Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Mạt Niệm

Tây viện Vương phủ

Thiệu Lâm đặt tấm linh khế nàng vừa giao xuống bên quyển sổ thu chi, nghe hai chữ “công vụ” mà dở khóc dở cười. Anh thở dài, rốt cuộc cũng đành thuận theo:

“Được rồi! Nói chính sự.”

Anh kéo tấm bản đồ da thuộc đã nhàu ra giữa bàn, mở hộp cờ vây bên cạnh lấy ba quân ngọc đen, cầm trên tay vẫn còn thấy lạnh. Vừa đặt quân đầu tiên xuống, anh đã nhắc:

“Càn Vũ.”

Tay anh chuyển sang hai vị trí còn lại:

“Bắc Lương, Tây Vực.”

Quân cuối cùng đặt xuống, ba quân cờ đã vây quanh một khoảng trống có hai chữ Thanh Sa khoanh bằng mực đỏ.

“Một nước để mắt tới Thanh Sa, còn có thể nói là tình cờ. Cả ba nước cùng nhìn về một chỗ thì ta không tin nữa.”

Yên Vũ đặt tay lên tấm linh khế:

“Nếu chỉ là một nô lệ thì không đáng. Thứ họ muốn không nằm trên người hắn. Ít nhất... hiện giờ ta nghĩ vậy.”

Thiệu Lâm nghe vậy chỉ gật đầu. Gặp quân cờ nào chưa nhìn rõ giá trị thì giữ lại trước, đợi biết thêm rồi mới tính nước sau, nàng xưa nay vẫn vậy.

“Vậy Vương gia định đi nước nào?”, anh hỏi.

“Chúng ta quan sát, đừng đánh động.”

Lời vừa dứt, ngoài hành lang đã có tiếng gõ cửa rụt rè. Lão quản gia bước vào, hai tay chắp trước bụng, mặt mày đầy vẻ khó xử:

“Vương gia, Khương đại nhân... lão có chuyện muốn bẩm báo...” Lão cúi đầu ấp úng mãi mới nói tiếp. “...Chuyện là về người mới đưa về đêm qua.”

“Hắn gây chuyện à?” Thiệu Lâm quay lại hỏi.

“Ấy chết, không có.” Lão quản gia vội xua tay. “Nếu thật sự gây chuyện thì còn dễ, cùng lắm đánh vài roi hay phạt vài ngày. Đằng này... lão già ta sống từng này tuổi rồi mà chẳng biết phải xử hắn thế nào... hắn cứ không giống ai, lão bảo ngồi thì ngồi, bảo đứng thì đứng. Sau đó lão xuống bếp xem gia nhân dọn bữa sáng, trước khi đi chỉ tiện miệng dặn một câu: ‘Ngươi chờ một lát’.”

Lão chép miệng:

“Lão cứ nghĩ nghe vậy, hắn vào phòng nghỉ hay đi quanh đâu một chút cũng được. Ai ngờ quay lại vẫn thấy đứng đúng chỗ cũ. Ban đầu còn tưởng mình nhớ lầm, lão mới hỏi sao chưa vào phòng… Người xem hắn đáp thế nào? Hắn nhìn lão rồi bảo: ‘Ông bảo ta chờ.’”

Lão thở hắt ra, lắc đầu mấy cái:

“Lão đi làm nốt mấy việc, lúc trở lại hắn vẫn đứng đó, đến ngón tay cũng không nhúc nhích… Hầy, thật tình không biết nói sao nữa.”

Thiệu Lâm nghe hết mới hỏi:

“Vậy thì có chuyện gì?”

“Lão cứ thấy mình giống ác nhân.” Lão cười khổ. “Lo việc trong phủ bao năm, lão gặp không thiếu loại người ngang ngạnh, kẻ láu cá cũng không ít, nhưng người thật thà đến nỗi này thì…”

Thiệu Lâm không cười nổi. Anh quay sang Yên Vũ, một tay day day trán:

“Ta bắt đầu hiểu vì sao đêm qua người phải bỏ mười vạn. Nuôi hắn còn khó hơn mua hắn.”

Quản gia vẫn đứng bên cạnh, hai tay xoắn vào nhau, đắn đo mãi mới lấy hết can đảm ngẩng đầu hỏi tiếp:

“Vậy… Vương gia, Khương đại nhân, lão xin hỏi một câu. Từ hôm nay nên xưng hô với hắn thế nào? Xếp hắn vào hàng nào trong phủ?”

Lần này đến cả hai người ngồi trước bàn cũng im tiếng. Gió lọt qua khe cửa làm một góc bản đồ cùng mấy tờ giấy bên cạnh chợt cuộn lên; lão đợi mãi chỉ nghe tiếng giấy sột soạt, đành đem những điều mình đã nghĩ ra mà thưa hết:

“Lão cũng thử rồi… Gọi công tử thì không hợp, hắn vốn là người mua từ chợ ngầm về. Gọi khách quý thì lại trái quy củ trong phủ. Còn nếu coi như người hầu…”

Lão bỏ lửng câu nói tại đó. Thiệu Lâm vô thức nhìn ra ngoài cửa sổ, trong đầu hiện lên cảnh một thiếu niên áo trắng cầm chiếc chổi tre quét lá rụng bên hồ, mặt không đổi sắc, quét xong một khoảng sân lại đứng yên chờ người bảo quét tiếp. Hình ảnh ấy vừa hiện lên, anh đã thấy có chỗ nào đó không đúng.

“Hay... để hắn theo hầu bên cạnh Vương gia?”

“Không.” Lần này Thiệu Lâm lắc đầu gần như theo bản năng.

“Vậy...” Lão chần chừ. “Ít nhất cũng có thể hầu trà?”

Trong đầu Thiệu Lâm lại đổi sang cảnh Thẩm Uyên quỳ bên bàn, hai tay nâng ấm trà, rót chén nào cũng ngay ngắn chỉnh tề, trang nghiêm như dâng trà trong lễ tế tông miếu. Hình dung đến đó, Thiệu Lâm đã rùng mình:

“Đừng.”

“Vì sao?” Yên Vũ ngơ ngác nhìn anh.

Thiệu Lâm nhìn nàng với vẻ mặt nghiêm túc hiếm thấy:

“Ta sợ người uống không nổi.”

Yên Vũ định phản bác, lời tới miệng lại thôi. Nàng thử nghĩ theo anh, kẻ đêm qua khiến mật thám ba phương suýt động đao ở chợ ngầm, nay quỳ bên bàn trà, cúi đầu rót từng chén nước cho khách… 

“Ừm… không được.”

“Không phải không làm được,” Thiệu Lâm khoanh tay, chậm rãi nói, “chỉ là… làm gì cũng thấy không hợp.”

Anh nhìn lão quản gia, cũng chưa biết nên giải quyết thế nào. Quy củ trong Vương phủ xưa nay rõ ràng từng điều, đem đặt lên người Thẩm Uyên lại không điều nào vừa vặn. Lão quản gia đứng đó thở dài:

“Lần đầu tiên có một người trong phủ mà không biết nên bắt đầu từ đâu.”

Yên Vũ quyết định:

“Tạm thời không giao việc.”

Lão quản gia ngẩn người: “Nhưng...”

“Chuyện ấy để sau.” Yên Vũ cắt lời.

Thiệu Lâm đứng dậy phủi tay áo:

“Được rồi, để ta. Ta qua Tây viện với hắn.” Anh quay sang Yên Vũ. “Tiện thể xem xem hắn rốt cuộc là loại người nào.”


 Tây viện là nơi yên tĩnh nhất trong phủ Chu Huyền Vương. Cây bạch trà bên hồ do Yên Vũ tự tay trồng từ năm mười tuổi, nay tán lá đã che rợp một góc mặt nước, bóng râm phủ xuống mấy cụm hoa súng và cả chiếc bàn đá nơi hạ nhân dọn mâm cơm sáng. Đến lúc Thiệu Lâm bước qua cửa vòm, cơm canh trên ấy còn nguyên, đã nguội từ lâu.

Thẩm Uyên ngồi dưới gốc cây, lưng thẳng, hai tay đặt ngay ngắn trên đầu gối, mắt hướng ra hồ. Mấy con cá dưới nước bơi qua bơi lại nhưng ánh mắt hắn không đuổi theo con nào. Thiệu Lâm dừng chân, anh từng ngồi bên giường không biết bao nhiêu người bệnh, người ngủ say, người hôn mê, người ngồi thiền, thân thể ai rồi cũng có lúc cựa mình. Người này thì khác, nhìn qua cứ ngỡ dù để mặc thêm ba ngày ba đêm, hắn vẫn ngồi nguyên một dáng ấy. Hơi thở hắn nhẹ đến nỗi phải đợi một cơn gió lùa qua, anh mới nhận ra lồng ngực kia còn phập phồng.

Anh chưa từng nghĩ mình là người nóng vội. Bao năm trong triều, ngay cả lúc tranh luận với những lão thần khó tính nhất, nụ cười trên môi anh cũng hiếm khi nhạt đi. Thế nhưng vừa thấy bóng lưng ngồi bên hồ kia, trong lòng anh lại hơi ngứa ngáy. Đứng trước một người tĩnh lặng đến gần như bất động, anh bỗng thấy chính mình mới là kẻ thiếu kiên nhẫn, hai mươi hai năm rèn giũa đem ra so cũng chẳng đáng là bao, khác gì kẻ mới học đánh cờ, đối phương còn chưa động quân đã nóng lòng muốn đi nước trước…

Thiệu Lâm lắc đầu tự giễu, bước tới bên bàn, liếc qua bát cơm còn đầy cùng đôi đũa nằm nguyên chỗ cũ rồi hỏi:

“Không hợp khẩu vị sao?”

Thẩm Uyên ngước mắt lên, giọng đều đều không nhanh cũng không chậm:

“Không.”

“Vậy sao ngươi không ăn?”

“Ta không đói.”

Thiệu Lâm ngẩng đầu nhìn trời. Nắng đã lên tới ngọn bạch trà, tính ra cũng gần trưa. Từ khi được đưa về đêm qua tới giờ, người này chưa uống một ngụm nước, chưa ăn một hạt cơm. Thiệu Lâm tiến lên một bước rồi ngồi xuống chiếc ghế đá đối diện:

“Ngươi biết mình đang ở đâu không?”

“Biết.”

“Nói xem.”

“Chu Huyền Vương phủ.”

Thiệu Lâm gật đầu:

“Biết ai mua ngươi không?”

“Là Chu Huyền Vương.”

Sau đó hai người ngồi nhìn nhau, đợi mãi không thấy có lời nào nữa, anh mới chống khuỷu tay lên bàn đá, hơi nhếch môi:

“Vậy ngươi không thấy kỳ lạ sao?”

“Kỳ lạ gì cơ?”

“Chuyện Vương gia bỏ ra mười vạn linh thạch để mua ngươi.”

Lần này Thẩm Uyên ngẫm nghĩ một lúc mới đáp:

“Quả thật rất nhiều.”

Khóe miệng Thiệu Lâm giật giật. Hóa ra hắn cũng biết mười vạn linh thạch là nhiều. Anh nhìn người trước mặt, tiếp tục dò hỏi:

“Ngươi không định đoán vì sao Vương gia lại mua ngươi? Nếu đổi là người khác thì sao?”

“Ai mua cũng vậy thôi.”

Câu đáp nhẹ nhàng, giọng điệu từ tốn như trước. Bao năm tra án, Thiệu Lâm nghe lời nói dối nhiều đến phát chán, câu này nghe thế nào cũng không giống nói dối. Anh chống hai tay lên đầu gối, như vừa nhớ ra một việc:

“Cho ta thử một chuyện.”

“Thử gì?”

Chưa kịp có thêm lời nào, Thiệu Lâm đã đứng bật dậy, vận một luồng linh lực rất nhẹ từ lòng bàn tay đánh thẳng vào vai trái Thẩm Uyên.

Bộp.

Chiếc ghế đá vẫn bình yên vô sự, chỉ có người ngồi trên đó đã đổi chỗ.

Thiệu Lâm sững người. Cú đánh ấy chỉ để thăm dò; người từng luyện võ hay có tu vi giấu kín, bị đánh bất ngờ thường sẽ lùi tránh hoặc vận khí chống đỡ. Thẩm Uyên lại nhận trọn luồng lực ấy, không thiếu miếng nào.

Hắn chống tay ngồi dậy cẩn thận phủi bụi bám trên áo, lại còn đang xem lại vạt áo đã sạch chưa thì Thiệu Lâm đã bước nhanh tới, nắm cổ tay kéo hắn đứng lên:

“Sao ngươi không né?”

Thẩm Uyên nhìn anh:

“Né kiểu gì?”

“.....”

“Ngươi ra tay nhanh như vậy.” Thẩm Uyên nói tiếp.

Thiệu Lâm định nói gì đó, rốt cuộc chỉ đưa mắt xem bả vai hắn, thấy không bầm tím cũng không trầy xước gì mới hỏi:

“Ngươi giận à?”

“…Ừm.”

“Sao nãy giờ không nói?”

“Ngươi kéo ta dậy rồi.”

Thiệu Lâm nhìn hắn rồi bỗng thấy huyệt thái dương nhức lên. Anh buông tay hắn ra, ngẫm lại vẫn bảo:

“Đưa tay đây, ta xem mạch.”

Thẩm Uyên đưa tay ra ngay, nhanh đến mức anh không biết người này dễ dỗ hay vốn chẳng để bụng.

“Ngươi không hỏi ta muốn làm gì à?”

“Không.”

Càng hỏi, Thiệu Lâm càng thấy mình cứng họng theo một cách rất kỳ lạ. Anh đặt hai ngón tay lên cổ tay Thẩm Uyên, tập trung tinh thần dẫn một luồng khí tức thanh nhẹ vào kinh mạch. Mạch tượng truyền lại rất rõ ràng, khỏe mạnh và đều đặn. Anh dò từng đường một, tìm bệnh tật, nội thương, rồi tìm cả độc tố lẫn phong ấn ẩn giấu, chỗ nào cũng sạch trơn. Điều khiến anh kinh ngạc nhất lại nằm ở chỗ khác. Trong người Thẩm Uyên không có lấy một tia linh lực, kinh mạch là kinh mạch của một phàm nhân chưa từng chạm tới con đường tu luyện.

Thiệu Lâm giữ nguyên ngón tay trên mạch, nhíu mày hỏi:

“Ngươi từng bị người khác phế bỏ tu vi?”

“Không.”

“Vậy từ nhỏ đã thế này?”

“Ừm.”

“Ngươi có từng học công pháp hay tu luyện bao giờ chưa?”

“Chưa.”

Hỏi tới đây, Thiệu Lâm biết có gặng thêm thì câu trả lời cũng chỉ ngắn gọn cụt ngủn như vậy. Anh tựa lưng vào ghế đá, chăm chú nhìn thiếu niên trước mặt. Những điều anh vẫn dựa vào để đoán một con người, xuất thân, tu vi, bệnh tật, ham muốn, ở người này chẳng điều nào dùng được.

Một người như vậy… rốt cuộc sống bằng cách nào?

Anh đứng dậy. Lúc tới, anh định tìm cho ra một manh mối, một bí mật giấu đâu đó trên người hắn; lúc về, manh mối chưa thấy mà câu hỏi trong đầu lại còn nhiều hơn lúc tới. Bước đến cửa vòm, anh chợt quay đầu nhìn lại. Thẩm Uyên đã ngồi lại dưới bóng bạch trà, góc áo xám, hai bàn tay, hướng mắt nhìn đều y như lúc anh mới bước vào. Anh nhìn mâm cơm thêm lần nữa. Bỗng dưng anh thấy mình chẳng giống người đi tra một đầu mối mà giống người được giao trông chừng một đứa trẻ rất biết nghe lời...

Xem ra việc điều tra phải để sau, trước mắt phải nghĩ cách làm sao cho người này chịu ăn cơm đã.

Thiệu Lâm rời Tây viện theo lối hành lang vòm cuốn. Nha hoàn dọc đường cúi đầu hành lễ, đi được một quãng anh mới sực nhớ mình chưa đáp lễ ai. Tâm trí anh còn để lại bên mâm cơm sáng. Dặn nhà bếp nấu chút bún cá, hay đổi sang vài món thanh đạm hơn? Nghĩ rồi anh lại tự lắc đầu. Một kẻ bảo không đói là có thể ngồi im suốt buổi như Thẩm Uyên, trông không giống người vì chê cơm khó nuốt nên cố tình nhịn lắm…

Nghĩ tới đó, mạch suy nghĩ lại rẽ sang chuyện nặng nề hơn. Một phàm nhân như thế, Càn Vũ cần để làm gì? Bắc Lương hay Tây Vực thì tính toán điều gì? Anh đặt từng giả thuyết xuống như đặt quân cờ, quân nào cũng thấy hở một góc...

Thiệu Lâm dừng lại bên khóm trúc để chỉnh lại vạt áo bị gió thổi lệch, hôm nay trời nổi gió nhiều hơn bình thường. Vừa lúc đó, một hộ vệ bước nhanh tới cúi đầu dâng phong thư bọc da:

“Khương đại nhân, nha môn Nam thành vừa chuyển thư đến. Đây là tư liệu thu được ở căn nhà của cha đứa bé, mời đại nhân xem qua.”

Thiệu Lâm gật đầu nhận thư rồi trở về thư phòng ở Đông viện. Anh ngồi xuống chiếc ghế tựa bằng gỗ, dùng dao nhỏ rạch phong thư rồi rút tờ báo cáo ra xem. Nha dịch địa phương ghi chép rất tỉ mỉ những món đồ sót lại trong gian nhà tranh ấy: vài bộ quần áo vải thô, một chiếc cuốc rỉ sét cũ kỹ và một chiếc hộp gỗ nhỏ giấu dưới đáy hũ gạo. Trong hộp không có tiền bạc, chỉ có ba tờ giấy gồm văn tự thuê đất công, biên lai nộp thuế và một bản khế ước thuê nhà.

Đọc qua danh sách, Thiệu Lâm định gấp lại cất vào ngăn kéo, đến dòng ghi ngày tháng lập khế thuê nhà thì tay chợt dừng.

Năm Thiên Khải thứ hai, tháng Chạp.

Năm nay đã là năm Thiên Khải thứ mười chín, vậy mảnh giấy này đã là vật của mười bảy năm trước. Anh đọc lại ngày tháng, cố nhớ xem đã gặp mốc ấy ở đâu trong những hồ sơ cũ.

Thiệu Lâm lấy chiếc tráp bọc da đựng các bản chép hộ tịch của mười bảy người mất tích từ trong tủ, đặt bên lá thư mới nhận rồi mở phần của Trương Nhị trước. Mắt anh lướt qua ngày mất tích: năm Thiên Khải thứ mười chín. Sang một người khác cùng vùng, ngày tháng cũng chỉ cách nhau vài tuần. Anh khép tập hồ sơ lại, đứng bên bàn sách, hai tay khoanh trước ngực. Trực giác thôi thúc anh quay lại một chi tiết nào đó, nhưng nhiều năm tra án đã dạy anh rằng trực giác chỉ có giá trị khi tìm được chứng cứ để đối chiếu.

Anh cầm lại bản báo cáo vừa nhận. Lần này, điều giữ anh lại là mấy chữ khế ước thuê nhà.

Thuê nhà… nhập cư…

Anh ngẩn ra, bàn tay siết lấy cạnh bàn gỗ rồi vội mở lại hồ sơ Trương Nhị. Bỏ qua ngày người ấy biến mất, anh tìm thẳng tới chỗ ghi danh vào sổ tịch địa phương.

Di cư đến ngoại ô Nam thành: năm Thiên Khải thứ nhất, tháng Ba.

Đến người thợ rèn, ngày nhập tịch là mùa thu năm Thiên Khải thứ tư. Tờ của Tống Thanh Hà lại ghi nàng theo cha mẹ tới đây vào năm thứ hai, khi ấy mới bảy tuổi; nay cha mẹ đều đã mất, trong sổ chỉ còn mình nàng đứng tên.

Thiệu Lâm kéo ghế ngồi xuống thay thỏi mực đã mòn rồi trải một tờ giấy bản mới. Anh kẻ một đường ngang suốt chiều rộng tờ giấy, lần lượt đánh dấu mười chín năm của niên hiệu Thiên Khải, sau đó mở từng bản hộ tịch đặt bên tay, cứ đối chiếu được ngày nhập tịch của ai thì chép tên người ấy xuống dưới năm tương ứng.

Tên người mỗi lúc một dày ở đầu trang, còn phần sau năm thứ tư vẫn để trống. Thiệu Lâm xem tiếp hết bản này sang bản khác, những mốc cũ cứ trở lại dưới mắt anh: năm thứ nhất, năm thứ hai, rồi năm thứ ba, thứ tư. Mãi đến khi tên cuối cùng cũng được chép xuống, anh mới dừng bút, nhìn dọc đường ngang mình vừa kẻ.

Bốn năm… chỉ có bốn năm…

Từ năm Thiên Khải thứ năm cho tới năm thứ mười chín, trên giấy không có thêm một cái tên nào. Thiệu Lâm lần lượt nhớ lại những việc lớn trong buổi đầu niên hiệu. Khi ấy không xảy ra đại hạn, cũng không có dịch bệnh hay chiến sự; Nam thành suốt mười mấy năm vẫn yên ổn như bao vùng ngoại ô khác. Anh tìm mãi chưa thấy một biến cố nào có thể giải thích vì sao mười bảy người, thân phận khác nhau đến thế, lại đều đến đây trong cùng bốn năm ấy.

Ý nghĩ ấy vừa hiện lên, anh bỗng nhớ tới một câu từng đọc trong quyển sách cũ, ứng vào mười bảy người này lại trúng y: trùng hợp chỉ tồn tại một lần, đến lần thứ hai phải gọi là dấu vết.

Anh đem từng khả năng đặt vào khoảng trắng sau năm Thiên Khải thứ tư, cân nhắc rồi lại gạch bỏ. Vệt nắng trên nền gạch dịch dần quá nửa gian phòng, Thiệu Lâm mới gom hồ sơ cùng tờ giấy vừa chép, cuộn lại rồi bước thẳng về phía chính điện Chu Huyền Vương phủ.


Trong phủ, Yên Vũ đang phê duyệt mấy bản tấu chương từ Tuyên Chính điện gửi tới. Ở góc bàn, ba quân ngọc đen quanh vùng Thanh Sa vẫn nằm nguyên từ sáng.

“Người xem đi.” Thiệu Lâm tiến đến, đặt chồng công văn cùng tờ giấy nháp ngay trước mặt nàng.

Yên Vũ buông bút, nhận lấy tập hồ sơ rồi giở từng trang. Chính điện yên ắng, chỉ còn tiếng giấy bản cọ vào nhau dưới tay nàng. Xem đến dòng cuối cùng, Yên Vũ mới ngước mắt lên:

“Có ai gốc gác Nam thành không?”

“Không có.”

“Có ai tới đây trước năm Thiên Khải thứ nhất?”

“Cũng không có.”

“Còn những kẻ mới chuyển đến vài năm qua thì sao?”

“Không một ai. Cả mười bảy người đều tới trong bốn năm đầu niên hiệu.”

Yên Vũ khép tập hồ sơ lại, nhìn sang Thiệu Lâm:

“Nếu ngươi muốn biến mất, ngươi sẽ chọn nơi nào?”

Thiệu Lâm ngớ người trước câu hỏi, rồi đáp ngay:

“Biên cảnh.”

“Vì sao?”

“Vì nơi đó khuất nẻo, ít người qua lại.”

Yên Vũ nói tiếp:

“Thanh Sa cũng là biên cảnh.”

Thiệu Lâm chợt nghĩ tới những toán quân thay phiên tuần phòng ở Thanh Sa. Trạm gác dựng san sát, thương đội ra vào không dứt, giữa dòng người qua lại còn có mật thám các nước trà trộn; muốn mất dấu ở một nơi như vậy khác nào tự đem mình tới trước bao nhiêu cặp mắt. Nam thành cũng là đất giáp biên nhưng lại bình lặng đến mức gần như bị triều đình lãng quên. 

Yên Vũ đứng dậy từ lúc nào anh cũng không để ý. Nàng bước đến tủ treo bản đồ, khép hai cánh cửa gỗ lại, vệt mực đỏ khoanh quanh ngoại ô Nam thành khuất sau cánh cửa. Nàng đứng tựa bên thành tủ, mắt hướng ra khoảng sân ngập nắng phía hành lang:

“Có lẽ… nơi họ chọn để trốn, cuối cùng vẫn không đủ yên.”

Yên Vũ nhắc đến chuyện còn đợi từ ban sáng:

“Phía Thẩm Uyên thế nào?”

“Ta không tra được gì.” Thiệu Lâm cười bất đắc dĩ.

“Sao thế?”

“Không có gì để tra.” Giọng anh có phần tự giễu. “Một phàm nhân bình thường, bình thường đến mức không tìm nổi một sơ hở.”

Yên Vũ nghĩ ngợi rồi hỏi tiếp:

“Còn con người hắn thì sao?”

Lần này Thiệu Lâm im lâu hơn. Anh dời mắt sang chiếc tráp da trên bàn, như còn cân nhắc nên nói thế nào về người vừa gặp dưới gốc bạch trà kia:

“Ta chưa từng gặp người nào như vậy.”

“Là sao?”

“Bắt mạch thì ta đọc được bệnh, nghe lời khai thì ta đọc được kẻ nói dối, riêng hắn thì ta đọc không ra chữ nào. Đến sự phòng bị của một kẻ làm nô lệ lâu năm cũng không thấy.”

“Hắn nói gì?”

“Không nhiều.” Thiệu Lâm cười. “Từ lúc ta tới Tây viện đến lúc rời đi, hỏi câu nào hắn đáp câu ấy, mỗi lần chỉ vài chữ.”

Yên Vũ nghe xong liền gật đầu:

“Ngày mai chúng ta sang.”

“Người muốn tự mình hỏi?”

“Ừ.”

“Ta đoán người hỏi mười câu thì hắn đáp được mười chữ.”

“Vậy thì để ta thử.” Nàng vẫn đứng bên thành tủ, mắt hướng ra hành lang đầy gió. “Thanh Sa không đợi chúng ta. Trước khi khởi hành, ta muốn biết người mình mang theo là ai.”

Thiệu Lâm nhìn dáng lưng thẳng tắp của nàng rồi nhận lời. Ngày đi Thanh Sa quả thật chỉ còn cách bảy hôm nữa.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px