhân muốn hỏi chuyện nhà họ Tống sao?”
“Ta muốn xem những linh khế cũ giao theo hắn, và muốn hỏi các ngươi có chịu bán riêng hay không.”
“Đại nhân có ý mua thì xin ghé phiên tối mai… Còn giấy tờ thì tiểu nhân giữ đủ cả, để tiểu nhân sai người mang ra đại nhân xem trước.”
“Cho ta gặp người trước được không?”
Gã vội chắp tay:
“Xin đại nhân lượng thứ. Người đã xếp vào phiên thì phải đợi tới giờ mở mới đưa ra cho khách xem, khách quen cũng vậy cả, tiểu nhân đâu dám chiều bên này rồi lại khước từ bên khác.”
Lệnh bài Vương phủ vẫn nằm trong ngực áo, nhưng Thiệu Lâm nhớ lời Yên Vũ vừa dặn nên không lấy ra nữa mà chỉ hỏi cho chắc người xếp vào phiên tối mai có đúng là người quan phủ giao tới hay không. Quản sự gật đầu, vừa lúc tập linh khế được mang ra thì đặt tờ giao nhận lên trên cùng cho anh đối chiếu:
“Chính là người này, bẩm đại nhân. Mấy tờ cũ bên dưới cũng nhận cùng trong hôm ấy.”
Tờ linh khế bán cho Tống Thanh Hà trùng ngày với bản anh đã xem ở phường Tây. Bên dưới là những tờ kê khai sản nghiệp xếp theo thứ tự năm tháng, Thiệu Lâm tìm đọc từ lần tài sản của một người chủ bị tịch thu, sang tay người kế tiếp nhận cả gia nghiệp, rồi tới tờ thanh lý của một thương hội phá sản. Tờ nào cũng ghi hắn ở dòng cuối cùng, sau ruộng vườn, kho hàng và mấy cỗ xe ngựa, còn tên những người đứng ra lĩnh bán thì đầy đủ cả, vẫn có thể theo đó mà hỏi.
“Những lần mua bán này đều qua tay ngươi cả sao?”
“Ấy, không phải tất cả đâu ạ.” Gã xua tay. “Có mấy lần từ nơi khác chuyển tới, tiểu nhân chỉ giữ giấy để khách sau muốn biết gốc gác thì còn có cái mà xem.”
“Lần đầu ngươi nhận hắn là khi nào?”
Gã lục trong tập giấy ra một tờ đã ngả vàng, chỉ vào chỗ mình ký nhận từ ba năm trước. Sau lần ấy còn mấy lượt bán riêng, lượt nào giá cũng cao hơn lượt trước.
“Lần bán cho Tống cô nương đã lên tới năm trăm linh thạch đấy ạ.” Nói tới đó gã hào hứng hẳn lên. “Nô lệ thường thường chẳng mấy ai quá năm mươi linh thạch.”
“Đổi chủ nhiều như thế mà vẫn được giá sao?”
Quản sự bật cười:
“Ấy là vì đại nhân chưa thấy người. Dung mạo hắn ba năm trước thế nào thì giờ vẫn y như thế, tiểu nhân bán đi rồi nhận về suốt mà chưa thấy khác đi chút nào.”
“Ngươi nhớ rõ tới vậy à?”
“Tiểu nhân nhận bán hắn mấy lượt rồi còn gì. Đại nhân cứ hỏi những người buôn lâu năm ở đây, ai cũng từng thấy cả.”
Gã liếc qua mấy tờ kê khai còn mở trước mặt Thiệu Lâm, hạ giọng thêm một câu như sợ có ai nghe thấy:
“Nhận bán hộ thì còn được, chứ bỏ tiền mua về làm chủ hắn… tiểu nhân không dám.”
Thiệu Lâm đọc hết tập hồ sơ vẫn không tìm ra tên người nô lệ ở bất cứ tờ nào. Bao nhiêu người chủ đã ký tên mình lên giấy, chưa một ai ghi lại cho hắn một cái tên. Anh nhớ tới câu Yên Vũ nói trước cửa nhà Tống Thanh Hà, rồi nhìn dòng cuối tờ kê khai thêm một lúc. Quản sự lại nhắc chuyện giữ chỗ, anh nhân đó hỏi lại điều gã còn chưa đáp ban nãy:
“Nếu ta muốn mua ngay hôm nay thì giá thế nào?”
“Chuyện này… thật làm khó tiểu nhân quá. Người đã xếp vào phiên, thư mời cũng gửi đi cả rồi. Có mấy vị khách cho người tới hỏi từ lúc hắn còn ở quan phủ, tiểu nhân đều hẹn tối mai, giờ lại bảo bán mất rồi thì biết ăn nói thế nào?”
“Họ hỏi từ trước cả ngày ngươi lĩnh người về?”
“Vâng, tiểu nhân còn chưa đi nhận thì họ đã dặn giữ chỗ rồi.”
“Hỏi đúng người này?”
“Đúng người nhà họ Tống, thưa đại nhân.”
“Là những ai đã hỏi?”
“Xin đại nhân miễn cho tiểu nhân chuyện ấy. Khách đã dặn giữ kín, tiểu nhân còn phải giữ chữ tín.”
Nghe giọng gã, Thiệu Lâm biết có hỏi thêm cũng không lay chuyển được, đành nhận lời trở lại vào phiên mai.
Thiệu Lâm về tới phủ thì trời đã xế chiều, viên quan được cử tới tiếp nhận hồ sơ vẫn còn ngồi trong thư phòng. Yên Vũ đã bàn giao xong những thủ tục cần thiết, vậy nhưng tới lúc người ấy sửa soạn cáo từ, nàng lại nhắc tới đứa nhỏ ngoài thôn:
“Ta đã nhờ hàng xóm trông nom nó. Nếu có tin gì mới, báo lại cho ta một tiếng.”
“Hạ quan xin ghi nhớ.”
Viên quan ôm hồ sơ lui ra, Thiệu Lâm đáp lễ rồi mới bước vào. Cuộn chỉ dụ ban sáng vẫn nằm trên mặt bàn, đĩa bánh của Tịnh Dao bên cạnh đã sạch trơn. Anh chợt nhớ sáng nay nàng còn hẹn đi xem hoa tuyết mai với Nhị công chúa; nhìn sắc trời ngoài cửa sổ, hôm nay hẳn là không kịp nữa.
“Không gặp được người sao?” Yên Vũ ngẩng lên hỏi.
“Họ chỉ cho xem giấy tờ, không chịu bán riêng.”
Anh đưa nàng bản ghi chép, chỉ vào dòng ghi có khách hỏi mua từ khi người còn ở quan phủ.
“Ngươi tra được là ai không?”
“Gã bảo còn phải giữ chữ tín với khách. Buôn người mà giữ chữ tín, ta cũng mới nghe lần đầu.”
Yên Vũ nghe hết đầu đuôi rồi giữ lại bản ghi chép anh mang về:
“Ta muốn biết những vị khách ấy là ai. Tối mai chúng ta cùng tới đó.”
“Chỉ dụ sáng nay còn chưa ráo mực đâu, Vương gia.”
“Ta đi xem đấu giá, đâu có tra án.”
Tối hôm sau, Yên Vũ xuống xe trong con ngõ hẹp phía sau dãy phố nhỏ phường Tây ở Nam thành, mưa vẫn rả rích trên mái ngói như chưa từng ngớt kể từ hôm ở ngoài thôn. Qua khỏi cánh cửa sắt hoen gỉ dẫn xuống mật đạo, nàng đã thấy hơi nóng từ bên dưới phả lên.
Nàng cùng Thiệu Lâm đều khoác áo vải thô sẫm màu, bên hông không đeo lệnh bài, thanh trường kiếm của nàng cũng được quấn kín trong dải vải xám cũ, hai người cứ thế lặng lẽ đi xuống mà không mang theo một hộ vệ nào. Gã giữ lối với vết sẹo dài trên má chỉ liếc qua y phục của khách rồi cúi đầu nép sang một bên.
Hết bậc đá là một sảnh chợ rộng, người chen kín giữa các dãy hàng, tiếng rao lẫn tiếng trả giá át cả tiếng bước chân. Bên quầy rượu, mấy vị công tử áo gấm cười nghiêng ngả giữa đám ca kỹ. Yên Vũ kéo thấp mũ áo, lách qua giữa đám tán tu vác đao cùng những kẻ ôm khư khư túi linh thạch, bên tai là tiếng pháp khí bằng đồng chạm nhau leng keng, trong góc xa lũ linh thú bị nhốt cứ gầm gừ cào móng vào song sắt.
Lên tới tầng hai, dòng người mới thưa bớt, từ hành lang có thể nhìn trọn đài đấu giá hình tròn sáng rực bên dưới. Tiểu nhị khom mình dẫn hai người tới chỗ ngồi khuất trong góc, rót đầy hai chén trà đại mạch rồi lui ra.
Tiếng chuông đồng vừa dứt, món hàng đầu tiên đã được bưng lên đài, con số chưa xướng hết đã thấy tấm bảng khác giơ lên. Yên Vũ tới đây không phải vì đan phương hay pháp khí, nên từ chỗ ngồi, nàng đưa mắt qua từng dãy ghế, có gương mặt chỉ thoáng hiện dưới ánh đèn mỗi lần nghiêng người ra trả giá, cũng có người suốt buổi vẫn ngồi khuất trong bóng tối. Thiệu Lâm bên cạnh thong thả uống trà, mắt cũng đang dõi về những chỗ ấy.
“A Lâm.”
“Ừ?”
“Ngươi đếm thử xem, từ lúc vào tới giờ có bao nhiêu người chưa từng giơ bảng?”
Anh đưa mắt nhìn quanh thêm một lượt. Dưới đài, búa gỗ gõ hai tiếng, thêm một món hàng đã có chủ, những người ngồi trong góc vẫn chưa hề nhúc nhích.
“Mười lăm.”
“Phiên cuối tháng mà vẫn còn từng ấy người chưa mua gì sao?”
Phía trên đầu hai người, cả dãy phòng bao tầng ba đều buông rèm lụa đen, tiếng hô giá vọng lên tới đó đã dịu đi nhiều, sau những lớp rèm dày khách vẫn lặng im từ đầu phiên tới giờ, chỉ thỉnh thoảng có gió lùa dọc hành lang đưa xuống chút hương đàn nhàn nhạt.
Một tiểu nhị dẫn khách đi ngang chỗ hai người ngồi, tới đầu cầu thang thì khom mình nhường lối. Người khách vén vạt áo bào thêu chỉ bạc bước lên, để lộ miếng ngọc bài đeo bên đai, dưới ánh đèn đầu thang ba chữ Quốc Sư Viện hiện lấp ló trên mặt ngọc.
Thiệu Lâm ghé lại gần nàng:
“Người này...”
Yên Vũ ngước lên, vừa kịp trông thấy nửa gương mặt người ấy trước khi khuất sau bậc thang:
“Lý Hạc.”
“Người quen sao?”
“Ta từng thấy hắn theo sứ đoàn Càn Vũ vào triều. Hắn là người của Quốc Sư Viện.”
Lên hết cầu thang, Lý Hạc rẽ vào phòng bao số năm, rèm lụa vén lên đón hắn rồi lại buông xuống, che kín cả người lẫn ánh đèn bên trong.
Qua thêm mấy lượt trả giá, Thiệu Lâm ra hiệu cho nàng nhìn sang phòng bao số bảy. Bên cửa có một tùy tùng đứng gác, thanh đao đeo ngang hông có chuôi chạm hình đầu sói ngẩng cao giữa những đường gió xoáy, là sói hoang mạc trên huy hiệu phủ Tướng quân Bắc Lương.
Hương đàn lại theo gió thoảng xuống, Yên Vũ nhìn về ô cửa mở ở cuối dãy, nơi làn khói mỏng đang tản qua song gỗ. Người khách bên trong tựa tay lên lan can, dọc tay áo thêu những đường mây tím sẫm, thứ tử vân mà chỉ người Tây Vực mới dùng.
Thiệu Lâm cũng đã trông thấy. Tay anh vẫn đang đặt lên chuôi kiếm bọc vải xám để giữa hai người:
“Có chuyện.”
Anh ghé lại gần, hạ giọng:
“Những khách đã hỏi mua trước… có lẽ ở trên ấy.”
Yên Vũ nghe hết nhưng vẫn chưa đáp. Từng ấy thế lực cùng ngồi một chỗ thế này, lẽ nào chỉ để tranh nhau mấy món hàng? Ngoài phố, trong chiếc xe ngựa đang đợi, bức quốc thư Càn Vũ vẫn đang đặt trong lớp bọc gấm, lời phụ hoàng sáng qua lại trở về bên tai nàng, rõ ràng từng tiếng một:
Mười ngày nữa khởi hành tới Thanh Sa.
Tới khi tràng hô giá dưới sảnh kéo nàng trở về thì trên đài đã qua thêm mấy món hàng, tiếng người trong đại sảnh cũng đã lên tới cực điểm.
Gã chủ trì áo gấm trở ra giữa đài, mở cuốn sổ bìa da đã sờn góc rồi vỗ tay gọi khách chú ý. Đợi tiếng xì xào lắng hẳn, gã mới cất cao giọng, từng tiếng theo linh văn truyền thanh đưa tới khắp các dãy ghế:
“Món hàng cuối cùng.”
Gã cố ý ngừng lại giây lát rồi mới xướng lên:
“Thẩm Uyên.”
Cả đại sảnh lặng đi trong chớp mắt, mấy tấm bảng giá vừa giơ lên nửa chừng cũng ngừng lại giữa không trung, đâu đó có chén trà chạm xuống bàn gỗ nghe cạch một tiếng, rồi tới cả tiếng quạt giấy phe phẩy cũng lặng hẳn. Yên Vũ ngước lên tầng ba, nơi rèm lụa đen buông kín suốt cả phiên, thì thấy góc rèm phòng số năm đang được một bàn tay gầy guộc chầm chậm vén lên, dưới ánh đèn hắt từ đài đấu giá, trên làn da sạm màu ấy loang lổ những vệt đỏ sẫm như chu sa.