Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Mạt Niệm

Ngoại truyện: Ký ảnh dương thế

Ngoại truyện này đứng riêng ngoài mạch truyện chính, nên dù chưa đọc Mạt Niệm bạn vẫn có thể theo trọn vẹn câu chuyện. Nhưng nếu mở trang này sau khi đã khép lại Mạt Niệm và chương Epilogue, bạn sẽ nhận ra nhiều điều hơn.

Giữa những năm tháng dài dằng dặc ấy, Thẩm Uyên từng có một mái nhà ven biển. Ở đó, có một vị học giả già vẫn lo hắn lạnh, giữ phần cơm cho hắn và gọi hắn là con.

Nếu Epilogue đã đưa bạn qua những năm tháng Thẩm Uyên tìm kiếm một kết thúc, thì lần này, hãy ghé lại nơi hắn từng muốn ngày mai tiếp tục đến.

Chương 1: Bữa cơm nhà

Chuyện xảy ra từ thuở rất xa xưa, khi con người còn chưa biết tới thuật pháp, vào một buổi sáng mùa đông.

Hứa Nghiên đi dọc bãi biển theo những dải rong mà các đợt sóng đêm qua bỏ lại. Bão vừa tan, biển trả lên cát đủ thứ ngổn ngang, nào rong, nào vỏ sò, cành cây gãy, có cả mảnh lưới rách của nhà ai đó. Rong trôi dạt lên tận gần chân dốc, ông nhìn mà nghĩ thầm đêm qua sóng lớn thật, ai lỡ còn ở ngoài khơi chắc khổ lắm... Gặp mảnh gỗ nào còn dùng được, ông lại cúi xuống nhặt kẹp vào nách. Đem về phơi khô thì bếp có thêm củi, người già sống một mình thì mấy nhành củi nhặt được cũng là lộc biển cho. Sương phủ trắng cả vùng, mỏm đá bên phía bến thuyền lúc hiện lúc chìm sau từng cơn gió sớm.

Giữa những thứ ướt sũng nằm trên cát có một vạt trắng lẫn trong đám rong. Ông tưởng mảnh buồm rách nên định nhặt về làm giẻ lau, tới gần mới nhận ra đó là áo. Áo của một người…

Thiếu niên nằm sấp với nửa gương mặt vùi trong cát. Rong quấn vào mái tóc dài, một bên tay áo rách gần hết, để lộ cánh tay trắng bệch nằm bất động dù nước vừa rút qua. Hứa Nghiên đánh rơi cả bó củi, vừa chạy vừa gọi nhưng gió ngoài bãi cuốn tiếng ông đi mất. Ông quỳ sụp xuống bên cạnh. Gương mặt kia trẻ quá, chẳng biết đã gặp tai ương gì mà trôi dạt tới tận đây. Ông đưa tay chạm vào má hắn. Lạnh ngắt. Trong một lúc ông cứ đinh ninh mình đã tới muộn…

Ông ngoảnh về phía mỏm đá mong gọi được ai tới giúp, nhưng thuyền nhỏ đã tránh vào bến chính từ chiều qua, lúc trời vừa trở bão. Bây giờ muốn vào làng phải vòng qua bến, con đường ngày thường ông đi quen chân, giờ nhìn đâu cũng chỉ thấy sương trắng mịt mù. Sóng chợt vỗ lên sát bên, ông giật mình quay lại, sợ nước tràn lên mặt người nằm dưới chân, vừa đúng lúc thấy hàng mi dính cát kia động đậy.

Hứa Nghiên cúi sát xuống để nhìn cho kỹ. Lồng ngực dưới lớp áo ướt nhô lên rất ít rồi lặng đi. Ông chờ, chờ mãi, tới khi thấy nó động thêm lần nữa mới nhận ra chính mình cũng đang nín thở theo. Ông gọi lần nữa, nhưng lần này nhỏ giọng hơn, như sợ gọi to thì làm người ta giật mình. Đôi mắt ấy vẫn nhắm nghiền. Nước biển đã len tới chỗ khuỷu tay ông chống trên cát. Đi tìm người rồi quay lại, biết đâu sóng đã kịp mang hắn đi mất.

Thấy trẻ chực sa giếng thì vội đưa tay, lòng trắc ẩn đâu nhất thiết phải đợi một lời cầu cứu. 

“Cố chịu một chút... Ta đưa ngươi về.”

Ông lấy áo ngoài lót dưới người thiếu niên, kéo hắn ra khỏi làn nước, lên tới chỗ cát cao mới dám ngồi xuống thở, cho hắn tựa vào mình. Qua mái tóc rũ trên vai người nọ, mái nhà ông đã thấp thoáng trong sương. Sao mà gần thế, mà cũng xa thế…

Nghỉ một lúc, ông quay lưng lại rồi kéo hai cánh tay hắn vắt qua vai mình, một tay giữ chặt hai cổ tay ấy trước ngực, còn tay kia chống lên khúc gỗ dạt nằm gần đó mà gượng đứng dậy. Ông không nhấc nổi hắn lên hẳn nên đành khom lưng mà đi, nửa cõng nửa dìu, hai bàn chân hắn quệt theo trên cát. Người sau lưng gục đầu sát bên cổ ông, mấy lần ông phải dừng lại nghiêng vai đón lấy cho vững rồi mới đi tiếp. Ông nhẹ tay như sợ đánh thức một người đang ngủ trong khi lòng chỉ mong người ấy mở mắt ra.

Ông chọn lối đi sát làn nước, nơi sóng vừa rút qua nén cát chặt hơn, đường xa hơn một chút nhưng chân không bị lún. Vừa đi ông vừa nói, chẳng rõ nói cho người kia nghe hay nói cho chính mình… Sắp tới rồi. Qua tảng đá kia là tới. Gắng thêm chút nữa. Mấy năm trước gánh hai bó sách từ bến về, ông còn chẳng thở dốc như hôm nay. Từng ấy năm đi đi về về trên bãi này, chưa bao giờ ông thấy đường về nhà dài đến thế…

Về tới cửa, ông phải tựa vai vào cột hiên mới giữ cho cả hai khỏi ngã. Mấy quyển sách đọc dở từ tối qua còn nằm ngổn ngang trên giường, ông gạt tạm sang một bên cho hắn có chỗ nằm. Vừa đặt người xuống, nước từ vạt áo trắng đã rịn ra loang cả chiếu. Trong nhà kín gió thật, nhưng để người ta nằm trong lớp vải ngấm đầy nước biển thì có khác gì vẫn bỏ ngoài bãi cát ban nãy.

Than trong bếp ủ từ đêm qua chưa tắt hẳn nên thổi mấy hơi đã bén lửa trở lại, chẳng mấy chốc đã có nước ấm. Cát muối lau đi được, nhưng những mảnh áo rách vẫn dính chặt vào da, có chỗ phải thấm nước cho mềm mãi mới gỡ ra nổi. Hứa Nghiên đã cố nương tay hết mức, vậy mà người nằm đó vẫn thỉnh thoảng nhíu mày. Thấy cái phản ứng ấy, ông lại nhẹ cả lòng, còn biết đau là còn sống. Rồi ngay sau đó lại thương. Từ lúc gặp hắn trên cát tới giờ, ông chỉ lo hắn chết, chưa lúc nào nghĩ tới quãng đường vừa rồi đã khiến người ta đau đến mức nào.

“Ta làm chậm thôi...”

Cánh tay hắn cứ rũ xuống, thay áo khó hơn ông tưởng nhiều. Ông phải đỡ cả bờ vai mới luồn được tay áo vào. Y phục vừa cởi ra có chất vải rất lạ, sờ qua đã biết không phải thứ người vùng này dệt, nhưng lúc ấy ông còn bụng dạ nào đâu mà xem kỹ. Bộ áo cũ của ông mặc vào hơi rộng, được cái khô ráo. Riêng mái tóc bết rong trên gối vẫn nồng mùi biển, ông ngồi xuống gỡ từng lọn bằng khăn ẩm, chậm như gỡ một trang sách dính nước.

Lo xong cho người ta, Hứa Nghiên mới sực nhớ mình vẫn mặc nguyên bộ áo ướt, cái rét đã ngấm vào tận xương từ lúc nào. Ông thay áo, hai cánh tay mỏi rã rời tới mức cởi một cái áo cũng phải nghỉ hai lần, rồi lại đem khăn ra hong bên bếp, giữ lửa cháy nhỏ cho căn nhà bớt lạnh, mắt thì cứ trông sang giường. Từ chỗ ấy thấy được người nằm dưới chăn mà không thấy rõ hơi thở, nên ngồi chưa ấm chỗ ông lại đứng dậy tới gần nhìn cho chắc, rồi lại quay về ngồi. Cứ thế mấy lượt, chính ông cũng thấy mình buồn cười.

Hơn nửa đời người với cái nghề cái nghiệp học giả khảo cứu sông biển, nhìn thế nước và những vết bồi lở ven bờ, ông thường đoán được vì đâu dòng chảy đổi hướng. Y thư ông cũng có đọc, nhưng chỉ để mở mang thêm đôi chút ngoài sở học. Mấy trang sách ấy chưa đủ cho ông bắt mạch, càng chưa đủ để ông dám đem một thang thuốc ra đánh cược với mạng người. Biết thì nhận là biết, chưa biết thì phải nhận là chưa biết. Ông đã có một lần nói vượt quá những gì mình hiểu, và cái giá của lần đó đã không bao giờ đòi lại được nữa. Bởi vậy tuy lòng thì nóng như lửa đốt nhưng ông vẫn ngồi yên bên bếp, không dám đụng tới tủ thuốc.

Gần trưa, khi ông bưng nước vào thay thì thấy người trên giường đã mở mắt. Bao nhiêu câu muốn hỏi từ sáng bỗng chốc quên sạch trơn, vì đôi môi nhợt nhạt kia cứ mấp máy mãi mà không thành tiếng. Ông chỉ đỡ hắn dậy, kề chén nước lên môi. Uống được vài ngụm, thiếu niên lại thiếp đi, đầu còn tựa trên cánh tay ông.

“Cứ yên tâm mà ngủ. Ta đi mời đại phu, về ngay thôi.”

Đặt hắn nằm lại rồi mà ông còn nấn ná bên giường. Rửa sạch rong cát, gương mặt kia trông còn trẻ hơn lúc ngoài bãi, cỡ chừng mười bảy, mười tám tuổi là cùng. Thân sinh hắn chắc vẫn đang ngóng đợi ở nơi nào đó. Để hắn nằm một mình thế này ông chẳng yên, mà không đi thì càng chẳng yên, đành tranh thủ lúc hắn còn ngủ mà đi cho nhanh.

Khi Lưu đại phu tới thì nắng đã lọt vào tận chân giường. Thường ngày Hứa Nghiên hay ghé nhà lão hỏi chuyện sách thuốc, hai người có thể ngồi cãi nhau về một vị thuốc cả buổi chiều. Hôm nay ông không buồn ngồi, cứ đứng bên kể một mạch mọi chuyện từ sáng, kể tới mức lão phải giơ tay bảo ông tránh ra cho lão xem mạch.

“Đã qua cơn nguy hiểm chưa?”, Hứa Nghiên hỏi.

“Để ta xem kỹ đã.”

Hứa Nghiên đứng chờ, thấy lão vừa buông cổ tay người bệnh đã nói ngay:

“Từ sáng tới giờ hắn chỉ tỉnh được một chút. Nếu cần đưa vào làng để tiện chữa thì ta sẽ thu xếp.”

“Không cần đâu,” Lưu đại phu lắc đầu. “Cứ để nằm đây mà tịnh dưỡng. Mạch đã ổn rồi, không còn nguy hiểm nữa. Ta kê ít thuốc cho hồi sức, ông sắc theo đơn, lo cho ăn uống tử tế, nghỉ vài hôm là ổn thôi.”

Lão gấp đơn thuốc lại, ngó sang ông từ đầu tới chân:

“Còn ông, ngoài năm mươi tuổi đầu mà cõng người kiểu đó, tối nay lưng không kêu thì ta mới lạ. Pha nước nóng ngâm chân rồi ngủ sớm đi.”

Lúc bấy giờ Hứa Nghiên mới yên lòng theo lão về làng bốc thuốc. Lúc trở về, ông mang thuốc xuống bếp, bắc niêu nấu cháo, rồi đong thêm một nắm gạo vào phần vốn chỉ đủ cho mình.

—

Sáng hôm sau, Hứa Nghiên dậy mà lưng cứng như tấm phản, cúi xuống thổi bếp cũng phải chống tay vào gối. Lời dặn ngâm chân tối qua ông để tâm chữ được chữ mất, giờ mới thấy Lưu đại phu nói chẳng sai câu nào. Thiếu niên kia thì đã ngồi tựa được vào gối để Hứa Nghiên đỡ cho uống hết chén thuốc vừa sắc. Ông ngồi lại bên cạnh thử hỏi:

“Ngươi nói được không?”

Thấy hắn gật đầu, ông thở hắt ra một hơi như vừa trút được hòn đá đè trong ngực từ hôm qua:

“Trong người thế nào? Đã đỡ hơn chưa?”

“Đỡ hơn...”

“Vậy ăn chút cháo đã.”

Trong nhà chỉ có ít gạo với mấy con cá khô. Người yếu thế này mà ăn cá khô thì e không ổn, ông đành ninh cháo thật nhừ, nêm chút muối cho có vị. Xưa nay ông quen ăn vội cho xong bữa để còn đọc sách, nay ngồi đút từng thìa mới biết người bệnh ăn chậm đến thế nào. Mà thôi chậm cũng được, ăn được là tốt rồi!

“Ngươi tên gì?” ông hỏi khi thấy hắn đã muốn nằm xuống.

Người nọ cố gắng đáp lại bằng chất giọng khàn khàn đứt quãng:

“...Thẩm Uyên.”

“Thẩm Uyên.” Hứa Nghiên nhắc lại một lần cho nhớ, rồi mỉm cười. “Ta là Hứa Nghiên, ở đây đã nhiều năm. Ngươi cứ yên tâm ở lại dưỡng thương, đợi khỏe hơn rồi kể ta nghe quê quán ở đâu. Ta có quen vài người đi biển, sẽ nhờ họ hỏi tin người nhà cho ngươi.”

Thẩm Uyên nhìn ông. Đôi môi mấp máy rất lâu mới thành tiếng:

“...Đa tạ.”

—

Sáng hôm ấy nắng lên sau mấy ngày liền mưa dầm. Hứa Nghiên dậy sớm hơn thường lệ, bê hết đám sách bị ẩm ra hiên, xếp kín mặt bàn. Quyển nào cũng xòe trang hứng nắng, trông như một đàn chim ướt đang rũ cánh. Mùa mưa năm nào cũng lấy của ông vài quyển, năm nay trời còn nể tình, chỉ làm loang mấy trang viết tay, ông vừa trải sách vừa tự nhủ thế vẫn còn may.

Đang lật tới quyển thứ mười mấy thì Thẩm Uyên chầm chậm vịn thành vách bước tới cửa hỏi có thể ngồi ngoài hiên một lúc được không. Hứa Nghiên ngẩng lên nhìn quanh. Ngoài này chỉ có hai cái ghế, một cái ông vẫn ngồi, cái kia đang gánh một chồng sách đang hong khô. Ông bỗng thấy mình chẳng ra làm sao! Người ta nằm trong buồng tối bao nhiêu hôm, nghe mưa đến mòn cả tai, nắng vừa ló thì muốn ra ngồi cho thoáng là lẽ thường. Thế mà cả buổi sáng ông lại loay hoay, quên khuấy mất trong nhà còn một người chắc cũng sắp mốc meo chẳng kém gì sách.

“Ngoài này gió còn lạnh. Cái lạnh lúc giao mùa là thứ người ta dễ coi thường nhất, mà cũng dễ quật ngã người mới bệnh dậy nhất. Ngươi khoác thêm áo rồi hãy ra.”

Ông dọn chồng sách xuống đất rồi kéo cái ghế vào chỗ nắng đẹp, còn mình lui về phía mấy quyển còn ướt. Thẩm Uyên khoác áo ngoài, bảo vậy đủ ấm rồi. Hứa Nghiên gật đầu nhưng vẫn vào buồng ôm ra tấm đệm lưng, vì người trẻ nói đủ ấm thì thường là chưa đủ. Lúc ông trở ra, hắn đang nhìn chồng sách dưới chân ghế:

“Ta để mấy quyển này lên đùi có được không?”

“Sách vở nặng tay, ôm vào lòng làm gì cho mỏi. Cứ để đấy, lát ta dọn.”

“Không phải… Ta muốn xem.”

Mấy hôm nay hỏi gì hắn cũng bảo được, cho ăn gì cũng bảo được, ông nghe mà không biết người ta dễ tính thật hay còn ngại chưa dám đòi. Nên bây giờ một chữ “muốn” từ miệng hắn, ông nghe mà mừng hơn cả trời tạnh mưa. Ông tìm trong đống một quyển ít khô khan nhất, tìm  xong mới nhận ra quyển nào cũng khô khan như nhau, đành chọn quyển có nhiều hình vẽ đưa sang cho hắn.

“Sách nhà ta phần lớn là thứ người già mới chịu đọc. Ngươi cứ xem đi, chán thì để lại ta hong khô, không sao cả.”

Thẩm Uyên lật mở cẩn thận từng trang giấy ẩm. Hứa Nghiên vào trong lấy bút, tiện tay mài thêm thỏi mực, trở ra đã thấy hắn xem được quá nửa quyển. Chén nước ông đặt cạnh ghế lúc đi giờ nguội ngắt mà chưa vơi chút nào. Ông ngồi xuống viết tiếp phần việc dở, thỉnh thoảng lại nghe bên kia lật sang một tờ. Tiếng giấy sột soạt ấy ông đã nghe mấy chục năm qua, xưa nay chỉ là tiếng tay mình. Nay nó vọng sang từ phía bên kia bàn khiến ông đôi lần ngẩng lên như tưởng chừng có khách gõ cửa.

“Đọc có nổi không? Bản đó cũ rồi, nét nhòe nét rõ, mỏi mắt thì cứ nghỉ đi nhé.”

“...Quyển này thiếu một tờ phải không?”, Thẩm Uyên chợt hỏi.

“À ừ, đúng rồi đấy! Sách cổ qua tay nhiều người rồi nên chẳng còn quyển nào lành lặn nữa. Quyển này về tới nhà ta đã mất tờ ấy rồi, ta đang tìm bản khác để viết bù.”

Hắn lật lại đầu quyển để đọc lại đoạn trước chỗ khuyết, tựa người đi đường quay lại tìm món đồ đánh rơi. Hứa Nghiên cúi xuống trang viết, sợ hỏi nhiều thì người ta lại ngại. Bao năm sách trong nhà chỉ chờ một mình ông mở, nay có người đọc sách mà còn tò mò thêm nội dung bên trong thiếu đủ ra sao. Ông vui, rồi lại tự dặn mình thôi đừng mừng vội, biết đâu người nằm lâu nên chán, nhìn tới cái gì cũng thấy thú vị…

—

Qua nửa tháng, Thẩm Uyên đã tự ăn uống, tự đi lại trong nhà được. Hứa Nghiên thôi ngồi canh bên giường mỗi bữa, nhưng cái tật liếc sang xem bát cơm vơi được bao nhiêu thì bỏ không được. Ông tưởng mình kín đáo lắm, hóa ra chẳng kín chút nào. Mấy bữa liền, hắn ăn xong là đưa bát sang cho ông xem với vẻ mặt nghiêm túc như học trò nộp bài.

“Được rồi, được rồi, ta thấy cả rồi. Ngươi đâu phải nộp bài cho ta.”

Nói thế mà ông vẫn liếc vào đáy bát một cái rồi chợt cười. Thẩm Uyên đứng dậy, thu luôn cả bát của ông mang đi rửa. Mấy lần trước Hứa Nghiên đều giành lại, bảo người bệnh cứ ngồi yên. Lần này ông để hắn mang đi, ngồi nghe tiếng nước ngoài bếp, thấy ừ thôi cũng không đến nỗi, khỏe rồi thì làm này làm kia cho đỡ buồn tay chân.

Chiều hôm ấy, hắn xin giúp ông việc viết sách:

“Quyển người đưa hôm trước ta đã đọc xong. Nếu người cần so sánh các bản, ta đọc cho người dò được không?”

Hứa Nghiên đang cúi đầu chăm chú với mấy dòng chữ nhòe mực trước mặt. Mực loang từng đám, ai đó đã để nước hắt vào mà chẳng buồn lau. Ông ngồi với mấy chữ ấy gần nửa buổi, trong lòng đã mắng người giữ sách trước kia không biết bao nhiêu lần. Có người đọc giúp lúc này thật đúng là trời gửi tới, nhưng ông vẫn dặn chỉ thử một đoạn, khó đọc quá thì thôi.

Giọng Thẩm Uyên còn khàn, đọc chậm nhưng đọc chữ nào ra chữ nấy. Hứa Nghiên dò theo bản trên tay. Tới câu nọ ông vẫn thấy không xuôi nên bảo đọc lại. Lần thứ hai, hắn ngừng ở giữa câu:

“Chỗ này có vẻ là lời chú giải. Người ta đã ghi nó lẫn vào chính văn.”

Hứa Nghiên kéo cả hai quyển lại sát nhau, mắt chạy qua chạy lại giữa hai bản. Quả đúng là thế thật! Ông vẫn nghi ngờ chỗ này thiếu chữ, đã lục cả mấy bản khác để tìm, nào ngờ thứ làm ông vấp lại là chữ thừa, nằm sờ sờ ngay trước mắt.

“Lời chú giải vốn là để giúp người đọc, qua tay người viết lại thành ra đánh đố người đọc. Ta cũng bị nó giữ chân mấy hôm nay.”

“Nếu bỏ câu ấy ra thì đoạn sau nối được,” Thẩm Uyên nói.

Ông đọc liền một mạch, tới cuối đoạn thì vỗ lên mặt bàn một cái. Cơn bực ban chiều tan đâu mất, chỉ còn cái khoan khoái của người gỡ được nút chỉ rối mấy hôm liền. Ông muốn kể chuyện này cho ai đó nghe, kể từ đầu, kể cả cái lúc mình đi lục bản khác ra sao, rồi chợt nhận ra người cần kể đang ngồi ngay bên cạnh, tay vẫn giữ trang sách đợi ông.

“Con đọc tiếp cho ta nghe nhé.”

Chữ ấy bật ra rồi ông mới nghe thấy. Muốn sửa thì đã muộn, mà sửa lại thì còn ngượng hơn. Thẩm Uyên đọc tiếp cho ông dò theo, chẳng mấy chốc mà hết đoạn ấy. Hứa Nghiên vẫn còn muốn làm tiếp, nhưng thấy hắn khép sách, xoa xoa cổ tay thì tự mình thu bút trước.

“Để con giữ quyển này,” Thẩm Uyên nhẹ giọng. “Mai con đọc tiếp.”

Hứa Nghiên gật đầu. Tới lúc ra chậu rửa bút ông mới nghe lại chữ hắn vừa xưng, đứng ngẩn bên chậu nước một lúc rồi bật cười. Chẳng ai nhắc ai vậy mà cả hai cùng đổi. Trong bụng ông đã lôi ra được một tựa sách khác muốn nhờ hắn xem cùng.

Những buổi làm sách nối nhau qua ngày. Ông giao cho hắn viết lại một tờ, đọc kỹ rồi lại giao thêm tờ nữa. Nét chữ hắn thanh sạch, cùng thứ giấy rẻ tiền ông vẫn mua ngoài chợ, viết vào trông sách sáng sủa hẳn ra, người nhận sách hẳn sẽ thích lắm! Hứa Nghiên cũng thích, chỉ không chịu nhận ngay rằng mấy trang chính mình viết đặt cạnh bên trông cứ như chữ người say rượu. Bản nào giao đi xong ông cũng nhẩm riêng phần công của hắn. Ông cứu người vì thương, đâu phải để có người viết sách không công thay mình.

Một lần Thẩm Uyên xắn tay áo rửa nghiên mực, cổ tay lộ ra trắng trơn. Hứa Nghiên nhớ rất rõ chỗ da rách ở đó, nhớ cả cảm giác thấm nước ấm gỡ từng sợi vải dính vào thịt. Vậy mà giờ ông nhìn gần, tìm mãi không ra nổi một vết sẹo.

“Tay con còn đau không?”

“Hết rồi.”

Giọng Thẩm Uyên tỉnh rụi như hỏi nước trong chum còn đủ dùng không. Hứa Nghiên đưa chiếc khăn sạch sang mà không hỏi gì thêm nữa. Cả buổi chiều, trang sách trước mặt ông cứ hiện ra cái cổ tay ấy. Người trẻ thì lành thương nhanh, ông biết chứ. Lũ trẻ trong làng sáng ngã toạc đầu gối, chiều hôm sau đã lại chạy nhảy ngoài bãi. Nhưng vết rách ấy sâu đến thế, mới hơn nửa tháng...

Tối ấy ông mở cuốn sổ riêng, cầm bút ngồi một lúc lâu rồi gấp sổ lại mà chưa viết chữ nào.

–

Chiếc áo rách hôm dạt vào bờ, Hứa Nghiên đã giặt sạch, phơi khô rồi gấp cất riêng một chỗ. Ông định đợi người khỏe hẳn mới đưa ra, nhưng một buổi tối ngồi vá áo cho mình, nhìn mảnh vải trên tay lại nhớ tới nó, ông bèn đem ra hỏi Thẩm Uyên có muốn giữ lại không, phần vải còn lành lặn hẳn vẫn còn dùng được.

“Con quê ở đâu?” ông hỏi. “Ta đi qua nhiều bến bãi, chưa nơi nào dệt được thứ vải này. Quê con hẳn là xa lắm?”

“Con rời nơi ấy lâu rồi.”

“Đã xa thì càng nên nhắn về một tiếng. Người đi còn có đường mà đi, người ở nhà chỉ còn cánh cửa mà ngóng. Thân sinh con hẳn đang mong lắm.” Hứa Nghiên ôn tồn, “Ngoài bến thỉnh thoảng có thuyền buôn đi xa, ta nhờ họ chuyển một lời cũng chẳng khó gì.”

Thẩm Uyên ôm chiếc áo trong tay:

“Người đừng nhờ tìm. Con không có người thân.”

Câu ấy nói ra bình thường quá, bình thường như bảo hôm nay trời không mưa, làm Hứa Nghiên nghe xong lại càng muốn hỏi. Có lẽ vì mấy đêm đầu ông ngồi canh hắn mê man, nghe hắn thở mà mình cũng phải nín thở theo, nên ông cứ đinh ninh ở một nơi nào đó phải có người đang mất ngủ vì hắn, như ông đã mất ngủ những đêm ấy. Một người trẻ thế này, biết chữ, đọc sách đọc ra được cả lời chú giải lẫn lộn, mặc thứ áo người thường khó may nổi. Ai đã dạy hắn chữ? Ai đã may áo cho hắn? Những người ấy đi đâu cả rồi?

“Không còn người thân thì cũng còn bằng hữu, hay người hàng xóm cũ nào đó chứ?”

“Ở đó bây giờ còn ai, con cũng không biết.”

Ông đã tính sẵn cả rồi. Hễ dò được quê hắn, ông sẽ nhờ chủ thuyền quen, gói cho ít lương khô, ra bến đứng nhìn tới khi cánh buồm khuất hẳn rồi mới về. Ông còn nghĩ sẵn cả câu dặn dò thằng bé này lúc đưa tiễn nó… Trong ngần ấy dự tính, chưa lần nào ông nghĩ tới một người khỏe lại rồi mà chẳng biết nên về đâu.

“Hay là con đang tránh ai? Có thì cứ nói. Nhà ta nghèo thật, nhưng một cánh cửa để cài then thì vẫn có.”

“Không ạ. Con không trốn ai.”

“Thế thì...”

Không trốn ai cũng đâu có nghĩa là còn ai đợi? Hứa Nghiên nhìn chiếc áo rách trong tay hắn, chợt thấy mình đang tra người ta như tra một quyển sách thiếu trang, cứ khăng khăng tìm cho ra, trong khi trang ấy có khi cũng không còn ở đâu trên đời.

“Ta hỏi nhiều quá,” ông nói. “Cái tật của người đọc sách, con đừng nghĩ ta muốn đuổi con. Áo cứ cất đi, ta tìm vải may cho con bộ khác mà mặc.”

Thẩm Uyên vẫn ôm chiếc áo, chưa đi:

“Con muốn hỏi… con ở lại đây được không?”

Hứa Nghiên ngước lên ngạc nhiên:

“Con muốn ở thì cứ ở. Ta chỉ sợ nhà cửa đơn sơ, quanh năm làm bạn với một ông già nghèo suốt ngày ôm sách, chẳng mấy bữa con lại thấy chán. Đang tuổi đi đây đi đó mà phải nghe ta nói mãi chuyện sông biển, con chịu được sao?”

“Con thích nghe.”

Lúc đó, ông bỗng thấy mình không nên đem căn nhà ra kể khổ thêm. Ông thôi không rào đón nữa, trong lòng chợt ấm lên như có ai vừa thêm một thanh củi vào bếp lò giữa ngày trời trở rét.

“Được! Vậy thì ở lại với ta. Có điều sách vở nhà ta bừa bộn lắm, đống nào trông cũng như đồ bỏ đi, mà đống nào ta cũng đang cần. Con dọn thứ gì thì nhớ hỏi ta trước đó!”

Thẩm Uyên đưa mắt nhìn khắp nhà một lượt, nhìn khá lâu:

“Con thấy đống nào cũng y chang nhau.”

“Giống với con thôi,” Hứa Nghiên đáp, hơi phật ý. “Ta nhìn là biết đống nào có những quyển gì, đang thiếu tờ nào.”

Thẩm Uyên cười. Hứa Nghiên lườm hắn, rồi cũng chẳng nhịn được cười.

Tối ấy ông xếp một chồng sách sang chiếc hòm sát vách cho rộng chỗ, xếp xong lại đứng lẩm bẩm xem nên kê thêm một chiếc giường ở đâu. Chỗ ấy phải có ánh sáng. Người trẻ thích đọc sách mà. Sáng nhất nhà là góc cửa sổ phía đông, nhưng cánh cửa ấy đã kẹt từ lâu, mở không ra, mà ông cũng chưa lần nào chịu sửa. Ông đứng nhìn góc ấy một lúc, rồi quyết định kê giường sang vách bên kia, chỗ buổi chiều có nắng.

—

Cuối tháng, người đặt sách tới lấy những bản viết đã chỉnh sửa xong. Hứa Nghiên tính sòng phẳng phần công của Thẩm Uyên, đưa riêng cho hắn dặn tự giữ lấy mà tiêu xài, có những thứ người trẻ cần mà lão già như ông chưa nghĩ tới. Phần của mình thì ông lại chia làm hai. Gói nhỏ để dành ăn tiêu, gói lớn buộc kỹ bằng sợi lạt để sáng hôm sau mang vào làng từ sớm. Phần ấy tháng nào ông cũng gửi, gửi đã mấy năm nay nhưng chưa bao giờ người nhận nói với ông câu nào. Thẩm Uyên cầm tiền đi chợ một chuyến, mang về một xấp giấy tốt, rồi hỏi ông có thể chép lại mấy hình trong sổ khảo cứu không.

Hứa Nghiên nhìn xấp giấy trắng phau mà xót ruột. Giấy tốt thế này, đem viết đám chữ chen chúc của ông thì phí của giời. Nhưng nhìn hắn đứng đó chờ, ông không nỡ lắc đầu.

“Con đọc ra được thì cứ viết. Ta viết nhanh nên chữ như gà bới, nhiều chỗ cách một tháng chính ta còn chẳng đọc nổi. Gặp chữ nào đọc không ra thì hỏi ta đừng ngại, mà cũng đừng cười đấy!”

Từ hôm ấy hai người ngồi chung một chiếc bàn. Chiếc bàn ấy đã cũ lắm rồi, một chân ngắn hơn ba chân kia, phải chêm mảnh ngói vỡ mới đứng yên được, mặt bàn lại có một chỗ sần xước dăm gỗ, trải giấy qua là móc rách. Ông quen tay xếp giấy chừa chỗ ấy ra, mới được vài hôm, Thẩm Uyên cũng đã chừa theo. Một nửa bàn là sách nhận viết, nửa kia trải ra những chuyến đi cũ của Hứa Nghiên. Có hình hắn chỉ cần dừng bút ở một nét, ông đã kể được cả buổi. Có nơi ông nhớ tên mà quên đường, phải lục mấy trang ghi chép cũ mới nối lại được. Thẩm Uyên nghe rất lâu, hỏi ít, nhưng câu nào hỏi ra cũng khiến ông phải ngồi ngẫm nghĩ. Chuyện đi xa ông đã kể cho bao người nghe, phần nhiều người ta chỉ muốn biết tới đó mất mấy ngày, đường có cướp không, vùng ấy có món gì ngon. Chưa ai hỏi ông vì sao lớp đá ở chân đồi lại nghiêng cả về một phía như thiếu niên kỳ lạ này. Thậm chí đôi lúc Hứa Nghiên còn nghĩ, nếu không nhìn vẻ ngoài, có khi ông lại tưởng hắn cùng trang lứa với mình.

Trên bàn có mảnh đá ông vẫn dùng chặn giấy, mặt vỡ lộ ra một hàng vỏ sò nằm sát nhau. Nó là kỷ vật của một chuyến đi từ hồi tóc ông còn đen. Hôm ấy ông lạc vào một vùng núi cách biển cả ngày đường, ngửa cổ nhìn lên vách đá thì sững người. Cả một lớp vỏ sò vùi trong đá, chạy dài ngang vách, cao quá đầu người. Giữa núi non cao như vậy, vậy mà biển đã từng ở đây. Ông đứng vẽ lại vách đá ấy cho tới khi trời ngả chiều, rồi cạy lấy một mảnh bỏ vào bọc mang về. Nhiều năm rồi, đêm nào mất ngủ ông lại cầm mảnh đá lên ngắm nghía, nghĩ mãi không biết biển đã rút khỏi nơi ấy từ bao giờ.

“Cũng có thể không phải biển rút,” Thẩm Uyên nói. “Có thể đất ở đó đã cao lên.”

Hứa Nghiên lặng người nhìn lại bức vẽ:

“Bãi bể nương dâu...” ông nói chậm hơn. “Ta nhìn dấu vết của biển bao nhiêu năm, chưa lần nào nghĩ nền đất dưới chân mình cũng biết dời đi. Đúng là cứ mải ngóng ra khơi mà quên mất nhìn xuống chân mình...”

“Chỉ nhìn mảnh vỏ này thì chưa biết được,” hắn nói. “Con cũng chưa tới nơi ấy.”

“Phải đi thêm chứ! Chuyến trước ta vội quá, mấy đồi bên cạnh cũng chưa xem hết. Một mảnh vỏ mới chỉ là một chữ, muốn đọc thành câu thì phải đi tìm những chữ đứng cạnh nó nữa, con nói xem có đúng không?”

Ông thích thú đánh dấu chỗ cần đi xem lại, để yên lời ghi chú cũ bên cạnh cho người đọc sau sẽ biết ông từng nghĩ sai ở đâu. Bao nhiêu năm trôi qua mà vẫn còn một điều nằm đợi ông quay lại, nghĩ tới đã thấy trong lòng ấm lên. Ông định kể cho hắn nghe lối qua núi, đoạn nào phải bám rễ cây mà leo, rồi chợt nghĩ nếu có ngày cả hai cùng đi, đường xa sẽ có người để mà cãi nhau. Ông sẽ chẳng phải ôm hết mọi câu hỏi trong đầu suốt dọc đường cho tới tận lúc về.

—

Mẹ Tiểu Đào thường đi nhặt ốc ở mỏm đá ngoài bãi. Bãi ấy trơn trượt, nhiều khe, nước lên lúc nào không ai hay, Ngô tẩu không dám dắt con theo nên những hôm được con nước lại gửi nó ở nhà Hứa Nghiên vài giờ. Ông sống xa làng nhưng chẳng lạ gì hai mẹ con nhà này, tờ giấy giao hàng của nhà ấy có khi còn do ông viết hộ. Bởi vậy chuyện nhà Hứa tiên sinh có thêm người, cả làng còn chưa ai hay, chỉ có Tiểu Đào mới lên tám là biết trước. Mà con bé thì chẳng coi chuyện người lớn ra gì, mẹ nó còn chưa nói hết câu cảm ơn thì nó đã níu vạt áo ông hỏi hôm nay có kể chuyện không.

“Để ta xong tờ này đã. Con ngồi chơi cho ngoan, xong việc ta kể. Lời hứa của ông già này đáng giá lắm đấy.”

“Nhưng mà nhưng mà, lần trước tiên sinh cũng bảo thế mà có kể đâu?”

Hứa Nghiên bị vạch tội ngay trước mặt Thẩm Uyên, đành thú thật hôm ấy mình quên. Con bé tha cho ông làm tiếp, nhưng kéo ghế ngồi sát bên ca ca mặt hiền, hiển nhiên là không định tin người lớn thêm lần nào nữa. Nó móc trong túi ra tờ giấy gói mẹ vừa bỏ đi, đòi Uyên ca ca vẽ cho một bông hoa.

Hoa phải to, lá phải nhiều, phải có thêm một con chim đậu trên cành. Thẩm Uyên đặt tờ giấy lệch sang một bên cho khỏi vướng chỗ gỗ sần trên mặt bàn, rồi vẽ theo từng lời miêu tả, Tiểu Đào ghé mặt sát giấy canh chừng. Hứa Nghiên giả vờ đọc sách, nhưng tai vẫn dỏng hết sang bên đó.

Hắn vẽ xong con chim, đặt bút xuống. Tiểu Đào nhìn rất lâu rồi chau mày:

“Uyên ca ca, đây là con gà mà?”

Thẩm Uyên nhìn bức vẽ, nhìn con bé, rồi lại nhìn bức vẽ:

“Ta chưa học vẽ bao giờ.”

“Không chịu! Muội muốn con chim, vườn hoa tự nhiên lại có con gà!” Nó giậm chân, nhất định không nhận con chim ấy.

Thẩm Uyên quay sang nhìn Hứa Nghiên như muốn cầu cứu. Gương mặt ấy ông đã thấy lúc hắn mê man, lúc hắn tỉnh dậy nói lời cảm tạ, lúc hắn chỉ ra lời chú giải, chưa lần nào thấy nó ngơ ngác như bây giờ. Hứa Nghiên phải đưa sách lên che mặt, ho mấy cái cho khỏi bật cười thành tiếng. Nét chữ thì thanh sạch là thế, hóa ra cây bút ấy chỉ biết viết.

“Ngoài bãi biển có chim thật,” Thẩm Uyên nói với con bé bằng giọng rất nghiêm túc. “Sao không ra đó mà xem? Xem con thật chẳng phải thích hơn xem trên giấy sao?”

“Chim thật đâu có dán lên vách được!”

Hắn ngồi nghĩ về câu ấy khá lâu, thấy cũng hợp lý, nên gật đầu đồng ý không cãi nữa.

Hứa Nghiên gác sách, ra mặt dàn xếp:

“Chim khó vẽ hơn hoa nhiều. Hoa đứng yên cho người ta vẽ, chim thì có chịu yên bao giờ đâu? Cái hồn của nó nằm ở lúc chuẩn bị giang cánh bay lên, có người cầm bút cả đời còn chưa bắt được. Con cho Tiểu Uyên tập thêm ít lâu nhé.”

“Tập tới bao giờ ạ?”

“Cái đó thì có trời mới biết.”

Tiểu Đào bĩu môi, con bé đẩy tờ giấy sang trước mặt Thẩm Uyên, dặn ca ca bao giờ vẽ được con chim giống chim thì đưa nó, rồi quay sang níu áo Hứa tiên sinh đòi kể chuyện.

Mấy hôm sau, Hứa Nghiên dậy từ sớm đã không thấy Thẩm Uyên trong nhà. Ông ra cửa tìm thì thấy hắn đứng ngoài bãi, mặt hướng về phía mỏm đá nơi bầy chim biển vẫn thường đậu, gió thổi tạt vạt áo về một bên mà người thì cứ đứng yên như vậy rất lâu. Ông nhìn mà thấy thương thương. Người trẻ xa nhà, ngoài miệng bảo chẳng còn ai, biết đâu trong lòng vẫn còn một phương trời để ngoảnh về. Ông đứng tựa cửa nghĩ cách mở lời nhưng nghĩ mãi cũng chưa tìm được câu nào cho khéo.

Gần trưa hắn mới về, xin ông một tờ giấy vụn rồi ngồi xuống bàn cắm cúi vẽ. Hứa Nghiên nhân lúc mang chén nước sang nên thử ghé mắt nhìn. Trên giấy là mấy con chim vẽ dở, con mới có đôi cánh, con mới được cái mỏ. Ông chẳng biết nên bật cười hay nên thở ra, đành làm cả hai, bị hắn ngẩng lên nhìn lại phải vờ như đang thổi cho nguội chén nước.

Ba buổi sáng liền như thế cho đến hôm Tiểu Đào sang, Thẩm Uyên đặt trước mặt nó một tờ giấy. Lần này giống chim rồi, cánh xòe như sắp vỗ, mỏ nhọn, đôi chân co lên dưới bụng. Hứa Nghiên ghé mắt nhìn mà cũng phải gật gù thầm nghĩ ba buổi sáng đứng giữa gió ngoài kia đúng là chẳng uổng công.

Tiểu Đào ngắm rất lâu, rồi gật đầu hài lòng ra mặt:

“Giờ Uyên ca ca vẽ con chó đi.”

Thẩm Uyên nhìn con bé, rồi quay sang nhìn Hứa Nghiên. Ông nâng chén nước lên uống, coi như mình không nhìn thấy gì.

“Ngoài bãi biển không có chó,” Thẩm Uyên nói.

“Thì sang nhà muội mà xem!”

Thẩm Uyên nhìn tờ giấy, lại nhìn con bé đang chờ, rồi lặng lẽ gác bút:

“Người kể chuyện cho nó đi.”

—

Một chiều nọ, mẹ Tiểu Đào ghé đón con, trong bọc còn gói mấy cái bánh được người ta chia ở miếu sau buổi lễ tạ ơn về. Tiểu Đào vừa thấy đã đòi ăn, bị mẹ đuổi đi rửa tay, nó nghe lời nhưng cái miệng vẫn không chịu nghỉ. Sáng nay theo mẹ đi ngang miếu thờ, nó thấy ngoài thềm đặt một bát cơm, người ta đứng chắp tay rất lâu rồi bỏ về, bát cơm cứ nằm đó tới nguội luôn mà chẳng ai ra nhận. Chuyện ấy hẳn nó để bụng từ sáng và giờ mới có dịp hỏi:

“Bát cơm ngoài miếu ấy để cho ai thế mẹ?”

“À, người ta cúng bái để phần cho người chết ngoài biển.”

“N-Nhưng người chết rồi thì về ăn sao được hả mẹ?”, Tiểu Đào hỏi, nghe ra giọng nó hơi run.

Mẹ nó ngồi xuống bên cạnh phủi phủi mấy hạt cát còn dính trên tay nó, rồi bắt đầu kể câu chuyện sự tích cá lớn đưa người chết về thăm nhà. Giọng Ngô tẩu lúc đầu bình thường lắm, nghe như kể chuyện hàng xóm, nhưng dần dần lại bớt bình thường…

Chuyện kể rằng, ngày đó có một thiếu phụ mất con trong một trận bão lớn. Người ta tìm mãi không thấy xác đứa con đâu. Thiếu phụ đợi một năm, hai năm, rồi nhiều năm mà vẫn chẳng có tin tức gì. Chiều nào bà cũng ra bãi ngồi đợi, đợi tới khi mặt trời chìm hẳn xuống biển. Nắng chiều kéo bóng bà ngả dài trên cát, vươn mãi về phía những đợt sóng, tựa hồ muốn đi trước bà ra khơi tìm con. Sóng vỗ vào, bóng tan. Ngày nào bà cũng lặp đi lặp lại như thế. Rồi một chiều kia, ngoài khơi có một con cá lớn vươn mình, tấm lưng đen in giữa vùng trời nước đỏ như máu. Người trên bờ còn đang chỉ trỏ nhau xem thì bà đã lặng lẽ quay vào nhà nhóm bếp, nấu món con trai thích nhất, dọn ra hai bát cơm, hai đôi đũa.

Tiểu Đào ôm gối ngồi nghe, tới chỗ kể hai bát cơm hai đôi đũa thì nuốt khan một cái, hai tay ôm gối chặt thêm.

Đêm ấy, hàng xóm nghe trong nhà bà có tiếng trò chuyện. Tiếng bà mừng rỡ, lúc thì cười, lúc lại trách sao đi lâu thế mà chẳng nhắn về lời nào để bà cứ mãi trông ngóng. Thỉnh thoảng bà ngừng lại rất lâu như đang lắng nghe ai đáp, rồi lại cười, lại gật gù, lại hỏi tiếp. Suốt đêm ấy cả xóm chỉ nghe mỗi giọng bà, và cánh cửa nhà bà vẫn cài then từ lúc chập tối.

Tới đây Ngô tẩu hạ giọng xuống, Hứa Nghiên chợt nhận ra mình đã hóng sang nghe cùng lúc nào không hay.

Sáng hôm sau, bà ra giếng gánh nước, gặp ai cũng kể con mình đã về. Mặt nó vẫn trẻ như hôm ra khơi, chẳng già đi chút nào cả. Chỉ có điều nó cứ nhìn mẹ mãi, nhìn mãi, như đang tìm người mẹ tóc còn xanh hôm tiễn nó ra bến thuyền. Nó tìm người đó suốt những năm tháng qua mà không còn thấy nữa. Tóc mẹ nó giờ đã bạc trắng cả rồi. Hai người ngồi chung mâm cơm mà lệch nhau cả một đời.

Đúng lúc ấy gió ngoài cửa lùa mạnh làm cửa gỗ đập vào khung đánh cạch một tiếng. Tiểu Đào giật nảy cả người, rúc hẳn vào lòng mẹ.

“R-rồi người đó đi đâu rồi mẹ?...” Giọng nó bé như tiếng muỗi.

“Người đó đã theo cá lớn về biển rồi. Bà bảo được gặp con một lần, thấy con đã ăn no rồi thì cũng yên lòng.”

Rồi Ngô tẩu ngâm mấy câu thơ vẫn được lưu truyền cùng sự tích ấy. Câu đầu còn tròn tiếng, sang câu thứ hai thì giọng đã run, tới câu cuối chỉ còn như tiếng gió lọt qua khe cửa:

Hoàng hôn rơi đáy mắt,
Ta đuổi bắt bóng mình.
Gửi bóng cho dương thế,
Hồn về biển lặng thinh…

Câu cuối tan đi rồi mà trong nhà vẫn chưa ai mở lời. Tiểu Đào mặt trắng bệch không còn giọt máu, hai tay túm chặt áo mẹ; bàn tay Ngô tẩu đặt trên vai con cũng chẳng vững hơn là bao. Trời ngoài kia đã ngả chiều, một vệt nắng đỏ lọt qua khe cửa nằm vắt ngang hai chén nước trên bàn. Hứa Nghiên nhìn vệt nắng ấy, chẳng hiểu sao gáy lạnh toát, rồi lại thấy mình thật chẳng ra làm sao. Ngoài năm mươi tuổi đầu, ôm sách cả đời, rốt cuộc lại để một câu chuyện kể cho trẻ con nghe làm cho dựng tóc gáy.

“Thôi, thôi!” Ông vội xua tay. “Tẩu kể kiểu ấy thì lũ nhỏ hồn bay phách lạc mất. Chuyện truyền qua trăm miệng nghìn tai, người thêm một câu, người bớt một chữ, tới giờ thật giả ai còn kiểm chứng được. Đến ông già này nghe còn rợn cả da gà huống chi trẻ con.”

Ngô tẩu bật cười, tiếng cười hơi méo, bảo thuở bé nghe bà ngoại kể tích này mình cũng sợ mất mấy đêm không dám ra sân.

Tiểu Đào ngoái đầu sang tìm đồng minh:

“Uyên ca ca cũng sợ phải không?”

“Không.”

Con bé nhìn hắn đầy ngờ vực, rồi túm áo mẹ chặt thêm:

“Muội cũng đâu có sợ.”

Hứa Nghiên biết nó sắp khóc rồi, nên ông càng không trêu nó, vì thuở nhỏ ông cũng từng có chung cảm giác đó với nó. Giờ tóc đã hoa râm mà nghe lại, cái sợ đã nhạt đi bớt rồi, còn cái thương thì càng lúc càng lớn hơn. Bao nhiêu buổi chiều ông đứng trên bãi này, đã quen với cái bóng dài lênh khênh của mình lúc hoàng hôn, nó cứ dẫn ông đi về phía biển. Ông bước tới một bước, nó lại đi trước một bước; đuổi theo tới chỗ sóng vỗ thì nó tan vào nước. Chuyện xưa đã khép lại, nó bảo rằng người mẹ đã yên lòng. Còn ông, ông biết rõ chỉ là bóng hình hư ảo, vậy mà lần nào nghe cũng mong người con ngồi lại thêm chút nữa, ít ra cũng ở với mẹ vài đêm cho bà vơi bớt nhớ mong rồi hẵng về với biển cả. Ông nghĩ tới mấy góc nhà bao năm nay mình chẳng nỡ xê dịch, rồi gạt đi không nghĩ nữa.

“Hứa tiên sinh, cá lớn có thật không?”, Tiểu Đào chợt hỏi.

“Cá lớn thì có thật. Người đi biển bao đời nay vẫn kể thấy chúng vươn mình lúc chiều tà. Ta chưa tận mắt thấy, nhưng mấy năm trước có vài mảnh xương dạt vào bãi phía nam, đốt xương nào cũng to bằng cái cối giã gạo, ta đã tới tận nơi xem.”

“Thế còn người về ăn cơm?”

Ông đưa mắt nhìn mẹ nó. Ngô tẩu cũng lắc đầu.

“Cái đó thì ta chưa gặp, cũng chưa thấy ai gặp thật,” ông nói. “Nhưng người ta vẫn để phần cơm. Nhớ người nhà thì có ai nỡ để họ về mà trong nhà chẳng có gì ăn.”

Lúc hai mẹ con ra về thì trời đã nhá nhem tối. Đường về làng chạy dọc bãi cát, phía trong là rặng phi lao, phía ngoài là biển. Mới ra khỏi cửa mấy bước, Tiểu Đào ngoái nhìn mặt nước đã sẫm lại rồi vội vòng sang phía rặng cây, đẩy mẹ ra phía biển. Mẹ nó cười mắng, sợ thì sợ chứ, sao lại đẩy mẹ ra chịu trận? Hứa Nghiên đứng ở cửa nhìn theo, gọi với dặn mai mẹ nó bận thì cứ dắt nó sang, ông còn nợ nó một câu chuyện. Lần này phải là chuyện vui, ông sẽ kể giữa trưa, lúc nắng thật to.

—

Đêm ấy Hứa Nghiên đi ngủ sớm. Ông còn lầm bầm trách mẹ Tiểu Đào chuyện gì không kể lại kể chuyện ma đúng lúc chiều tà, đã nằm xuống rồi mà nghe tiếng gió lùa còn trở dậy cài lại then cửa, cài xong một lúc lại dậy xem lần nữa cho chắc.

Thẩm Uyên nằm bên này vách, nghe tiếng ông trở mình thưa dần rồi chuyển thành hơi thở đều. Tiếng thở ấy hắn đã nghe suốt mấy tháng nay, nó nặng nề hơn vào những đêm trời trở rét, thỉnh thoảng lại ngừng hẳn khiến hắn phải nằm nghe cho tới khi nó tiếp tục đều đều trở lại.

Tích cá lớn kia hắn chưa nghe bao giờ, nhưng những chuyện dân gian na ná thì đã nghe nhiều, ở những bến bãi mà giờ chắc chẳng còn ai nhớ tên. Người mất thân nhân ngoài biển, không có nấm mồ để thắp nén hương, bao giờ cũng phải chừa cho biển một lối đưa người trở về. Chuyện chiều nay vốn hiền lành, chỉ có một người mẹ, một mâm cơm với một đêm trò chuyện, hiển nhiên hắn còn sợ gì trên đời này nữa. Hắn chỉ giữ lại một câu, câu mà mẹ Tiểu Đào phải hạ giọng mới kể nổi: gương mặt người con vẫn trẻ như hôm ra khơi.

Sự tích kể một người từ biển trở về, mặt không già đi chút nào. Còn hắn đã nằm dưới đáy biển lâu hơn đời người mẹ trong câu chuyện ấy, lâu hơn cả đời bà ngoại đã kể tích ấy cho mẹ Tiểu Đào nghe.

Tiểu Đào năm nay mới tám tuổi, mười năm nữa sẽ cao hơn cả mẹ nó bây giờ. Tới lúc ấy tóc mẹ nó đã điểm sương, Hứa Nghiên lưng sẽ còng thêm, đọc chữ nhỏ phải đưa sách ra xa, đi tới mỏm đá phải ngồi nghỉ đôi lần. Còn gương mặt hắn soi trong chậu nước rửa nghiên mười năm sau vẫn sẽ là gương mặt sáng nay, cổ tay vẫn trơn như chưa từng có vết thương nào. Biển đưa hắn tới sau một đêm bão, và con người từ trước đến nay vẫn luôn có sẵn nỗi sợ về những gì mình không thể hiểu được.

Khôn ngoan nhất là nên đi sớm, đi khi chuyện còn chưa kịp bắt đầu. Hắn biết thế, và cũng biết mình sẽ không đi. Những trang khảo cứu ngoài kia vẫn đang còn là những mảnh rời rạc, nhưng người ghi chúng biết khoanh tròn chỗ mình nghĩ sai mà không xóa đi, biết hỏi lại một câu cho tới khi có căn cứ mới chịu tin. Thứ gì đi qua tay một người như thế sẽ sống lâu hơn đời người. Hắn tự nhủ rằng chừng ấy là đủ lý do để mình ở lại. Còn nếu tới ngày người ta sợ thì cũng chả sao, hắn đã từng chịu nhiều hơn thế rồi.

Nhưng mấy tháng nay, hắn lại nhớ cả những chuyện chẳng dính dáng gì tới mấy trang khảo cứu, chuyện ông thích cháo nêm mặn hơn người khác một chút, cả chuyện đọc tới đoạn nào đắc ý là gõ tay xuống mặt bàn mấy cái.

Hắn vốn không quen nghĩ lại một chuyện đã định sẵn, vậy mà đêm nay lại nghĩ tới nghĩ lui mấy chuyện bên lề đó.

Bên kia vách, Hứa Nghiên ho mấy tiếng rồi lầm bầm gì đó trong mơ. Thẩm Uyên nghe ra một chữ “rong”, lại một chữ “cá”. Bữa cơm chiều qua, ông hứa sang xuân sẽ dẫn hắn ra mỏm đá đi câu, còn dặn trước chỗ ấy cá nhiều mà rong cũng lắm, sơ ý là mắc mất lưỡi câu. Đó chỉ là một lời hứa nói vu vơ bên mâm cơm, vậy mà hắn nằm đó nhẩm lại từng chỗ ông kể, nhẩm cho tới khi tự bắt gặp mình đang nhẩm mới thôi.

Đi câu không nằm trong những việc hắn cần làm. Hắn trở mình rồi quay mặt vào vách.

Sáng hôm sau, câu đầu tiên hắn hỏi Hứa Nghiên vẫn là sang xuân còn bao lâu nữa…

—

Đầu xuân, Hứa Nghiên giữ lời, rủ Thẩm Uyên đi câu thật. Suốt mùa đông, bữa nào trên mâm cũng chỉ có cá khô với cá muối. Tới cuối mùa, ngồi lâu đứng dậy là ông thấy choáng váng hoa cả mắt, chén nước bên bàn uống mấy cũng chẳng hết khát. Lưu đại phu bắt mạch xong lắc đầu, bảo ông cứ ăn mặn kiểu này thì chẳng cần đợi tuổi già, muối biển cũng ướp ông thành cá khô trước. Hôm Tiểu Đào khoe nhà bên vừa nấu canh cá, ông nuốt nước bọt ực một cái rồi vội làm như mình vừa ho. Chiếc cần câu cũ nằm dưới gầm giường lâu rồi, giờ lôi ra thì dây đã mục cả nên ông đành ngồi thay lại. Thẩm Uyên ngồi bên cạnh buộc lưỡi câu giúp, nghe ông kể chỗ câu sau mỏm đá nọ cách đây không xa lắm.

“Đi một lát là tới. Con muốn về sớm hay ngồi lâu? Ngồi câu mà nóng ruột thì chỉ có xách giỏ không về thôi.”

“Người thường ngồi bao lâu?”

“Chúng ta có cá thì về, không có cá cũng phải về. Ta đâu phải bậc cao nhân nhịn đói ngồi chờ thời, tới giờ cơm là phải về.”

Nói thì nói vậy, sáng hôm sau ông vẫn dậy từ lúc gà chưa gáy, tự tay nắm hai phần cơm gói lá, nhét thêm nắm cá khô vào giỏ, rõ ràng là đã định ngồi lì tới chiều nếu trời đẹp. Và trời đẹp thật. Ra tới bãi đã gặp nắng ấm, gió hiu hiu, mặt nước phẳng như tấm lụa ai trải ra phơi, ông càng không thèm nghĩ tới chuyện về sớm nữa. Ông dẫn hắn tới tảng đá quen, mặt đá đã mòn nhẵn sau bao năm ông ngồi một mình, rồi chỉ cho hắn cách móc mồi, cách thả dây. Thẩm Uyên làm đúng theo từng lời, cầm cần thẳng tắp, mắt không rời chiếc phao. Hứa Nghiên bảo hắn thả lỏng tay ra, cá dưới nước mà thấy hắn ngồi nghiêm túc nhìn chằm chằm thế chắc tụi nó cũng giật mình. Hắn nới tay được một chút, lát sau đã lại thẳng tắp như cũ.

Nắng lên cao mà chiếc phao vẫn chưa nhúc nhích lần nào. Hứa Nghiên tự hỏi có phải cá khúc này năm nay khôn hẳn ra hay sao. Ông ngó xuống giỏ cá còn trống trơn, lại ngó sang giỏ cơm còn nguyên, bắt đầu nghi ngờ rằng sáng nay mình vác hai chiếc cần ra đây chỉ để ngồi ăn cơm nắm.

“Có người buông câu mà đợi được vương hầu,” ông nói, “ta chỉ mong kiếm con cá nấu canh, chẳng hiểu sao cũng phải đợi lâu đến thế.”

“Người có muốn đổi chỗ khác không?”

“Đợi thêm chút nữa. Ta còn chưa chịu thua đâu.”

Thẩm Uyên nghe vậy thì lại ngồi chờ. Hứa Nghiên thích có người cùng chờ như thế. Ông có thể ngồi ngắm sóng cả một hồi lâu, chợt nhớ ra chuyện gì thì kể, kể chán lại im. Bao năm nay ông vẫn ra đây câu một mình. Một mình thì cũng yên thật, nhưng nó là cái yên của người câu được con cá to mà chẳng biết quay sang khoe ai, đoán trúng một trận gió cũng chẳng có ai để bảo “Đấy, ta đã nói rồi.”

Có lẽ trời thương ông già cứng đầu, chẳng bao lâu sau cá cũng chịu cắn câu. Ông được hai con nhỏ, Thẩm Uyên thì giật lên một con to hơn cả hai con của ông gộp lại, khổ nỗi lại để dây vướng vào đám rong dưới chân đá nên đành quay sang nhờ ông. Hứa Nghiên vừa xót cái lưỡi câu vừa sợ sổng mất con cá, miệng dặn luôn hồi đừng kéo mạnh, đừng kéo mạnh, người cúi rạp sát mặt nước, sóng hắt lên ướt sũng cả mặt mũi.

Tới lúc con cá nằm gọn trong giỏ, ông ngẩng lên đã thấy Thẩm Uyên đang cười. Mấy tháng nay hắn cũng có lúc cười, cười nhạt như sương sớm, vừa thấy đã tan, chứ chưa lần nào cười tới tận đáy mắt như lúc này, mà lại chỉ vì một con cá vướng rong. Ông bật cười theo, đầu tóc hai người nhỏ nước tong tong mà cũng không ai thèm để ý.

“Tiểu Uyên, lần sau con nhớ tránh chỗ có rong. Những nơi cá thích nấp thì dây cũng thích mắc.”

“Con nhớ rồi. Con này nấu canh có đủ không?”

“Đủ chứ đủ chứ! Nhưng còn hai con của ta nữa, mang về cho cẩn thận, đừng chỉ lo mỗi con lớn của con.”

Thẩm Uyên kéo giỏ lại xem thật, rồi nghiêm trang báo rằng ba con vẫn đủ, con lớn vẫn lớn nhất. Nghe cái giọng điệu ấy Hứa Nghiên biết ngay mình đang bị trêu. Ông chẳng buồn giữ vẻ bề trên nữa, hẹn hôm khác sẽ ra sớm hơn, lúc ấy con lớn nhất chưa chắc đã là của hắn.

Bữa trưa dọn ngay trên đá. Cơm nắm tuy đã nguội với miếng cá khô bẻ đôi chia cho nhau, vậy mà miếng nào cũng ngon hơn những bữa ăn một mình ở nhà. Hứa Nghiên bảo mình no rồi, đẩy nốt nắm cơm sang cho hắn. Chiều ấy chẳng câu thêm được con nào, hai người vẫn xách giỏ về nhưng lại vui như vừa được mùa, dọc đường cãi nhau linh tinh chuyện sách vở và chuyện tính xem mấy con cá nên hấp hay nấu canh.

Tối ấy, căn bếp nhỏ thơm lừng mùi đồ ăn. Hứa Nghiên đứng bên nồi nêm thêm chút muối rồi cứ nếm đi nếm lại. Thẩm Uyên đứng sau lưng ông từ lúc nào. Ông múc cho hắn một thìa, thổi cho nguội rồi mới đưa, nghe hắn bảo ngọt thì gật gù mãi ra chiều thỏa mãn lắm.

“Mai người còn muốn ăn không?”, Thẩm Uyên hỏi nhỏ.

“Có thì ăn chứ.”

“Vậy con để lại một con.”

“Ừ để lại đi, mai ta nấu cho con.”


Chương 2: Sóng ngầm

Thẩm Uyên ngồi chung bàn làm việc với Hứa Nghiên thấm thoắt đã được nửa năm, mảnh ngói chêm dưới chân bàn vẫn cứ vài bữa lại rớt ra một lần. Có lúc ông đang viết dở một dòng thì mảnh ngói lọt ra, nghiên mực nghiêng theo làm loang mất nửa trang giấy viết từ sáng, thế là ông lại phải gác bút mà cúi xuống gầm tìm. Người quen tới chơi ai cũng bảo ông thay hẳn cái bàn khác cho đỡ khổ, lão Giang chủ thuyền ở bến còn hứa đóng cho ông một cái bàn bằng mấy tấm gỗ thừa. Ông cảm ơn rồi cứ khất lần này đến lần khác, tới giờ đã là mấy năm trôi qua rồi. Sửa hay mua cái mới thì ông đều có thể, chỉ là ông không nỡ.

Có Thẩm Uyên ở bên, ông cũng bớt than, vì cứ than thở mãi trước mặt người trẻ thì còn ra thể thống gì. Chỉ khổ cái lưng già này chẳng chịu giữ thể diện cho ông. Từ hôm cõng hắn ngoài bãi về, lần nào cúi xuống nhặt mảnh ngói nó cũng nhói lên một cái, ông lại phải chống tay lên bàn mà xuýt xoa. Được mấy lần như thế thì ông vừa cúi xuống, mảnh ngói đã chẳng còn dưới đất nữa. Thẩm Uyên nhặt từ lúc nào để kê lại vào chân bàn rồi cúi đầu viết tiếp. Ông ngồi thẳng lưng dậy, hắng giọng định nói câu gì cho phải nhưng nghĩ một hồi chẳng ra câu nào, đành nhấc ấm rót thêm cho hắn chén trà.

Hôm ấy ông vào làng giao sách từ sớm rồi bị lão Giang giữ lại ngồi uống thêm mấy chén ngoài bến thuyền. Ông ngồi đấy mà lòng cứ để cả ở nhà, lão kể chuyện gì ông cũng chỉ gật gù cho phải phép. Lúc về ông mua được mấy con cá vược, cứ nghĩ tới tối nay nấu cho Tiểu Uyên, hắn mà ăn thêm được nửa bát thì cũng đáng công ông đứng mặc cả cả buổi, nên vừa về chưa tới cửa ông đã cất tiếng gọi vào:

“Tiểu Uyên, hôm nay có cá…”

Tiếng gọi chợt tắt ngang giữa chừng. Cái bàn dưới cửa sổ đã đứng vững trên bốn chân, mặt gỗ được mài nhẵn lại, và mảnh ngói dưới chân bàn chẳng còn thấy đâu nữa. Bàn tay ông tự tìm lên góc bàn phía trong nơi ông vẫn quen xoa xoa mỗi lúc ngồi suy nghĩ mấy trang khảo cứu, mà giờ đây chỉ chạm phải mặt gỗ trơn láng. Nó ngay ngắn và phẳng phiu quá, ngay ngắn tới mức ông không còn nhận ra đây là cái bàn mình đã dùng suốt bao năm qua… Lòng ông hẫng đi một nhịp, giỏ cá trên tay đã buông thõng xuống từ lúc nào không hay.

Thẩm Uyên nghe tiếng gọi đã vội từ dưới bếp đi lên, tay còn chưa kịp lau. Thấy ông đứng lặng bên bàn, hắn theo ánh mắt ông nhìn xuống mặt gỗ vừa mài nhẵn rồi nói:

“Chân bàn là con sửa lại.” Thẩm Uyên có vẻ hơi ngập ngừng, “Chỗ sần ấy con cũng sửa, giấy trải lên sẽ không rách nữa.”

Hắn nói xong thì đứng đó mà chờ, mà ông thì cũng biết hắn chờ gì. Hắn thấy ông mệt mỏi với cái bàn này bao lâu nay nên nhân lúc ông đi vắng mà sửa cho xong, để ông về được vui. Ông cũng muốn vui, nhưng mà cổ họng cứ nghẹn lại, mở miệng ra chỉ hỏi được một câu:

“Mảnh ngói đâu?”

“Con thay bằng gỗ rồi.”

“Ai bảo con thay?”

Thẩm Uyên im lặng nhìn bàn tay ông còn đặt trên góc bàn. Ông nhìn theo, tự thấy câu mình vừa hỏi chẳng có lý gì. Ai bảo ư? Người ngày nào cũng ngồi than thở cái bàn ấy là chính mình chứ còn ai…

“Ta có nói gì thì cũng là việc của ta.” Lời đã ra rồi thì cứ thế tuôn theo không giữ lại được. “Đây là nhà ta. Đồ đạc trong nhà ta, con muốn sửa thì cũng phải hỏi ta một tiếng chứ, sao lại tự tiện như thế?”

Câu ấy vừa ra khỏi miệng là ông đã muốn rút lại. Nửa năm nay hắn ăn cơm ông nấu, viết sách cùng ông, lại còn ngủ trên chiếc giường ông kê sang nơi có nắng chiều, vậy mà vừa rồi ông lại dùng hai chữ kia như muốn đẩy hắn ra khỏi cửa.

Thẩm Uyên đứng yên rất lâu, hai bàn tay còn ướt buông nhẹ bên người:

“Con không biết người muốn giữ nó.”

Hắn nói xong thì đi ra ngoài. Cánh cửa gỗ ngấm hơi muối rít qua khung một tiếng dài như mọi lần, vậy mà hôm nay âm thanh ấy cứ vang mãi trong tai ông, tới khi đã tắt hẳn rồi mà chân ông vẫn chưa nhấc lên nổi.

Chưa tàn một tuần trà, cánh cửa lại mở ra lần nữa. Thẩm Uyên quay về ngồi vào chỗ của mình bên chiếc bàn vừa sửa mà viết tiếp trang sách còn dang dở từ sáng. Gương mặt hắn vẫn lặng lẽ như thường ngày, cái buồn ban nãy thoáng qua tựa như mặt nước vừa gợn mấy vòng lăn tăn, không bao lâu đã phẳng lặng như cũ. Vậy mà ông nhìn hắn lại càng chẳng yên. Thà rằng hắn cứ dỗi ông một câu hay đi biệt tăm tới tối mới về, thì ông còn có cớ mà dỗ, đằng này hắn cứ ngoan như thế…

Bữa tối ông hấp cá, tâm tư để tận đâu đâu nên rắc muối quá tay mà không để ý. Thẩm Uyên vẫn ăn hết hai bát, cá mặn đến thế mà cũng không chê câu nào. Ông gắp miếng cá còn lại trong đĩa bỏ vào bát mình, cổ họng cứ nghèn nghẹn khó nuốt.

Đêm ấy ông thắp đèn ngồi lại bên bàn một mình tới tận canh khuya. Bà ấy ra đi đã ngần ấy năm, vậy mà tới đêm nay ông mới thấy bà đi thật, thậm chí cái mốc bà dặn ông giữ cũng chẳng còn…

Thằng bé thì làm sao mà biết được? Ngày nào ông cũng ngồi trước mặt hắn mà mắng cái bàn như mắng đồ bỏ đi, tới khi hắn sửa giúp thì ông lại quay ra trách móc. Từng này tuổi đầu rồi mà còn đi giận dỗi một đứa trẻ vì một chuyện cỏn con, nói ra chỉ tổ khiến người ta cười… Mãi tới khi tắt đèn nằm xuống, ông vẫn dỏng tai nghe bên kia vách không biết hắn đã ngủ chưa.

Sáng hôm sau ông dậy từ lúc trời còn mờ sương, nấu một ít cháo rồi ngồi chờ. Câu xin lỗi ông đã nghĩ mấy bận suốt đêm qua, vậy mà lúc Thẩm Uyên bước ra, ông chỉ nói được vỏn vẹn vài chữ:

“Hôm qua là ta hơi nóng.”

Ông đẩy bát cháo sang cho hắn, ngập ngừng mãi mà vẫn chưa biết nói gì thêm, đành kể từ chuyện cái bàn:

“Cái bàn này là kỷ vật của vợ chồng ta ngày xưa. Hồi ấy trong nhà chỉ có mỗi nó, có dùng bữa hay làm việc gì cũng ngồi ở đó. Ta thì ngồi bên này viết sách, bà ấy thì ngồi bên kia khâu vá y phục thuê cho người trong thôn. Sách vở của ta bề bộn cứ lấn dần sang bên đó nên bà ấy không còn chỗ mà làm. Bà đẩy sách lại rồi hỏi sách của ông có dạy khâu áo không mà chiếm lắm chỗ thế. Ta mới bảo người xưa đã dạy rồi, trong sách tự có nghìn chung thóc.” Ông bật cười. “Bà ấy cũng chẳng thèm cãi mà đi thẳng xuống bếp đặt một quyển lên nắp chum gạo, đùa rằng vậy tối nay ông lấy thóc trong sách ra mà nấu đi.”

Tới chuyện cái chân bàn thì ông kể chậm hẳn đi. Có một năm mưa dầm, chân bàn mục ruỗng mất, ông và bà tự sửa lấy cho tiết kiệm nhưng rốt cuộc hai người sửa thế nào mà làm chân bàn hụt mất một đoạn, góc mặt bàn lại còn sứt thành một vệt sần xước dăm. Hai người vừa mệt vừa buồn cười mình hậu đậu quá, nên bà mới lấy một mảnh ngói vỡ chêm vào tạm. Thấy ông tiếc cái góc bàn mấy hôm, bà mới sờ lên vệt sần mà bảo thôi để nguyên làm mốc cũng được, từ nay sách của ông không được lấn qua chỗ này.

“Cho nên bao nhiêu năm nay trải giấy ra là ta cứ chừa chỗ ấy lại,” ông nói. “Bà ấy đi rồi mà ta vẫn chừa. Quen tay mất rồi…”

Ông cúi xuống bát cháo cho khỏi phải ngẩng lên thì mới hay cháo đã nguội đi quá nửa, bát bên kia của Thẩm Uyên cũng chưa vơi được mấy. Đã định xin lỗi hắn cho tử tế, vậy mà ông lại ngồi kể chuyện bà từ nãy tới giờ.

“Ngày nào ta cũng chê bai nó, đến lúc con sửa cho thì ta lại quay ra trách con, thật chẳng ra làm sao cả...”

“Con cũng không hỏi người trước,” Thẩm Uyên nói. “Lần sau con sẽ hỏi.”

Ông còn chưa kịp đáp, hắn đã ra bậu cửa sổ lấy về một vật, đặt xuống cạnh bát cháo của ông:

“Cái này con chưa bỏ.”

Hứa Nghiên nhận ra ngay mảnh ngói cũ dưới chân bàn, trong lòng chợt thấy vừa vui vừa thương, ông đứng dậy đem cất cẩn thận vào hộp kim chỉ của bà dưới đáy rương.

Còn Thẩm Uyên thì từ hôm ấy làm gì cũng hỏi trước thật. Hỏi tới mức ông phát mệt! Cái chum nứt chân có được trát lại không, mấy viên ngói dột trên mái có được thay không, mấy cái ống tre treo trên vách ông còn dùng nữa không. 

Có hôm hắn cầm chổi đứng giữa nhà, nghiêm trang hỏi ông mấy chiếc lá khô gió cuốn vào gầm bàn có cần giữ lại không.

“Lá thì con cứ quét,” Hứa Nghiên gác bút. “Bà nhà ta có thương thứ gì thì cũng chưa từng thương lá khô.”

Hắn gật đầu, quét. Quét xong, hắn lại đứng trước cánh cửa sổ phía đông đã kẹt từ lâu, đứng lâu tới mức ông đoán ra hắn sắp hỏi gì.

“Cái đó thì để ta nghĩ đã,” ông nói trước.

—

Sang năm thứ hai, Tôn tiên sinh đích thân xuống nhà Hứa Nghiên lấy sách. Lão buôn sách ở làng trên, nơi có sông lớn đổ ra biển, nhà lão có một tòa lầu chứa sách mà người trong vùng hay gọi đùa là cái thư khố lớn nhất thiên hạ. Mọi lần lão chỉ sai người nhà theo thuyền xuống mang tiền tới rồi mang sách đi, lần này lại tự mình sang tận nơi, ngồi ngoài hiên lật mở từng trang bản viết mới, lật chậm tới mức Hứa Nghiên ngồi bên cạnh mà sốt cả ruột.

“Lão Hứa, mấy cái này ai viết vậy?”

Hứa Nghiên hất hàm vào trong nhà, nơi Thẩm Uyên đang lom khom thổi bếp.

Bữa trưa lão ở lại, ăn chưa hết bát cơm đã quay sang hỏi Thẩm Uyên về một đoạn chú giải mà lão với Hứa Nghiên cãi nhau mấy năm nay chưa ai chịu ai. Hắn đáp lời, lão vặn lại, qua mấy lượt như thế thì lão ngồi im, đũa gắp miếng cá mà mãi vẫn chưa đưa lên miệng. Hứa Nghiên ngồi bên cạnh, ngoài mặt vẫn điềm nhiên mà trong lòng khoái chí vô cùng. Cãi với lão hai mươi năm nay mới thấy lão cứng họng một lần. Lão Tôn đặt đũa xuống tặc lưỡi mấy cái mà bảo ông giấu của quý kỹ quá, ông nghe lại càng đắc ý. Mãi tới chiều, đợi Thẩm Uyên ra sau nhà dọn dẹp, lão mới nói thẳng:

“Lão Hứa này, lầu sách nhà ta thiếu một người hiệu đính, ông cũng biết rồi đấy. Một bản sách qua tay ba bốn người mà vẫn sót chữ, thuyền nhà ta lại chở sách đi tận phương bắc, sai một chữ là sai theo cả trăm bản.” Lão nhấp một ngụm trà rồi mới nói tiếp. “Đứa nhỏ nhà ông mà chịu theo ta, ăn ở ta lo hết, tiền công gấp ba ở đây, sách trong lầu muốn đọc bộ nào cứ việc đọc. Ta không đến tranh người với ông, chỉ là thấy tiếc thôi, ngọc tốt mà vùi trong cát đá thì uổng lắm. Nửa tháng nữa thuyền nhà ta lại xuống đây, nếu Thẩm Uyên nghĩ thông thì cứ theo thuyền mà lên.”

Hứa Nghiên vẫn giữ nụ cười, rót thêm trà cho lão mà lòng thì cứ chùng xuống từng chút một. Lão Tôn nói đâu có sai, làng trên có lầu sách, có người đọc, có thuyền chở sách đi khắp nơi, còn bãi biển này có gì đâu ngoài một lão già với mấy chồng sách mùa mưa nào cũng mốc thêm một ít. Quen nhau hai mươi năm, ông biết lão là người tử tế, chưa từng bạc đãi ai. Tiểu Uyên giỏi như thế, giữ nó lại đây mới thật là có lỗi với nó…

Đêm ấy ông ngồi với Thẩm Uyên bên bàn, kể cho hắn nghe chuyện làng trên, nào lầu sách nhà họ Tôn, nào đường thuyền tới cửa sông phải đổi ở bến nào. Ông kể kỹ lắm, kỹ như dặn dò người sắp đi xa, kể tới chỗ đổi thuyền thì tự dưng quên mất mình định nói gì.

“Ở đây con chỉ viết sách cho mỗi mình ta,” ông nói. “Lên đó rồi thì người khắp nơi được đọc chữ con viết. Con cứ nghĩ cho kỹ, ta không giữ đâu.”

Mấy câu ấy ông đã nghĩ sẵn từ chiều nên nói ra rất trơn tru, chỉ có câu sau là ông không hề định nói, vậy mà miệng đã buột ra trước:

“Con đi thì nhà cửa lại rộng rãi.”

Nói ra rồi ông mới giật mình, sợ hắn nghe thành lời trách nên mới vội xua tay:

“Ta ở một mình hơn chục năm rồi, quen cả rồi. Con đừng vì lão già này mà ở lại.”

Gần nửa tháng chờ thuyền họ Tôn kia, ông không hỏi thêm câu nào. Hỏi thì sợ thành ra nài nỉ hắn ở lại, mà không hỏi thì đêm nào cũng nằm trở mình tới gà gáy. Có điều mấy hôm ấy, ông thấy Thẩm Uyên cứ quanh quẩn bên mình nhiều hơn mọi khi.

Từ hồi Lưu đại phu dặn ông bớt ăn mặn, nồi cháo buổi sáng đã thành việc của hắn. Hắn nấu nhạt dần, nhạt khéo tới mức ông chẳng hay biết gì, mãi tới một sáng vừa húp thìa đầu, ông mới đặt bát xuống mà nheo mắt nhìn hắn:

“Con nói thật đi, lão Lưu trả con bao nhiêu mà con đứng về phía lão thế?”

“Lưu đại phu không trả gì cả.”

“Thế thì càng đáng ngờ.” Ông húp thêm một thìa, vừa húp vừa lắc đầu. “Người xưa ăn nhạt là để tu thân, còn ta nào có tu gì đâu.”

Ông than thở thì cứ than, sáng hôm sau cháo vẫn nhạt như cũ, nhưng đến bữa cá thì phần ngon nhất bao giờ cũng đã nằm sẵn trong bát ông.

Mấy đêm ấy, Thẩm Uyên nằm bên này vách nghe ông trở mình, trở mình mãi tới khi sóng ngoài bãi biển đã lặng. Lầu sách ấy là chỗ tốt hơn, càng tốt hơn cho thứ hắn muốn làm, hắn thừa hiểu chuyện đó. Vậy mà cứ nghĩ đến lầu sách thì hắn lại nghĩ sang nồi cháo sáng mai, nghĩ xem nấu nhạt thêm chút nữa thì ông có còn chịu ăn hết bát không.

—

Chiều hôm trước ngày thuyền họ Tôn xuống, Hứa Nghiên lên bến rồi nấn ná ở đó mãi, hỏi lão Giang từ chuyện con nước lại sang chuyện thuyền bè, thật ra chỉ là chưa muốn về. Vì về thì thể nào cũng phải nghe câu trả lời, mà câu nào ông cũng sợ… Tới lúc chịu cất bước thì trời đã tối hẳn, gió lùa qua bãi lạnh buốt. Đi gần tới nhà, ông bỗng thấy trước cửa có một đốm đèn, đứng lặng giữa gió nhìn mãi mới dám tin là đèn nhà mình. Bao nhiêu năm một mình đi về trên con đường cát này, chưa tối nào có ai thắp đèn đợi ông.

Thẩm Uyên cầm đèn đứng ở bậc cửa, chẳng biết đã đợi từ bao giờ. Ông định mắng hắn đứng giữa gió làm gì cho lạnh nhưng mắng chưa được nửa câu đã bật cười. Hắn đợi ông tới gần rồi mới nói:

“Con muốn ở lại đây.”

“Con nghĩ kỹ chưa đấy? Chỗ tốt như thế, đâu phải năm nào cũng có người tới tận nhà mà mời.”

“Con nghĩ rồi.”

Lẽ ra ông nên khuyên thêm mấy câu nữa mới phải đạo, vậy mà trong lòng chỉ thấy mừng, rồi chính ông cũng cảm thấy thẹn với mình… Ông quay mặt ra phía biển, lẩm bẩm trách gió phương bắc năm nay buốt quá, thổi tới cay cả mắt, rồi giục Thẩm Uyên mau vào nhà kẻo lạnh.

Khuya hôm ấy ông ngồi viết thư từ chối lão Tôn:

"Tôn huynh, đa tạ huynh đã có lòng xuống tận bãi bắc. Chuyện huynh ngỏ lời hôm trước, ta để thằng bé tự nghĩ, nghĩ xong nó bảo muốn ở lại. Lời mời tốt như thế, cả vùng này chẳng tìm được chỗ thứ hai, ta biết, nên ta không dám nhận thay nó mà cũng không dám khuyên nó đổi ý nữa. Mong huynh lượng thứ.

Huynh bảo ngọc tốt vùi trong cát đá thì uổng, câu ấy ta nghĩ mấy đêm vẫn thấy huynh nói chí phải. Có điều viên ngọc này chẳng chịu nằm yên trong cát bao giờ. Sách trong nhà ta nó đọc hết từ mùa trước, giờ đọc sang cả cuốn sổ ghi tiền gạo, đọc xong còn bảo ta tháng ba năm ngoái cộng sai mất mười đồng. Trời sắp mưa thì sách phơi ngoài hiên đã được ôm vào trước, ta còn chưa kịp ngẩng lên xem mây đen kéo tới đâu rồi. Áo ta rách chỗ khuỷu tay, sáng ra đã thấy vá, đường may còn đều hơn bà nhà ta ngày trước, câu này huynh đừng kể với ai. Học trò trong lầu sách nhà huynh đông là thế, có đứa nào dậy trước thầy mà nhóm bếp chưa…"

Viết tới đó ông mới dừng bút đọc lại từ đầu, đếm ra đoạn từ chối chỉ được có mấy dòng, còn lại toàn là chuyện thằng bé. Ông ngồi cười một mình dưới đèn rồi cứ để nguyên thế mà gấp lại. Sáng hôm sau thuyền họ Tôn xuống rồi lại đi, chở về làng trên một lá thư thay cho người. Tối ấy ông nấu canh cá, phần ngon nhất gắp vào bát Thẩm Uyên trước, ông gắp nhanh tới mức hắn còn đang ngơ ngác chưa kịp nhấc đũa.

—

Sang mùa đông năm thứ ba, sau một buổi chiều đội mưa ra bãi biển xem con nước, Hứa Nghiên về nhà thì bắt đầu ho. Ông bảo chỉ là ho vặt thôi vì người già ai mà chẳng ho, uống bát canh gừng là khỏi, vậy mà sáng hôm sau đã sốt hầm hập. Ông vẫn cố ngồi dậy kéo bản viết còn dang dở lại gần, bảo rằng gắng thêm mười tờ nữa cho kịp chuyến thuyền đầu tháng, vì lỡ chuyến này thì lão Tôn lại tưởng ông chết rồi. Viết chưa hết nửa tờ thì tay run, một giọt mực rơi xuống loang tròn giữa trang giấy. Ông nhìn vệt mực ấy, trước còn tiếc tờ giấy, sau mới thấy chột dạ, rồi lại tự cười mình, già rồi thì tay cũng già theo chứ có gì to tát đâu.

Lưu đại phu bắt mạch xong chẩn đoán là phong hàn nhập phế, phải uống thuốc nằm yên nửa tháng, đừng thấy đỡ mà ngồi dậy ngay.

“Bệnh đến như núi lở, bệnh đi như rút tơ,” Lưu đại phu vừa nói vừa liếc chồng giấy bên gối. “Ông mà còn đụng vào đám sách kia, sợi tơ này ta không rút cho nữa đâu nhé.”

Đợi Thẩm Uyên tiễn lão ra cổng, ông lén kéo chồng giấy vào sát chăn thêm một chút, nghe tiếng chân hắn quay vào thì vội nhắm mắt giả vờ như đang ngủ. Hắn ngồi xuống bên giường, lặng lẽ ôm cả chồng giấy sang phía mình.

“Để con viết,” Thẩm Uyên nói. “Người đọc cho con.”

Ông mở mắt định cãi mà bản gốc đã nằm sẵn trong tay mình rồi, đành nằm tựa gối mà đọc cho hắn viết. Người còn đang sốt nên có chỗ ông đọc nhầm, Thẩm Uyên cũng không nhắc vội mà chỉ ngừng bút chờ ông tự nhận ra. Ốm thì ốm chứ cái miệng ông vẫn chưa chịu nghỉ, hết chê mực mài loãng lại chê chữ “thủy” con viết nét móc dài quá, người ta nhìn vào lại tưởng nước tràn. Hắn nghe hết nhưng chỗ nào nên sửa thì sửa, chỗ nào thấy không cần thì cứ để nguyên y vậy. Nằm nghe tiếng bút sột soạt bên giường, ông nghĩ thầm mình dạy thằng bé viết chữ, ai ngờ nó học luôn cả cái tính cứng đầu cứng cổ của mình.

Được mấy hôm, ông đòi lại việc mài mực vì thấy nằm mãi thế này thì gân cốt cũng rã rời cả. Thẩm Uyên nghĩ một lúc rồi cũng đưa thỏi mực cho ông. Thế là ông tựa gối mài còn hắn ngồi bên viết, nghiên mực kê trên chiếc kỷ nhỏ sát giường, mùi mực lẫn với hơi thuốc sắc còn vương mãi trong gian nhà, ông nằm lâu ngửi suốt nên quen dần, đâm ra lại thấy dễ chịu.

Đến khi trong người nhẹ nhõm hơn, ông lại bắt đầu nhấp nhổm, muốn ra ngoài hiên ngồi ngắm biển một lát cho khuây khỏa.

“Ngoài ấy gió còn lạnh,” Thẩm Uyên nói, tay vẫn viết. “Cái lạnh lúc giao mùa là thứ người ta dễ coi thường nhất, mà cũng dễ quật ngã người mới bệnh dậy nhất. Người khoác thêm áo rồi hãy ra.”

Hứa Nghiên đang chống tay ngồi dậy, nghe tới đó thì khựng lại giữa chừng:

“Câu đó nghe quen lắm.”

Những đêm ấy, Thẩm Uyên nằm bên này vách nghe ông thở. Tiếng thở ấy hắn đã quen từ những đêm đầu mới ở đây, nó đều và chậm, giờ thì nặng nhọc, có lúc tắc lại giữa chừng rồi vỡ ra thành một tràng ho dài. Thuốc của Lưu đại phu mấy ngày thì ngấm, người già sau trận phong hàn phải bao lâu mới hồi phục hắn đều biết cả, thế nhưng đêm nào nghe tiếng ho, hắn cũng sang ngồi mãi bên giường ông.

Có đêm ông tỉnh giấc, thấy hắn còn ngồi đó thì hỏi sao con chưa ngủ. Hắn bảo con đợi trời sáng. Ông cười đáp rằng trời sáng thì nó tự sáng chứ đâu cần ai đợi, nói chưa dứt câu đã lại thiếp đi, bàn tay nắm vạt áo hắn vẫn còn nóng hổi vì sốt. Thẩm Uyên ngồi yên tới khi ngoài trời hửng sáng.

—

Sau trận ốm ấy, lần đầu ngồi lại được bên bàn, Hứa Nghiên mới thấy đầu bàn phía nam từ lúc nào đã thành chỗ của Thẩm Uyên, nghiên mực của hắn đặt ở đó và bên cạnh là chiếc rương nhỏ đựng mấy quyển sách hắn tự mua bằng tiền công. Sách lão Tôn gửi theo thuyền xuống có bản nào khó lão đều ghi ngoài bọc mấy chữ “nhờ thằng bé xem giúp”. Lần nào cầm bọc sách ấy lên ông cũng hừ một tiếng, bảo lão già ấy giờ chẳng còn tin chữ của ta nữa, rồi lần nào cũng đem đặt ngay ngắn lên phía Thẩm Uyên ngồi. Tiền công hắn kiếm được đỡ đần cho nhà cửa không ít, Hứa Nghiên bớt hẳn việc viết thuê, nên mùa đông năm ấy, lần đầu sau từng đó năm, ông có trọn một tháng chỉ ngồi đọc những quyển sách mình thích. Đọc tới đoạn hay ông lại quay sang đọc to cho hắn nghe. Hắn vẫn viết nhưng viết chậm hẳn đi.

Còn cánh cửa sổ phía đông thì ông nghĩ lâu lắm. Từ cái hôm buột miệng bảo để ta nghĩ đã, ông nghĩ một mạch mấy năm liền, mãi tới một tối ăn cơm xong mới chịu kể cho hắn nghe. Ngày trước bà nhà thích ngồi bên cửa ấy mà khâu vá, nắng phía đông rọi vào vừa đủ sáng mà không chói chang, nhìn rõ từng đường kim, ông rất thích vừa làm việc vừa thỉnh thoảng nhìn sang ngắm hình ảnh bà ngồi giữa ánh sáng ấy. Bà đi rồi, ông không mở cửa ấy nữa. Gỗ ngấm hơi biển lâu ngày nên kẹt cứng, ông cũng mặc kệ nó kẹt.

“Ta muốn mở lại,” ông nói. “Bà ấy mà biết ta để nó kẹt bao lâu nay, thể nào cũng mắng ta lười.”

Thẩm Uyên sửa cánh cửa ấy mất ba buổi sáng, buổi nào ông cũng chẳng chịu ngồi yên, đứng bên giữ cửa mà chỉ trỏ đủ thứ, có lúc còn giành lấy cái đục đục được mấy nhát thì lệch, lại bị hắn lấy về. Ông bảo lệch thế mới có hồn, hắn bảo có hồn nhưng cửa không khép được, ông lại cười hề hề.

Đến sáng ngày thứ tư thì cánh song phía đông đã mở được, nắng mai theo khung cửa rọi vào nơi bà ngồi thuở trước. Ông vẫn tưởng thấy lại chỗ ấy thì lòng sẽ đau lắm, vậy mà nắng tràn vào rồi ông chỉ thấy ấm áp. Ông đem chiếc ghế mây cũ của bà ra kê giữa vạt nắng rồi ngồi xuống bên cạnh, còn Thẩm Uyên tựa lưng kế bên ông. Chiếc ghế để trống giữa hai người, tựa như bà vừa đứng dậy đi lấy cuộn chỉ thêu rồi chút nữa sẽ quay về. Sáng ấy hai người dọn cháo ra ăn bên song cửa, ông cảm thấy cháo ăn dưới nắng thì cũng đỡ nhạt đi nhiều.

—

Cuối năm ấy ông nhất định tự lên phiên chợ trong làng sắm đồ đón năm mới, vì ông bảo để Tiểu Uyên đi một mình thì người ta bán gì nó mua nấy, không biết mặc cả là gì. Tới gian hàng bán giấy ở đầu chợ, ông lật từng xấp giấy hồng mà ngắm nghía mãi chưa ưng. Bà bán giấy quen tính ông đã lâu nên cũng chẳng buồn thúc giục, quay sang hỏi chuyện người trẻ đứng sau lưng ông:

“Tiểu ca đây là người nhà tiên sinh à?”

“Con trai ta,” Hứa Nghiên đáp, tay vẫn lật xấp giấy hồng. “Bà chọn giúp ta mấy tờ màu son, năm nay nhà ta dán câu đối mới.”

Dứt lời rồi ông mới chợt nhận ra mình vừa nói gì, tay đang lật giấy cũng chậm hẳn lại, mà chẳng dám quay đầu xem Tiểu Uyên có nghe thấy hay không.

Bà chủ gian hàng thì chẳng thấy có gì lạ, cứ cười cười khen con trai tiên sinh trông mặt mũi sáng sủa quá rồi chọn cho ông mấy tờ giấy son đẹp nhất. Trả tiền xong ông mới sực nhớ ra mình quên cả mặc cả. Thẩm Uyên đứng sau lưng đỡ lấy xấp giấy ôm vào lòng cho gió khỏi làm nhàu.

Suốt đường về ông nói luôn miệng, hết chuyện giá gạo lại sang chuyện gió phương bắc năm nay về sớm, chỉ cốt không để lặng đi lúc nào. Thẩm Uyên cũng chẳng hỏi gì mà chỉ bước chậm lại cho vừa với bước chân ông.

Mấy tháng sau Thẩm Uyên ra bến thuyền giao sách một mình, mà chuyện ở bến hôm ấy phải nửa tháng sau ông mới biết qua miệng lão Giang. Lão ngồi uống trà ngoài hiên mà kể rằng thuyền lão mới có tay chèo người nơi khác tới, chưa biết ai với ai nên vừa đỡ bọc sách lên thuyền vừa hỏi tiểu ca là gì của Hứa tiên sinh.

“Thằng bé đáp ngay, ta là con trai ông ấy.” Lão Giang nhấp ngụm trà rồi cười khà khà. “Tên kia lại bảo con trai gì mà nhìn không giống cha nét nào cả, Tiểu Uyên nó bảo ‘chữ thì giống’. Ta đứng trên thuyền nghe mà buồn cười quá.”

Hứa Nghiên cười theo lão rồi tiễn lão ra tận cổng, tiễn xong cũng chẳng vào nhà mà cứ thế đi thẳng ra bãi biển. Chiều ấy biển lặng, ông đứng nghe sóng vỗ nhè nhẹ vào chân mình cho tới khi Thẩm Uyên ra gọi về ăn cơm. Hắn hỏi người ra đây làm gì thì ông bảo ra xem con nước, mà con nước hôm ấy nào có gì đáng xem?

—

Tới năm thứ bảy, cuốn sổ ghi chép về biển của Hứa Nghiên đã dày gấp đôi cái ngày Thẩm Uyên mới tới. Thuở đầu nó chỉ là mấy trang ông ghi vội sau mỗi chuyến đi, chữ chen nhau mà hình vẽ thì lem nhem. Về sau trong sổ có thêm nét chữ của hắn, chỗ nào hai người còn chưa ngã ngũ thì ông viết đủ lời cả đôi bên rồi ghi chú bên lề là chưa chắc chắn. Ông bảo người đời sau đọc tới đó sẽ biết người xưa đã từng nghĩ những gì, chứ không chỉ biết người xưa kết luận ra sao. 

Cuối hạ năm ấy, hai cha con ngồi mãi bên một dòng ghi chép về những đợt nước cuối hạ dâng cao hơn thường lệ ở phía nam mỏm đá. Ông muốn ghi rằng nước dâng cao là do gió nam thổi dồn, vì ba năm liền ông đều thấy thế, vậy mà ngòi bút vừa chạm vào giấy lại ngập ngừng, rốt cuộc ông vẫn quay sang hỏi hắn.

“Năm thứ hai gió nam yếu hẳn mà nước vẫn dâng quá vạch cũ,” Thẩm Uyên nói.

“Ừ nhỉ…” Ông ngẩn ra một chút rồi bật cười. “Con nhớ dai thật đấy. Thôi, cứ ghi bên lề là chưa chắc vậy.”

Ông vừa ghi xong thì dưới bếp nồi cơm đã sôi trào, vội vàng chạy xuống mà còn ngoái lại dặn với:

“Chiều nay nước lên thì con ra xem giúp ta một chuyến, tối về ta với con tính tiếp.”

Chiều hôm đó, ông lên làng lấy giấy còn Thẩm Uyên thì ra bãi xem con nước như lời ông dặn dò, dẫu nước phía nam dâng cao vì đâu hắn vốn đã biết từ lâu. Lúc hắn quay về thì trời đã trở gió, ngoài khơi tối sẫm lại mà trong nhà ông thì đã lên đèn. Cánh cửa gỗ ngấm muối lâu ngày, hắn vừa đẩy ra thì gió đã ùa vào trước cả hắn mà thổi tung giấy trên bàn.

Người bên bàn gỗ cúi xuống giữ chồng giấy, một tay còn với theo mảnh giấy vừa bay xuống cạnh chân bàn, chưa kịp ngẩng lên đã gọi ra:

“Vào đi. Gió lại thổi bay giấy của ta rồi.”

Hắn nhặt tờ giấy dưới chân rồi quay lại khép cửa, cánh gỗ rít qua khung một tiếng dài, phải đẩy mạnh thêm mới khép lại được. Hơi muối đã theo gió tràn vào phủ trắng chân vách, cửa đóng rồi nhưng tiếng sóng vẫn rì rào phía xa. Ông đếm lại chồng giấy thì thiếu mất một tờ, mà tờ ấy đang nằm trong tay hắn. Hắn đứng bên cửa thêm một lúc nữa rồi mới đem lại đặt lên bàn.

—

Có một đêm ông giở cuốn sổ về những trang đầu, những trang viết từ thuở tóc ông còn xanh. Thẩm Uyên ngồi bên cạnh lại hỏi chuyện giấy, hỏi thứ giấy này giữ được bao nhiêu năm, rồi hỏi nên chép ra mấy bản và gửi đi những nơi nào. Ông đáp được mấy câu thì thôi không đáp nữa, gấp cuốn sổ lại đặt lên đùi.

“Con lo cho cả những người đọc sau ta mấy đời,” ông nói. “Ta già như này mà còn chưa nghĩ được xa đến thế.”

Ông sống đủ lâu để biết người ta tìm đến nhau vì nhiều lẽ, riêng Tiểu Uyên thì ông chưa từng đoán ra. Bao nhiêu năm sống chung một mái nhà, đâu phải ông không thấy những điều khác thường ở hắn? Gương mặt ấy bảy năm rồi vẫn y như buổi sáng ông nhặt hắn trên bãi, chuyện con nước con gió hắn biết còn rõ hơn người cả đời đi biển, mà xưa nay chưa từng nghe hắn nhắc tới quê quán hay một người thân nào. Ông cũng tò mò lắm chứ, mấy lần câu hỏi đã muốn bật ra, vậy mà nhìn hắn lặng lẽ ngồi canh nồi cháo buổi sớm thì ông lại nuốt xuống. Ông sợ… Lỡ đâu hỏi ra rồi lại như người vừa tỉnh mộng, chỉ còn mình ông với căn nhà trống trên bãi biển, như người mẹ trong tích cá lớn chỉ được gặp con một lần kia… Vậy mà đêm nay ông lại không kím nén được nữa.

“Tiểu Uyên… nếu năm ấy người nhặt con trên bờ biển không phải là ta thì sao?”

Ngọn đèn nổ lách tách vài tiếng mà Thẩm Uyên vẫn ngồi yên. Cái im lặng ấy ông quen lắm, sống cạnh nhau đã lâu nên ông biết rõ hắn chưa nói dối bao giờ, câu nào chưa nói được thì hắn sẽ im. Ông đợi một lúc rồi chợt thấy mình hỏi thừa, mà ngay sau đó lại thấy sợ, sợ hắn mở miệng ra thật.

“Thôi, ta già rồi hay nghĩ vẩn vơ,” ông vỗ lên vai hắn hai cái. “Con đi ngủ đi.”

Câu ông hỏi, Thẩm Uyên vốn đã có câu trả lời từ lâu, chỉ là hắn tự nhủ đêm đã khuya, nói ra lúc này thì ông lại thêm một đêm mất ngủ. Đợi ông đi nằm rồi, hắn cất cuốn sổ vào rương cho ông, phủ lại tấm vải che như ông vẫn làm mỗi tối rồi mới thổi tắt ngọn đèn.

—

Mấy năm nay hễ trở trời là chứng đau lưng cũ của Hứa Nghiên lại tái phát nên đường xa phải chống gậy mới đi được, nhưng tới ngày mang tiền vào làng ông vẫn khăng khăng tự đi một mình. Mãi tới một buổi sáng lưng đau tới mức phải vịn bàn mà đứng lên thì ông mới chịu để Thẩm Uyên theo cùng. Hai người đi từ lúc sương sớm chưa tan đến cuối ngõ hàng rào trúc thưa nọ, nơi có một mái nhà thấp, dưới hiên là một bà lão tóc bạc trắng đang ngồi vá lưới.

Tới nơi ông dừng chân ngoài rào, đứng lùi cách cổng mấy bước như người chẳng dám tự tiện bước vào. Bà lão ngẩng lên nhìn, nhận ra là ai thì lặng lẽ cúi xuống tấm lưới. Ông rút gói tiền trong tay áo ra đặt lên phiến đá kê bên cổng:

“Hà tẩu,” ông gọi. “Tháng này ta tới muộn mấy hôm.”

Bà nghe rõ nhưng chẳng đáp mà cũng chẳng ngẩng lên thêm lần nào, chỉ có con thoi trong tay là đưa nhanh hơn trước.

Ông đứng thêm một lúc rồi mới chống gậy quay về, đường về bước chân cứ nặng dần nên đến gốc tùng già ven đường cát thì ông dừng lại ngồi nghỉ. Thẩm Uyên ngồi xuống bên cạnh cũng không hỏi han gì thêm, mãi sau ông mới tự mình mở lời:

“Con trai Hà tẩu tên là A Mãn, thuở ấy nó theo ta đi học bốn năm,” ông nói. “Thằng bé ấy à… mùa đông mà vẫn chân đất tới lớp, gót chân nứt nẻ cả ra ta nhìn cứ không đành lòng nên mới mua cho nó một đôi giày vải. Nào ngờ nó quý đôi giày ấy hơn cả đôi chân mình, tới cổng trường mới chịu xỏ vào, tan học lại cởi ra ôm vào lòng mà về, ta mắng thế nào nó cũng chỉ dạ vâng cho qua.”

Nói tới đó ông ngừng hồi lâu, chỉ còn tiếng gió lùa qua tán lá trên đầu.

“Con trai Hà tẩu là học trò giỏi nhất của ta. Cha nó mất sớm nên cô nhi quả mẫu nương tựa nhau mà sống, mùa ấy nó theo thuyền ra khơi kiếm thêm ít đồng để mẹ qua được mùa đông. Ta đã bảo gió còn yên, nó tin thầy nên cứ yên tâm đi mà không ngần ngại gì. Đến ngày thứ hai thì gió đổi chiều, sóng dữ ngoài khơi đánh lật thuyền nó. Mấy người cùng thuyền bám được mạn gỗ mà sống sót trở về nhưng riêng nó thì không về nữa.”

“Ta nghỉ dạy, bán mấy bộ sách quý nhất mang tiền sang thì Hà tẩu mang ra giữa ngõ trả lại,” ông kể tiếp. “Lần sau ta gửi thì bà để yên đó. Từ lúc đó tới nay tháng nào ta cũng đặt tiền lên phiến đá ngoài cổng. Bà ấy chưa từng nói với ta một lời tha thứ, mà tha thế nào được… Người đã khuất rồi, ta có gửi bao nhiêu cũng không thể nào chuộc được tội lỗi, ta biết chứ… Năm ấy ta chẳng còn mặt mũi nào mà đi giữa làng nữa, cứ ra tới đầu ngõ là ta thấy như ai cũng đang nhìn mình. Bà nhà ta không trách mắng ta câu nào cả, chỉ lặng lẽ thu xếp đồ đạc theo ta dọn ra căn nhà ngoài bãi biển phía bắc, bà bảo ta ra đấy gần biển nên ta cứ ngồi xem gió xem trời cho hết một đời, xem cho kỹ rồi nói. Ở với ta ngoài ấy được mấy năm thì bà ấy cũng bỏ ta mà đi...”

Bao năm nay mấy người bạn cũ cũng từng hết lời chia sẻ rồi khuyên nhủ, ông cảm tạ ý tốt của họ mà về nhà lòng vẫn nặng trĩu như cũ. Hôm ấy Tiểu Uyên nghe ông kể hết mà không nói một lời nào, chỉ ngồi lặng bên ông cho tới khi gió bớt thổi mạnh, thế nhưng lòng ông lại nhẹ đi như có người vừa ghé vai đỡ hộ ông một đầu gánh nặng.

“Về thôi con,” ông chống gậy đứng dậy. “Ngồi thêm chút nữa thì cái lưng già này lại bắt con cõng ta về đấy.”

Từ ấy về sau, tháng nào lưng ông đau quá thì Thẩm Uyên sẽ mang gói tiền đi thay. Hà tẩu vẫn chẳng nói câu nào, chỉ có một lần hắn đặt gói tiền lên phiến đá ở cổng xong thì bà ngẩng lên mà hỏi lưng ông ấy dạo này còn đau nữa không. Hứa Nghiên nghe hắn kể lại thì chỉ khẽ gật đầu.

Tối đó ông thắp một nén hương cắm ngoài hiên hướng về phía biển xa.


Chương 3: Người của biển

Tiểu Đào năm nào ngồi vẽ hoa vẽ chim bên bàn Hứa tiên sinh, thoắt cái đã mười hai tuổi, mẹ nó không cần gửi nó sang nhà Hứa Nghiên mỗi lần đi nhặt ốc nữa vì nó đã ra mỏm đá phụ việc cho mẹ được rồi. Năm mười bốn tuổi, nó tự tìm sang nhà ông xin học chữ. Mẹ nó không biết chữ nên tờ giấy giao hàng nào bị gian thương ghi thiếu cũng đành chịu thiệt, con bé ấm ức mãi mới quyết phải đi học cho bằng được.

“Con học tới khi lão Bành ngoài chợ không lừa được nhà con nữa là được,” nó nói với hai tay khoanh trước ngực. “Còn thơ phú thì tiên sinh cứ miễn cho con, con không có thời gian ngồi ngâm nga đâu.”

Từ năm xảy ra biến cố với A Mãn nhà họ Hà, Hứa Nghiên chưa nhận dạy thêm ai, nhưng con bé chỉ xin học chữ với học tính toán mà không hỏi gì tới chuyện xem gió xem biển nên ông nghĩ một hồi rồi cũng gật đầu. Ai ngờ dạy nó rồi ông lại thấy vui hơn dạy cả một lớp học trò năm xưa. Lần đầu nó cầm tờ giấy tự tay viết lên chợ, lão Bành không bắt bẻ được chữ nào nên phải trả đủ tiền. Tiền dư ra nó bỏ cả vào một ống trúc, mong có ngày thuê được chỗ ngồi dưới gốc cây nơi đầu chợ phiên để mùa đông mẹ khỏi phải vất vả ra mỏm đá nữa.

Năm Tiểu Đào mười lăm tuổi, Ngô tẩu sang nhà biếu ông mấy con cá khô đầu mùa rồi ngồi lại bên hiên uống trà. Bà than thở rằng con gái lớn nhanh như măng mùa xuân, áo mới may đầu năm mà chưa tới cuối năm đã chật rồi, kể tới đó thì chợt quay sang Thẩm Uyên đang ngồi khâu gáy sách bên cửa sổ nói bằng giọng nửa đùa nửa thật:

“Còn tiểu ca đây thì chẳng khác gì hôm ta mới gặp. Hồi ấy con bé nhà ta mới cao tới thắt lưng cậu ấy, giờ đã cao ngang vai rồi nhưng mặt mũi tiểu ca vẫn như cũ. Tiểu ca ăn gì mà trẻ mãi thế?”

Mũi kim trong tay Thẩm Uyên dừng lại một thoáng, rồi hắn khẽ hất cằm về phía Hứa Nghiên:

“Ăn cơm người nấu.”

Ngô tẩu bật cười, Hứa Nghiên cũng cười theo mà đỡ lời ngay: 

“Tẩu cứ nhìn ta thì biết. Nó ăn cơm ta nấu nên trẻ mãi, còn ta ăn cháo nó nấu nên tóc bạc thay cho cả hai mái đầu rồi đấy.”

Ngô tẩu uống cạn chén trà rồi về, trước khi về còn ngoái đầu lại nhìn Thẩm Uyên lâu hơn mọi khi. Khách thì về rồi nhưng ông thì vẫn còn ngồi lại bên hiên, câu đùa ban nãy nói ra mạch lạc là thế mà nói xong thì lòng lại cứ bồn chồn không yên. Mẹ Tiểu Đào hỏi đùa thì ông biết chứ, nhưng một người hỏi đùa được thì mười người khác cũng nghĩ đến chuyện đó được, mà người ta đã nghĩ đến thì đâu phải lúc nào cũng chỉ để đùa. Tối ấy ông ngồi nhẩm tính xem Tiểu Uyên về nhà mình đã mấy năm, tính xong rồi lại thở dài tự mắng mình già rồi còn học người nước Kỷ lo trời sập.

Mùa thu năm sau, có một buổi con nước về sớm hơn Tiểu Đào dự liệu, nó mải bắt ốc trong khe đá phía ngoài nên không để ý nước đã lên kín chân tự bao giờ. Chợt có một con sóng lớn tràn qua mặt đá, nó sẩy chân trên lớp rêu trơn rồi ngã nhào xuống khe. Nước lạnh vừa ập lên tới ngực thì cổ tay đã có ai đó nắm chặt kéo lên, ngẩng đầu nhìn mới biết là Thẩm Uyên, không rõ hắn từ hàng cọc tre ghi mực nước cho Hứa tiên sinh đã đến từ lúc nào. Nó còn chưa hoàn hồn thì nước quanh chân hắn đã đỏ dần. Lúc chống tay lên đá kéo nó, lớp vỏ hà đã rạch một đường dài trên lòng bàn tay hắn làm máu nhỏ từng giọt xuống biển. Tiểu Đào thất kinh tới quên cả mình vừa suýt chết đuối, giỏ ốc trôi đâu cũng mặc kệ, vội gỡ dải khăn buộc tóc đè lên vết thương rồi quấn quanh bàn tay hắn. Tay nó run run nhưng vẫn cố thắt cho thật chặt, chỉ mong máu ngừng chảy.

“Ca ca về nhờ Lưu đại phu khâu lại đi,” giọng nó vẫn còn run. “Vết thương sâu lắm, muội còn thấy cả…” Thẩm Uyên cúi nhìn nút khăn trên tay mình, cảm ơn rồi quay lưng đi về, còn chuyện tìm Lưu đại phu hay không thì chẳng thấy nói năng gì.

Hai hôm sau Tiểu Đào vẫn không yên lòng, đoán chừng người kia chẳng chịu đi tìm Lưu đại phu nên nó chạy đi mua một gói thuốc đắp vết thương mang sang ngôi nhà bên bãi biển phía bắc. Hôm ấy Hứa tiên sinh lên làng giao sách, cửa nhà khép hờ, nó quen chân từ thuở bé nên tới nơi cũng không thèm gọi ai mà cứ thế bước qua bậc cửa. Thẩm Uyên đang ngồi bên bàn kiểm tra lại mấy trang ghi mực nước với bàn tay phải đặt ngửa trên mặt giấy. Hôm trước chính mắt nó thấy vỏ hà rạch một đường dài chỗ ấy, giờ nhìn lại chỉ còn mấy đường chỉ tay nhàn nhạt như của bao người. Dải khăn của nó thì đã giặt sạch, đang phơi trên bậu cửa sổ. Tự dưng nó lại không biết nên thăm hỏi thế nào nữa.

“Ca ca...”

“Muội đừng kể với ai,” Thẩm Uyên nói. “Người ngoài biết thì tiên sinh lại không yên.”

Thẩm Uyên lấy dải khăn trên bậu cửa sổ trả cho nó, Tiểu Đào nắm chặt trong tay rồi gật đầu. Suốt dọc đường về, gói thuốc mua bằng tiền dành dụm vẫn nằm nguyên trong tay áo. Gương mặt chẳng già thêm tuổi nào kia nó đã thấy suốt bao năm nay, mẹ nó cũng từng đem ra đùa nên nó chỉ coi như một chuyện lạ của nhà Hứa tiên sinh. Giờ thêm bàn tay này, chuyện lạ ấy chẳng còn là chuyện có thể cười cho qua được nữa. Nó tuy sợ thật, nhưng lời vừa hứa với người kia thì nó lại muốn giữ…

—

Đầu đông năm ấy lão Giang đi chuyến xa chưa về, Hứa Nghiên đành gửi bọc sách theo một chiếc thuyền buôn phương nam ghé bến đợi gió. Người chủ thuyền mỗi năm mới ghé qua một bận, gặp ông được đôi ba lần, vậy mà đỡ lấy bọc sách xong lại ngó sang Thẩm Uyên đang cúi buộc lại sợi dây cho chặt, rồi cười bảo:

“Công tử trông vẫn y như hồi ta mới gặp nhỉ? Năm nào ghé bến cũng thấy công tử chẳng khác đi chút nào, chỉ có con thuyền của ta là cứ cũ dần theo năm tháng.”

Gã nói xong thì quay sang tính tiền neo thuyền với người giữ bến, câu vừa rồi với gã chẳng qua chỉ là một câu chào cho vui. Hứa Nghiên cũng cười theo được một tiếng, nhưng rồi suốt dọc đường cát về nhà ông chẳng nói thêm câu nào. Tới gần nhà, ông dừng lại chống gậy nói thẳng với hắn:

“Từ nay việc ở bến thuyền để ta lo. Con bớt lên làng đi.”

“Vâng.”

Ông đã sẵn mấy lời định giảng giải cho Tiểu Uyên nghe vì sao, vậy mà nó đáp gọn như thế thì ông biết nó đã nghĩ tới chuyện này từ trước, có khi còn nghĩ trước cả ông. Lẽ ra nó hiểu chuyện thì ông phải nhẹ lòng, thế mà lòng ông lại nặng thêm từng chút một…

Đêm ấy gió lùa qua song cửa phía đông, ông ngủ đã lâu mà Thẩm Uyên vẫn ngồi lại bên chiếc ghế mây, mắt nhìn về chỗ tay cầm trên cây gậy ông dựng nơi góc cửa. Năm ngoái là Ngô tẩu bên chén trà, hôm nay là người khách cả năm mới ghé bến một lần, còn Tiểu Đào thì đã tận mắt thấy bàn tay hắn, tam nhân thành hổ, mà biển ngoài kia vẫn còn đang yên như thế. Đã đi thì phải đi thật xa, tới nơi chẳng ai biết mặt hai người bọn họ, rồi từ ấy bặt vô âm tín. Con nước, chiều gió, đường thuyền ra cửa sông hắn đều tính được, riêng một câu mở lời với ông thì ngồi tới khi đèn cạn dầu vẫn chưa thành, bởi bỏ căn nhà này là ông phải bỏ cả khung cửa phía đông đã mở lại, bỏ chiếc ghế mây của bà, bỏ cả gói tiền tháng nào ông cũng tự tay mang sang nhà họ Hà.

Câu ấy hắn còn chưa kịp nói thì ông đã đổ bệnh, đông năm đó trời trở rét sớm, gió ngoài khơi thổi vào lạnh thấu xương, vậy mà việc ở bến thuyền ông vẫn một mực muốn tự mình làm, hắn xin đi thay thì ông xua tay từ chối. Mới qua mấy chuyến, cơn ho năm nào đã tìm về kéo theo mấy đêm sốt mê man. Lưu đại phu bắt mạch bảo rằng phế khí người già vốn đã hư, nay phong hàn lại nhập vào, qua được mùa đông này đã là phúc. Ra tới cổng, lão còn kéo Thẩm Uyên lại dặn riêng:

“Chứng này kỵ nhất lao lực và sương gió. Từ nay đừng để tiên sinh ra bến nữa, đường xa thì lại càng không được.”

Những điều ấy hắn đều đã biết, vậy mà vẫn đứng nghe lão dặn cho trọn rồi mới chắp tay cảm tạ.

Ngay đêm đầu ông lên cơn sốt, ngồi bên giường nghe hơi thở ông nặng nhọc dần, hắn đã biết mình nên làm gì. Ông không còn đi xa được nữa thì người phải đi là hắn, một mình lặng lẽ rời đi trong lúc sóng ngoài kia còn chưa nổi thành bão, để ông ở lại với Lưu đại phu và lão Tôn, những người mười năm nay vẫn đối đãi với ông tử tế. Hắn cân nhắc trước sau, biết rằng đi như thế cũng chưa chắc người ta đã để ông được yên, nhưng nếu cứ ở lại cho tới một mùa biển động, người ta tìm tới hắn thì người đã cưu mang hắn những năm qua cũng khó lòng được dung tha. Vậy mà sáng ra, nghe ông khản giọng gọi một tiếng Tiểu Uyên, bao nhiêu điều tính toán trong đêm hắn lại gác cả sang một bên, tự hẹn với lòng đợi qua đông rồi hẵng tính, mà trong lòng cũng hiểu qua được đông rồi thì sẽ còn có cớ khác để hẹn.

Suốt mùa đông ấy, đêm nào hắn cũng ngồi bên giường chăm sóc ông, đêm nào tiếng ho thưa đi hắn mới chợp mắt được một lúc. Những đêm ông ngủ yên, hắn ngồi dưới ngọn đèn đan lại sợi mây bung ra đã lâu trên tay vịn chiếc ghế của bà, thỉnh thoảng lại dừng tay nghe hơi thở bên giường, tới khi sợi mới nằm yên giữa những sợi cũ, tưởng như nó vẫn ở đó từ những năm bà còn ngồi bên song cửa.

—

Năm mười bảy tuổi, Tiểu Đào đã có một chỗ ngồi riêng dưới gốc cây tùng già đầu chợ phiên. Phiên chợ cuối xuân năm ấy nó mặc bộ y phục màu thiên thanh, cất mãi trong rương chưa nỡ mặc lần nào. Mẹ hỏi thì nó bảo cuối xuân khách đông, mặc thế cho người ta nhìn vào mà vui mắt, còn mặc cho ai xem thì chính nó cũng chưa dám nghĩ tường tận. Tan chợ nó không về nhà mà lại chạy sang bãi biển phía bắc, trong ngực áo giấu một chiếc túi thơm vừa thêu xong đêm qua, càng gần tới nơi thì trong lòng càng hồi hộp.

Thẩm Uyên đang đứng giữa hàng cọc tre của Hứa tiên sinh, nghe tiếng nó gọi thì ngẩng lên khỏi cuốn sổ, nhìn bộ áo thiên thanh một cái rồi hạ giọng:

“Tiên sinh ở trong nhà.”

Bao năm nay nó sang đây quả thật là để gặp Hứa tiên sinh, hắn nói vậy cũng không sai, thế mà hôm nay nghe câu ấy lòng nó lại thấy tủi. Bộ áo thiên thanh ấy hắn đã trông thấy, là hữu ý làm ngơ hay vốn dĩ vô tâm thì nó đoán mãi cũng không ra. Nó vừa đưa tay lên chỗ túi thơm giấu trong ngực áo, định thổ lộ lời lẩm nhẩm suốt dọc đường, thì trong nhà đã vọng ra tiếng Hứa tiên sinh nói chuyện với Thẩm Uyên.

Ông vịn khung cửa bước xuống bậc hiên, Thẩm Uyên vội nhanh tới đỡ, rồi hai cha con cứ thế đứng nói chuyện về học thuật như mọi ngày. Năm Tiểu Đào lên tám, tóc tiên sinh còn chưa bạc hết, còn người đang đỡ ông bây giờ thì vẫn chẳng khác ngày ấy chút nào. Nó chợt nghĩ, tầm mấy mươi năm nữa, người phải vịn tay hắn mới bước xuống nổi bậc hiên có khi lại là nó, còn hắn thì có lẽ vẫn sẽ đứng đó với gương mặt này. Nghĩ tới đó Tiểu Đào thấy lạnh cả người, rồi ngay sau đó lại cảm thấy thẹn, thẹn với tiên sinh, thẹn cả với chiếc túi thơm trong ngực áo. Ngần ấy năm tiên sinh già đi bên cạnh hắn mà chưa từng sợ hắn lần nào, chiều nào cũng vẫn cười vẫn mắng hắn như mắng con trong nhà, vậy mà nó mới nghĩ tới thôi đã muốn lùi bước. Cuối cùng nó chỉ đứng ngoài bãi thưa với tiên sinh rằng trời sắp tối, mẹ ở nhà đang đợi rồi quay lưng đi thật nhanh không dám quay đầu lại.

Đến khuất sau mỏm đá gần nhà nó mới chậm bước, nhớ tới con chim trên mặt chiếc túi nó tự tay thêu, lúc thêu còn nghĩ sẵn một câu để trêu hắn rằng lần này muội không có thêu con gà nhé… Câu trêu ấy giờ nghĩ lại chỉ làm mắt nó cay cay.

Từ hôm ấy nó vẫn gọi Thẩm Uyên là ca ca, vẫn sang bãi biển phía bắc ngồi cãi với Hứa tiên sinh về giá muối ở chợ phiên như mọi khi, chỉ có điều ngồi xa hơn trước một chút.

Cũng từ mùa ấy ở chợ phiên, Tiểu Đào bắt đầu nghe người ta nhắc tới bãi phía bắc bằng một giọng khác. Họ không hỏi thẳng như mẹ nó năm nào, nhưng nhắc tới chuyện đó thì ai ai cũng hạ giọng, bàn tán xong lại đưa mắt nhìn sang chỗ nó ngồi. Bà lão bán cá ngồi cạnh còn cố tình nói như để nó nghe:

“Cái năm mà người đó dạt vào bãi bắc, thằng cháu đích tôn nhà ta còn bế trên tay, nay nó đã theo cha ra khơi rồi đấy. Chín năm! Chín năm mà gương mặt kia vẫn như hôm mới tới, các vị cứ nghĩ mà xem!”

Đếm xong bà còn quay sang nhìn nó, Tiểu Đào liền cãi ngay rằng người trẻ lâu thì có gì mà lạ, trong làng đâu có thiếu người trông vẻ ngoài trẻ hơn tuổi thật. Nhưng ngoài miệng cãi được bao nhiêu thì trong lòng lại bất an bấy nhiêu, vì nó vẫn nhớ bàn tay năm trước, chỗ vỏ hà rạch sâu tới thế rồi chỉ còn mấy đường nhàn nhạt lẫn vào chỉ tay. Cãi xong nó ngồi lặng đi, chợ phiên chung quanh vẫn huyên náo mà chẳng câu nào lọt được vào tai nó nữa.

—

Năm thứ mười Thẩm Uyên về ở với ông, qua hai mùa đông thuốc thang, đầu xuân Hứa Nghiên mới lại chống gậy ra được tới hàng cọc tre, đi một quãng lại phải dừng nghỉ, vậy mà hôm nào nước lên ông cũng đòi ra tận nơi mà xem. Mùa ấy sóng lừng từ phương nam cứ từng đợt kéo về, có hôm trời lặng gió mà ngoài ghềnh sóng vẫn lớn, nước dưới chân cọc ấm hơn hẳn cùng mùa những năm trước, người đi biển về còn kể ngoài ghềnh có cá lớn đi ngang, mấy chục năm nay chưa ai thấy lại. Ông ghi cả vào sổ, bên lề viết thêm mấy dòng rằng chưa rõ nguyên cớ gì, phải đợi đối chiếu thêm mấy mùa nữa mới dám kết luận.

Cuối hạ có một trận bão muộn, hai chiếc thuyền trong làng ra khơi chưa kịp về, ba hôm sau sóng đưa vào bãi phía nam một chiếc, người trên thuyền chẳng còn ai, chiếc kia thì mãi chẳng thấy tăm hơi. Sang mùa thu, bãi đá ngoài mỏm nơi mẹ con Tiểu Đào bao năm nhặt ốc bị cát vùi gần hết, đứng trên cao nhìn xuống chỉ còn một dải cát trắng phẳng lì. Người trong làng lần lượt tìm tới hỏi ông biển còn động tới bao giờ nữa? Sang năm có ra khơi được không? Ông tra lại sổ sách, biết được tới đâu thì nói tới đó, rằng sách xưa cũng từng ghi những năm biển khác thường như thế, có khi một hai năm, cũng có khi lâu hơn, nhưng lần này có giống những lần ấy hay không thì ông chưa dám chắc. Nước ấm có lẽ theo một dòng nào đó từ phương nam lên, cá lớn ngoài ghềnh có lẽ theo đàn cá mà tới, còn điều gì chưa biết thì ông bảo là chưa biết. Người ta nghe xong rồi về, nét mặt vẫn không yên nổi. Ông hiểu người đang sợ thì chỉ mong được nghe một điều chắc chắn, nhưng câu chuyện năm xưa A Mãn ra khơi luôn để lại trong lòng ông một nỗi chần chừ cân nhắc thật kỹ mỗi khi muốn nói ra bất cứ điều gì.

Hỏi ông không yên lòng được nên người trong làng kéo nhau ra miếu đầu làng tìm lão Đàm. Lão làm miếu chúc đã ba mươi năm nay, nhà nào có người mất ngoài biển lão cũng nhớ ngày mà thắp hương, những năm đói kém còn gom gạo ở miếu chia cho dân nghèo nên người trong làng hết mực tin tưởng lão. Mùa ấy lão lập đàn ngay trên bến làm lễ cầu phúc cho dân chài, cả làng góp hương góp gạo rồi đem lễ vật thả xuống biển nhưng biển cũng chẳng yên. Lão bảo rằng biển chưa nhận lễ, hẳn trong làng còn điều gì khiến biển không vui.

Chuyện người ở bãi phía bắc mấy năm trước người ta chỉ dám nói nhỏ, tới mùa ấy thì chẳng ai buồn giữ ý nữa. Trong một buổi chợ vãn, vài người ngồi lại trong lều trà của một vị đại nương nọ, chuyện trò một hồi rồi chẳng biết từ lúc nào đã nói sang chuyện bãi bắc:

“Hắn dạt vào đúng năm biển động,” một ngư phủ trẻ nói. “Cha ta kể năm ấy sóng đánh rất mạnh, lên tận rặng phi lao.”

“Mười năm rồi đấy,” vị đại nương chêm vào. “Tóc ta bạc hết nửa đầu, ông học giả kia thì lưng còng như thế. Các người cứ ra bãi bắc mà xem gương mặt kia có thêm được nếp nhăn nào không?”

Một thiếu phụ bế con đứng bên lều ôm chặt đứa nhỏ vào lòng:

“Chồng ta đi câu đêm về bảo thấy hắn đứng một mình ngoài bãi tới tận canh ba, nước lên tới gối mà cứ đứng im chẳng biết lạnh là gì.”

Lão vá lưới ở đầu ngõ ngồi nghe nãy giờ mới chậm rãi cất tiếng:

“Ngày xưa bà ta vẫn kể, người chết ngoài biển mà người nhà còn mong ngóng thì cá lớn sẽ đưa về thăm. Về thì vẫn trẻ như hôm ra khơi, ngồi ăn với mẹ một bữa cơm, rồi biển gọi thì lại phải đi.” Lão ngừng một lúc lâu. “Có điều người được đưa về thì không ở lâu được, ở lâu quá thì biển lên tận cửa nhà mà đòi.”

“Mùa này ngoài ghềnh có cá lớn thật đấy,” người ngư phủ nói nhỏ. “Ta thấy hai lần rồi.”

Cả lều trà lặng đi, mãi sau vị đại nương nọ mới hạ giọng, nhỏ tới mức Tiểu Đào ngồi ngay bên cạnh cũng phải nghiêng đầu mới nghe ra:

“Biển đợi mười năm là đã quá lâu rồi! Tận mười năm…”

Tiểu Đào toan cãi nhưng chợt nghẹn lại, năm ngoái nó còn nói được vài câu đỡ lời, năm nay câu ấy ra tới đầu môi rồi mà nó không sao cất giọng được.

Tối ấy Ngô tẩu ngồi vá lưới bên bếp lửa, vá được một đoạn lại dừng tay than thở rằng bãi ốc mất rồi, thuyền trong làng không ai dám ra khơi nữa, sinh kế hai mẹ con rồi đây không biết trông cậy vào đâu... Bà ngồi lặng hồi lâu rồi nói tiếp, giọng nhỏ hẳn đi:

“Người ở nhà Hứa tiên sinh, mười năm rồi...”

Tiểu Đào hiểu mẹ muốn nói gì, mấy tháng nay lời đồn ngoài chợ câu nào cũng khớp với bàn tay nó giấu suốt hai năm nay, khớp tới mức trong lòng nó càng lúc càng không giải thích nổi, lời đã hứa với hắn nó giữ một mình được hai năm, tới đêm nay thì không gánh nổi nữa. Nó kể với mẹ chuyện khe đá, chuyện vỏ hà, chuyện hai hôm sau sang nhà Hứa tiên sinh chỉ còn thấy mấy đường chỉ tay nhàn nhạt. Những tưởng nói ra được thì lòng sẽ nhẹ hơn, nhưng nhìn gương mặt tái dần dưới ánh lửa của mẹ, nó mới thấy suy nghĩ của mình thật quá đơn thuần.

“Mẹ biết người ta tử tế,” mãi sau Ngô tẩu mới nói. “Người ta cứu con khỏi khe đá, mẹ biết mà. Nhưng chuyện này con đừng kể với ai nữa...”

Mấy hôm sau Ngô tẩu mang một bó hương ra miếu. Chuyện bàn tay bà giữ kín không hé nửa lời, chỉ xin lão Đàm làm cho người ở bãi bắc một lễ trừ tà trước hương án, để cả làng tận mắt thấy người ta chẳng có gì đáng sợ, mà nếu quả thật có điều gì thì lễ rồi cũng để người ta được yên. Lão Đàm đồng ý ngay, còn khen bà lo liệu chu toàn. Tối ấy nghe mẹ kể lại, lần đầu tiên từ đầu mùa Tiểu Đào ngủ được một giấc yên ổn.

—

Một buổi chiều, Tiểu Đào sang bãi bắc mang theo lời mời của miếu. Từ đầu thu con bé đã ít sang hẳn, lần này sang cũng không vào nhà mà chỉ đứng ngoài bậc cửa nói một mạch rằng lão Đàm muốn mời Thẩm tiểu ca ra miếu làm một lễ trừ tà cho dân làng yên lòng, nói xong thì cúi gằm nhìn mũi chân mình. Hứa Nghiên đặt bút xuống, định nói lời từ chối thì Thẩm Uyên ngồi bên bàn đã lên tiếng trước:

“Để con đi. Không đi thì người ta càng nghĩ nhiều.”

Nghe vậy, ông cũng đành gật đầu, rồi đêm ấy lấy trong rương ra bộ áo lành lặn nhất của hắn, ngồi bên đèn sửa lại cổ áo cho kín để mai đứng giữa gió biển con đỡ lạnh.

Hôm làm lễ, người làng kéo tới miếu còn đông hơn mọi phiên chợ, chen chúc nhau đứng xem Thẩm Uyên quỳ trước hương án, nghe lão Đàm khấn trừ tà. Đứng nép bên cột hiên, Hứa Nghiên nghe rõ sau lưng người ta xì xào đợi xem yêu ma có hiện hình không. Ông giận người làng một thì giận mình mười, vì chính ông cũng đang nín thở theo từng câu khấn, sợ rằng tới một câu nào đó Tiểu Uyên sẽ biến mất ngay trước mắt. Tới khi lão Đàm khấn xong quay sang cảm tạ ông bảo lễ đã thành thì Thẩm Uyên vẫn quỳ nguyên đó, vẫn là đứa con mười năm nay chiều nào ông cũng gọi vào ăn cơm. Ông thở ra được một hơi dài, lúc ấy mới thấy hai lòng bàn tay mình đã ướt đẫm từ bao giờ.

Người ta tản về sau đó, có kẻ thở phào, có kẻ vẫn ngoái lại bảo cứ đợi xem biển có yên không đã.

Tối ấy chưa đợi ông hỏi, Thẩm Uyên đã lên tiếng trước:

“Biển chưa yên đâu. Sóng lừng phương nam vẫn đang dồn về, nước dưới chân cọc vẫn ấm, họ sẽ lại nghĩ tới con, nên con phải đi.”

Ngòi bút trong tay ông dừng lại:

“Con đi đâu?”

“Đến một nơi khác thật xa.” Hắn cúi nhìn mặt bàn. “Nhưng con đi một mình thì họ sẽ quay sang tìm người. Người chăm sóc con những năm qua, họ sẽ không để người yên...”

“Vậy con có dự tính gì chưa?”

Hắn ngồi im rất lâu, mấy lần ông thấy môi hắn mấp máy rồi lại thôi, hai bàn tay trên gối cứ siết lấy vạt áo:

“Người đi thì đường xa, con sợ sức khỏe người không chịu nổi. Người ở lại thì...” Hắn ngẩng lên nhìn ông. “Việc này con không quyết thay người được.”

Hứa Nghiên đặt tay lên góc bàn năm nào hắn mài nhẵn, mười năm tay người xoa qua đã sẫm lại hơn nhiều rồi. Ông nhìn đứa con đang đợi mình, cổ họng nghẹn lại mãi mới nói được thành lời:

“Sách thì viết lại được, nhà thì đi tới đâu dựng tới đó, còn tiền gửi sang nhà họ Hà thì ta nhờ lão Giang mang hộ.” Ông cố cười, khóe mắt đã đỏ hoe. “Ta già rồi, đi đường xa có chậm thì con đợi ta một chút, có gì đâu mà phải tính. Con là con trai ta, con đi đâu thì ta đi đó.”

Hai bàn tay hắn trên gối lúc ấy mới buông vạt áo ra, rồi hắn chậm rãi gật đầu. Ông đưa tay áo lên lau mắt, kéo một tờ giấy trắng lại gần. Hai người ngồi tính đường tới khuya. Đi đường bộ thì phải vượt đèo mười ngày và đi ngang chợ phiên, với cái lưng của ông bây giờ thì không thể. Đường thuyền kín đáo hơn nhiều, bởi thuyền lão Giang vẫn buộc ở cọc ngoài cùng phía bắc bến, xuôi về phương nam hai ngày là tới cửa sông lớn, nơi có thuyền buôn đi khắp các ngả. Hai ngày trên thuyền ông còn gắng được, tới cửa sông sẽ tìm chỗ cho ông nghỉ lại sức rồi mới tính tiếp đường xa.

Ông định sáng mai sang hỏi lão Giang ngay, nhưng Thẩm Uyên lắc đầu, nhìn ra khung cửa đang rung lên từng hồi trong gió:

“Mấy hôm nữa sẽ có bão. Gió đã đổi chiều, sóng lừng cứ mỗi đêm một dày thêm, thuyền nhỏ bây giờ mà ra khơi thì không ổn. Chúng ta phải đợi ít hôm nữa cho bão đi qua, biển lặng mới đi được.”

Ông lắng nghe tiếng sóng ngoài bãi dồn vào mỗi lúc một dày, nghe một hồi thì sực nhớ ra thuyền nhà họ Phùng đang sửa soạn chuyến cuối mùa:

“Mai ta phải ra bến thuyền một chuyến.”

“Lúc này người ra bến, họ chưa chắc đã chịu nghe.”

“Họ nghe hay không là việc của họ, còn ta biết mà không nói thì là lỗi của ta.”

—

Sáng hôm sau ông chống gậy ra bến từ khi sương còn chưa tan, đúng lúc thuyền nhà họ Phùng đang sửa soạn cho chuyến cuối mùa, con trai Phùng Viễn đứng trên mạn thuyền đang đỡ những thùng nước người dưới bến đưa lên. Ông đứng giữa đám đông bảo rằng biển mấy hôm nay có điềm dữ, ông không dám nói chắc chắn, chỉ xin mọi người đừng ai ra khơi xa. Phùng Viễn nghe xong rồi bật cười:

“Lễ trừ tà mới làm hôm trước, lão Đàm khấn cả buổi chẳng thấy gì, lão ấy bảo lễ thành rồi, biển đã yên rồi. Tiên sinh lại bảo biển sắp dữ?” Gã quăng cuộn dây xuống khoang. “Năm ấy tiên sinh bảo gió còn yên mà con trai Hà thị có về đâu? Giờ tiên sinh bảo có bão, ta biết tin vào đâu?”

Quanh bến có tiếng cười theo, cũng có người ngoảnh mặt đi. Đứa con trai trên mạn thuyền dừng tay nhìn xuống ông rồi lại cúi đầu đỡ thùng nước. Hứa Nghiên không nói thêm được câu nào. Chuyện A Mãn bao năm nay ông vẫn tự nhắc với mình, hôm nay nghe người khác đem ra nói giữa bến, ông mới thấy nó nặng tới nhường nào. Trên đường về, ông ghé qua chỗ thuyền lão Giang ở cọc ngoài cùng phía bắc dặn lão mấy câu, lão nghe xong chỉ gật đầu.

—

Bão về đúng như lời Hứa tiên sinh, vào đêm thứ tư sau lễ trừ tà. Chiếc thuyền lớn nhất của Phùng Viễn ra khơi mới được hai hôm đã gặp bão ngoài ghềnh. Bão tan rồi cả bến còn ngóng thêm hai ngày, tới sáng thứ ba sóng mới đưa vào bãi nam mấy mảnh ván mạn thuyền còn khắc dấu nhà họ Phùng. Mười một người trên thuyền không một ai trở về, trong đó có đứa con trai độc nhất của gã. Phùng Viễn có bốn chiếc thuyền lớn nhất bến, người làm cho gã có tới nửa làng, nhà nào có người mất trên chuyến tàu ấy cũng là chỗ quen biết. Hôm ấy gã ôm mảnh ván mang dấu nhà mình đứng ở bãi nam từ sáng tới tối, vợ con những người làm thuê kéo tới quỳ khóc dưới chân gã cũng không cúi xuống nhìn một ai.

Sáng hôm sau, lời bàn tán trong làng đã khác hẳn. Tiểu Đào ra giếng lấy nước, mới tới đầu ngõ đã nghe người quanh đó nhắc tới mẹ mình. Nó đứng sững lại sau thân cây, hai tay bấu chặt lấy đòn gánh.

“Lễ trừ tà hôm trước là ai bày ra?” một phụ nhân đứng tuổi vừa kéo gàu vừa nói. “Mẹ con bé nhà họ Ngô chứ ai?”

“Con bé ấy ngày nào cũng sang bãi bắc,” một thiếu phụ hạ giọng, “hai mẹ con bị ma quỷ ở đó làm cho mê muội cả rồi, nên mới bày lễ che chở cho nó.”

Một lão bà chống gậy đứng bên thành giếng lắc đầu:

“Lão Đàm khấn trừ tà bao nhiêu năm, yêu ma nào nghe cũng phải tránh. Nó quỳ nghe cả buổi mà mặt không hề biến sắc. Không phải yêu vật thì là ma quỷ biển đưa về đấy.”

Một ngư phu vác lưới đi ngang cũng dừng chân:

“Thế còn lão học giả? Trời còn chưa nổi gió, lão đã ra bến thuyền báo bão. Lão làm sao biết được rõ thế? Trước đây còn nói sai đầy cả ra mà?”

“Thì ma quỷ trong nhà lão biết,” thằng bé ngồi gần đó buột miệng, rồi cười khanh khách.

Người lớn quanh giếng không ai mắng thằng bé câu nào. Tiểu Đào nép sau thân cây tới khi người ta tản đi hết mới dám ra lấy nước. Về chưa tới nửa đường, nó đã thấy người của Phùng Viễn đứng chờ trước cổng nhà mình, bảo lão Đàm cho mời Ngô tẩu ra miếu hỏi chuyện.

Đợi tới chạng vạng vẫn không thấy mẹ về, Tiểu Đào chạy ra miếu. Thiên điện khói hương mù mịt, mẹ nó ngồi giữa mấy lư hương cháy đỏ, dân làng đứng chen chúc ngoài cửa. Lão Đàm bảo phải giữ bà lại ba đêm, lấy hương xông cho tan tà khí, giọng lão vẫn hiền như những ngày gom gạo miếu chia cho nhà nghèo. Người ta hỏi gì về bãi bắc, mẹ nó cũng chỉ nói đi nói lại một câu:

“Người ta từng kéo con gái ta lên khỏi khe đá. Có loài yêu tà nào lại đi cứu người?”

Hỏi thêm thì bà mím chặt môi. Có người đứng sau lưng Tiểu Đào thì thầm, nghe xem, nói năng y hệt người bị tà ma nhập!

Phùng Viễn quay sang nó. Mắt gã đỏ ngầu, không rõ vì khói hương hay vì đứa con trai biển còn chưa trả xác:

“Mẹ ngươi không nói thì ngươi nói. Dân làng này ai qua lại với nó nhiều bằng ngươi? Nói thật hết những gì ngươi biết thì tối nay mẹ ngươi được về!”

“Con cứ nói thật,” lão Đàm nói. “Nói thật thì không ai trách con đâu.”

Tiểu Đào nhìn sang mẹ. Dưới làn khói, mặt bà xám ngắt, đôi tay đặt bên gối run lên từng hồi, thấy con nhìn sang bà vẫn lắc đầu với nó. Những lời đồn mấy tháng nay cứ dội về trong đầu nó, người chết ngoài biển được đưa về thì không ở lâu được, biển chưa đòi được người thì biển chưa yên. Nó nghĩ tới bàn tay năm ấy, nghĩ nếu Uyên ca ca quả thật là người dưới biển lên thì nói ra cũng không phải nói sai, nói ra rồi biết đâu biển sẽ yên, mẹ nó sẽ được về. Nó mở miệng, kể lại đúng những điều đã kể với mẹ bên bếp lửa đêm nào, nhưng lần này là cả gian miếu cùng nghe.

Nó kể xong, trong thiên điện chỉ còn tiếng hương nổ lách tách. Phùng Viễn nhắc lại từng chữ, nhắc thật chậm cho cả gian miếu cùng nghe rõ những thứ bất thường ở căn nhà bãi bắc kia. Lão Đàm nhắm mắt chắp tay lẩm nhẩm khấn, và tối ấy mẹ nó được về thật. Về tới nhà, mẹ nó vẫn rót cho nó một chén nước nóng như mọi tối, rồi quay vào nằm xoay mặt vào vách. 

Tiểu Đào ngồi ôm chén nước tới khi nước nguội ngắt, tự nhủ đi nhủ lại rằng mình chỉ nói thật…

—

Ngay tối ấy Lưu đại phu tất tả chạy sang bãi bắc, tới nơi thì trời đã tối hẳn. Lão đứng ngoài bậc cửa không chịu vào, hơi thở còn dồn dập mà kể rằng con gái Ngô tẩu đã khai trước mặt cả miếu chuyện hai năm trước tay Tiểu Uyên bị vỏ hà rạch tới xương, chỉ hai hôm sau đã lành, và lão Đàm đã đứng trước hương án tuyên cáo với cả làng rằng ngày mười lăm tháng này sẽ làm lễ Quy Nguyên Tịnh Hải.

Chuyện bàn tay là lần đầu ông nghe từ miệng người ngoài, nhưng ông không còn lòng dạ nào nghĩ tới nữa, bởi cái tên lễ tế kia vừa lọt vào tai thì cả người ông đã lạnh toát. Lệ ấy ông từng nghe người xưa kể lại, người bị cho là biển chưa nhận sẽ là người chịu tế, phải tự mình bước lên miếu, tự quỳ trước hương án, vì cưỡng ép thì biển sẽ không nhận. Quỳ rồi mới bị trói lại tới lúc hoàng hôn, người ta sẽ đâm một nhát từ sau lưng xuyên qua tim để máu chảy về biển, hồn theo máu mà quy về biển cả. Mấy đời nay làng chưa làm lại lần nào, và trong lời người xưa, người đã quỳ trước hương án thì chưa từng có ai đứng dậy được.

“Đi ngay đi, tiên sinh,” Lưu đại phu run giọng tới mức phải ngừng lại mới nói hết được. “Đêm nay được thì đi ngay đêm nay, đừng chờ đợi nữa.”

Ông phải vịn lấy khung cửa mới đứng vững. Trong nhà, Thẩm Uyên đang đứng bên bàn, ngọn đèn hắt lên một bên mặt hắn, vẫn là gương mặt buổi sáng mười năm trước ông nhặt về từ bãi cát. Ông nhìn con rồi nghĩ tới một mũi dao từ sau lưng, lồng ngực đã thắt lại không thở nổi.

“Đi thôi,” ông nói. “Đêm nay đi ngay.”

“Đêm nay sóng còn lớn. Đợi đêm mai, canh tư nước rút rồi chúng ta đi,” Thẩm Uyên bước đến đỡ lấy ông.

Hứa Nghiên càng thêm nóng ruột, nghĩ ra hướng nào là nói ngay hướng đó, đường đèo, rồi hang đá sau mỏm đá đen để lánh nạn tạm thời, rồi nhà lão Giang. Thẩm Uyên nghe hết rồi lần lượt gạt đi. Đường đèo người đi không nổi, trai tráng trong làng đuổi theo nửa buổi là kịp. Hang đá thì gió bắc, người không chịu nổi một đêm. Nhà ai cho hai người trú nhờ cũng sẽ bị liên lụy, còn nhà ta mà tắt đèn thì sáng mai cả làng sẽ biết hai cha con đã bỏ trốn. Hắn nói chậm rãi, giọng nhẹ nhàng phân tích từng điều một như người đã đi hết từng hướng đi ấy tới tận cuối đường rồi quay về. Ông nghe xong, lòng lại thấy lạnh hơn cả lúc Lưu đại phu vừa báo tin.

“Có việc này con phải nói thật với người,” hắn nói thêm. “Phùng Viễn mà nghi ngờ thì đêm mai bến thuyền sẽ có người canh, chuyến thuyền ấy chỉ còn trông vào may rủi.”

Ông im lặng cân nhắc một lúc lâu rồi quyết định:

“Dù chỉ còn một phần may thì ta vẫn đi.”

“Cứ để đèn sáng như mọi đêm,” hắn nói. “Người yên tâm nghỉ ngơi đi.”

Đêm ấy, Thẩm Uyên ngồi bên ngọn đèn, nhìn ông trở mình mãi không yên. Mỗi lần nghe ông trở dậy hắn lại chỉnh bấc đèn cho sáng thêm một chút để bên ấy nhìn sang còn thấy. Hắn đã đoán được đêm mai bến thuyền sẽ có người canh từ lúc Lưu đại phu còn đứng ngoài cửa. Chỉ là ông đã nói con đi đâu thì ta đi đó, nên chuyến thuyền canh tư hắn vẫn sẽ đưa ông đi. Thuyền không ra khỏi được bến thì hắn tự bước lên miếu, chỉ cần ông được về nhà.

—

Trời còn chưa sáng rõ, lão Giang đã sang tới cổng với bên vai áo còn ướt sương. Lão hạ giọng bảo rằng thuyền vẫn buộc ở cọc ngoài cùng phía bắc bến, chập tối lão sẽ lén mang mấy thùng nước xuống khoang, chỉ có điều từ sáng nay người của Phùng Viễn đã ra đứng canh đầu bến.

“Tối qua ta đập bàn giữa tửu quán hỏi rằng nhà tiên sinh ở yên lành mười năm nay, làng mình lấy cớ gì mà đòi người?” lão hừ một tiếng. “Sáng ra lưới phơi trước cửa đã bị ai cắt mất mấy chỗ. Cắt thì cắt, lưới rách thì vá!”

Thẩm Uyên biết thuyền lão lúc này là nơi dễ bị để mắt tới nhất, nhưng cả bến chỉ còn lão dám chở hai người bọn họ. Hắn dặn lão chập tối đừng mang thứ gì xuống thuyền và cũng đừng sang bãi bắc thêm lần nào nữa, nước uống và hành trang hắn sẽ tự mang theo. Đêm nay lão cứ ngồi vá lưới dưới mạn thuyền như mọi đêm, canh tư nước rút thì hai cha con sẽ theo lối sau rặng phi lao xuống cọc phía bắc, khỏi phải đi qua làng.

Lúc tiễn lão Giang ra cổng, ông chia số tiền trong nhà làm hai. Phần ít ông giữ lại để đi đường, còn phần nhiều thì dúi cả vào tay lão và nhờ lão từ nay đầu tháng nào cũng mang giúp một gói sang nhà họ Hà. Lão Giang gật đầu:

“Tiên sinh cứ yên tâm, ta nhất định sẽ mang đủ, không thiếu một xu.”

Lão vừa dứt lời thì ngoài cổng tre đã có người đứng đó từ bao giờ. Ông ngẩng lên nhìn và sững cả người khi nhận ra Hà tẩu. Từ năm A Mãn không về, bà chưa từng đặt chân tới bãi bắc và cũng chưa từng nói với ông nửa lời.

“Tiền ấy không cần gửi nữa đâu.” Bà đưa qua cổng một gói vải buộc kín. “Trong này có mấy thang thuốc ho với ít lương khô, đường xa tiên sinh mang theo mà dùng. Tiên sinh đưa Thẩm Uyên đi đi, không cần lo cho nhà ta nữa.”

Ông vừa định nói gì đó thì bà đã cắt ngang:

“Tiên sinh đừng nói gì cả.” Bà nhìn qua vai ông vào trong nhà, nơi Thẩm Uyên đang đứng bên bàn. “Ta không tha thứ được đâu… cả đời này cũng không thể… nhưng Thẩm Uyên còn trẻ quá, biển đã lấy con trai ta rồi…”

Nói xong bà quay đi rất nhanh. Bao nhiêu năm ông vẫn mong được nghe bà nói với mình một câu, không ngờ câu đầu tiên bà nói lại là để cứu con ông. Ông ôm chặt gói vải trong hai bàn tay run run đứng nhìn theo cho tới khi bóng bà khuất hẳn sau rặng phi lao.

Chiều ấy hai người thu xếp hành trang. Thuyền nhỏ, lại phải băng qua rặng phi lao trong đêm nên đồ mang theo được không nhiều. Ông đứng trước mấy chồng sách góp nhặt cả một đời rất lâu, rốt cuộc chỉ mang theo cuốn sổ ghi chép về biển, gói kỹ trong hai lớp vải. Thẩm Uyên lấy từ đáy rương ra hộp kim chỉ của bà, mảnh ngói vỡ vẫn nằm dưới đáy hộp, rồi đặt cả hộp vào tay ông. Ông ôm cái hộp vào lòng, lúc ấy mới nhớ ra mình suýt nữa thì bỏ quên nó. Phần mình hắn không mang theo thứ gì, chỉ đi bên cạnh giúp ông mang vác đồ.

Chiếc ghế mây của bà ông kê lại bên song cửa phía đông, nơi vạt nắng mỗi sáng vẫn rọi vào, tay vịn vẫn còn sợi mây Tiểu Uyên đan lại năm nào. Ông đứng nhìn căn nhà một lượt rồi tự cười mình:

“Cây muốn lặng mà gió chẳng chịu dừng. Mấy chồng sách kia mà biết nói, chắc giờ đang mắng ta là kẻ bạc tình.”

Canh tư đêm mười ba, gió vẫn chưa ngớt, hai cha con ra khỏi nhà. Cánh cửa gỗ ngấm muối hễ khép vào là rít lên một tiếng dài. Thẩm Uyên đưa tay định kéo cho khép hẳn rồi lại thôi, để nguyên cánh cửa khép hờ như thế rồi đỡ ông bước xuống bậc hiên. Lối đi sau rặng phi lao tối mịt, cát lún tới mắt cá chân, gió luồn qua tán lá rít lên từng hồi. Thẩm Uyên đi sát bên ông, tay đỡ dưới khuỷu tay ông như mọi khi. Đi được một quãng thì cơn ho lại dâng lên, ông đưa ống tay áo bịt chặt miệng cho tiếng ho nhỏ hết mức, ho xong phải đứng lại thở một hồi lâu. Hắn đứng đợi chứ không giục câu nào. Ông biết con đang tính từng khắc theo con nước, mỗi lần ông dừng là mất đi một khắc, thế nhưng bàn tay dưới khuỷu tay ông chưa lần nào đẩy ông đi nhanh hơn.

Ra khỏi rặng phi lao thì đã thấy bến. Mấy chiếc thuyền lớn kéo lên bãi nằm im trong bóng tối, đuốc của người canh ở đầu bến xa tít chỉ còn là một đốm lửa nhỏ. Dưới mạn thuyền ở cọc ngoài cùng phía bắc, lão Giang ngồi thu mình chờ sẵn, thấy hai người thì đứng dậy giơ tay vẫy. Nước đã rút quá nửa đúng như Thẩm Uyên tính trước đó. Ông vừa thở ra được một hơi thì sau mấy chiếc thuyền lớn kia bỗng bùng lên năm sáu ngọn đuốc.

Người của Phùng Viễn từ sau mạn thuyền ùa ra, không một tiếng hô hoán. Thẩm Uyên kéo ông ra sau lưng mà che rồi xoay về phía ít đuốc hơn, nhưng phía ấy cũng đã có người chặn. Ông thấy con đứng chắn trước mình, hai bàn tay buông xuôi không hề nắm lại. Bọc đồ tuột khỏi vai làm cuốn sổ rơi ra cát, ông vừa nhoài người ôm được nó vào lòng thì hai kẻ đã vòng ra sau ghì lấy vai ông, ấn ông quỳ xuống vũng nước vừa rút, lạnh buốt tới tận xương.

Phùng Viễn cầm đuốc bước ra sau cùng:

“Lão Giang, tưởng ta không biết lão định làm gì sao?” Gã quay sang Thẩm Uyên. “Ngươi đi rồi thì biển biết tìm ai mà đòi? Con trai ta tới giờ còn chưa tìm thấy xác.”

“Tiểu Uyên… chạy đi!”

Tiếng ông vừa thoát ra khỏi cổ đã vỡ thành một tràng ho. Kẻ đang giữ ông ấn vai ông xuống thấp hơn, một con sóng chợt tràn vào ướt tới tận thắt lưng ông.

“Nó chạy thì tiên sinh lên miếu thay nó,” Phùng Viễn nói. “Ngô tẩu mới ngồi trong thiên điện có nửa ngày mà lúc bước ra còn đứng không vững. Tiên sinh mang bệnh thế kia thì chịu được mấy đêm?”

Ánh đuốc hắt lên một bên mặt Thẩm Uyên. Mười năm sống bên con, ông đã quen đọc trên gương mặt ấy lúc nào còn đang tính toán và lúc nào đã tính xong, nên vừa nhìn ông đã biết lúc này hắn đã tính xong rồi. Ông cứ lắc đầu với con mãi không thôi, cổ họng nghẹn cứng tới mức không thốt nổi một tiếng nào.

“Thả cha ta ra,” Thẩm Uyên gằn giọng.

Kẻ đang giữ ông bật cười:

“Thứ ma quỷ như ngươi mà cũng có cha sao?”

Hứa Nghiên không còn nghe thấy tiếng cười của gã kia nữa, bên tai chỉ còn vang mãi một chữ con vừa nói. Con nói câu ấy bằng cái gằn lạnh lẽo mà mười năm nay ông chưa nghe bao giờ, khiến ông đang ho cũng phải nín bặt. Ông không ngờ rằng có ngày được nghe con gọi một tiếng cha, lại nghe giữa bãi cát lạnh này, khi hai đầu gối mình còn ngâm dưới nước và con mình sắp bị người ta trói đi.

“Thả cha ta ra trước,” Thẩm Uyên quay sang Phùng Viễn. “Lệ Quy Nguyên phải để người ta tự nguyện quỳ trước hương án, cưỡng ép thì biển sẽ không nhận, có lễ tế gì cũng bằng không, điều ấy lão Đàm biết rõ hơn ai hết. Để lão Giang đưa cha ta về nhà ngay bây giờ thì ta tự theo các người lên miếu, không cần ai phải lôi. Sáng mai mời Lưu đại phu tới xem bệnh cho người. Tới ngày mười lăm, người còn được yên ổn thì ta tự quỳ trước hương án.”

“Ngươi nói thì ta phải tin sao?” 

“Không đủ thì tới ngày lễ tế các người cứ việc lôi ta lên.”

Phùng Viễn còn đang ngần ngừ thì lão Giang, dù đang bị hai người ghì chặt bên mạn thuyền, đã rướn cổ lên mà quát:

“Hứa tiên sinh bệnh tới thế kia mà chết trong thiên điện thì lão Đàm có gánh nổi không? Rồi cả cái làng này sẽ nói gì? Chưa kể mười năm nay Thẩm Uyên đã nói sai với ai một câu nào chưa?”

Mấy người cầm đuốc đưa mắt nhìn nhau, có người đã lùi lại một bước. Phùng Viễn nhìn ông hồi lâu rồi mới hất hàm cho người buông ông ra, buông cả lão Giang. Ông lết qua vũng nước tới chỗ con, níu lấy ống tay áo hắn. Thẩm Uyên quỳ xuống nước đỡ ông dậy, phủi mấy vạt cát dính trên tay áo ông:

“Con đừng đi với họ…”

Thẩm Uyên cúi xuống sát bên tai ông, nói nhỏ tới mức chỉ mình ông nghe được:

“Người đừng sợ, cứ ở nhà đợi con.” Hắn ngừng một chút. “Cha, hôm ấy người đừng lên miếu.”

Câu ấy ông nghe rõ từng chữ mà không sao hiểu nổi. Con sắp đi chịu chết lại dặn ông ở nhà đợi, lại dặn ông đừng lên miếu, như thế thì ông làm sao mà không lên cho được? Ông chưa kịp hỏi thì hắn đã gỡ từng ngón tay ông ra khỏi ống tay áo mình, gỡ thật chậm, rồi đặt bàn tay ông vào tay lão Giang. 

Lão Giang dìu ông đi về phía rặng phi lao, hai tay ông vẫn ôm chặt cuốn sổ trước ngực. Vừa tới bóng cây ông ngoái lại thì dãy đuốc đã khép kín quanh Tiểu Uyên, chậm rãi theo lối đá đi lên phía căn miếu.


Chương 4: Về nhà

Lão Giang đưa ông về tới nhà thì trời vừa hửng sáng. Cánh cửa vẫn khép nhẹ như lúc hai cha con ra đi, gió phương bắc lùa vào suốt từ đêm tới giờ, giấy trên bàn bay xuống nằm rải rác khắp nền đất, ông bước qua mà không còn tâm tư cúi nhặt tờ nào. Lão Giang đỡ ông nằm xuống, chưa kịp đi gọi thì Lưu đại phu đã tới bảo người của Phùng Viễn sang gõ cửa nhà lão từ lúc trời còn chưa sáng. Lão ngồi bắt mạch, tay còn đặt trên cổ tay ông mà mặt đã sa sầm:

“Phế khí vốn đã yếu rồi, đêm qua lại còn ngâm nước lạnh,” lão nói. “Ông nằm yên mà uống thuốc. Giờ mà còn bước ra khỏi cửa thì…”

Lão ngập ngừng nhưng Hứa Nghiên cũng chẳng hỏi nốt. Gần trưa, nhân lúc lão Giang ra bến dò tin, Hứa Nghiên chống gậy ngồi dậy lấy cuốn sổ ra. Bao nhiêu năm ông ghi chép về biển, ghi từ thuở tóc còn xanh, rất lâu trước ngày Tiểu Uyên dạt vào bờ. Trong ấy có trận bão năm A Mãn ra khơi, có hai trận bão muộn những năm vợ chồng ông mới dọn ra bãi bắc, có cả những mùa sóng lừng phương nam kéo về ròng rã mà trong làng chẳng có người lạ nào. Người làng không biết chữ thì ông đọc cho họ nghe, đọc từng năm từng mùa, đọc tới khi có người chịu tin rằng biển dữ không phải vì con ông. Ra khỏi cửa, gió thổi tạt vạt áo, ông mới đi được mấy bước đã phải dừng lại thở.

Nhà đầu tiên ông gõ cửa là nhà lão già vá lưới ở đầu ngõ, người mười năm trước còn sang tận nhà xin ông viết cho đôi câu đối. Ông mới nói được nửa câu thì cánh cửa đã khép lại cài then bên trong lạch cạch mấy tiếng. Nhà thứ hai có người thiếu phụ cho ông vào ngồi, rót cho ông bát nước nóng, ngồi nghe ông đọc hết cả một mùa bão rồi mới cúi đầu nói nhỏ:

“Ta tin tiên sinh... Nhưng phu quân ta lại chèo thuyền cho nhà họ Phùng...”

Bà tiễn ông ra tận cửa, dúi vào tay ông hai chiếc màn thầu còn ấm. Tới nhà lão ngư phủ cao tuổi nhất bến, ông mới đọc tới trang ghi trận bão năm A Mãn ra khơi thì lão đã đưa tay ngăn lại:

“Năm ấy tiên sinh sai một lần thì làng này mất một đứa,” lão nói. “Năm nay tiên sinh đúng thì mất cả một thuyền người. Lão già rồi, không còn biết nên tin vào đâu nên tiên sinh đừng đọc nữa.”

Ông muốn bảo lão hai chuyện ấy khác nhau, vậy mà vừa mở miệng đã thấy cơn ho dâng lên, ông ngồi ho mãi tới khi lão phải đứng dậy vỗ lưng cho.

Chiều ấy ông tới nhà Ngô tẩu. Cửa đã khép, trong sân mấy tấm lưới phơi từ sáng chưa ai dọn, gió thổi phần phật. Người ra mở cổng là Tiểu Đào. Vừa thấy ông, mặt con bé đã trắng bệch, tay vẫn giữ cánh cửa mà chẳng biết nên mở ra hay nên khép lại. Chuyện ở miếu ông đã nghe Lưu đại phu kể. Đi suốt từ trưa tới giờ, ông vẫn chưa nghĩ ra lúc gặp nó thì mình sẽ nói gì, giờ đứng trước mặt nó rồi cũng vẫn chưa nghĩ ra.

“Ngô tẩu có nhà không?” ông hỏi. “Ta tới xin hai mẹ con nói giúp cho Tiểu Uyên một câu...”

Tiểu Đào quỳ sụp xuống ngay giữa cổng, giọng run tới mức ông phải cúi xuống mới nghe ra:

“Tiên sinh… con xin lỗi…”

Nó nói tới đó thì không thành tiếng nữa. Cơn giận ông nén từ đêm nghe Lưu đại phu kể giờ mới trào lên tới cổ. Nhìn đôi vai gầy cứ run lên từng hồi dưới chân mình, ông lại không biết trút nó vào đâu. Ông đưa cuốn sổ ra trước mặt nó:

“Chuyện ấy để sau... Ta đọc không nổi nữa… con biết chữ thì đọc thay ta.”

Trong nhà vọng ra tiếng Ngô tẩu. Từ hôm ở miếu về bà nằm liệt giường, giọng yếu hẳn đi, phải gắng lắm mới gọi được cho to:

“Tiểu Đào, đừng đi. Người ta bảo nhà mình trúng tà rồi…”

Tiểu Đào đứng dậy, đón lấy cuốn sổ từ tay ông:

“Mẹ, Uyên ca ca là gì con không biết. Con chỉ biết ca ca chưa từng hại ai.”

Nó ôm cuốn sổ vào lòng rồi dìu ông đi, bàn tay đặt dưới khuỷu tay ông, nơi Tiểu Uyên vẫn hay đỡ. Từ chiều tới tối, nhà nào chịu mở cửa thì Tiểu Đào đứng ngay bậc cửa mà đọc. Tới căn nhà gần cuối làng, người ra mở cửa là một phụ nhân trạc tuổi mẹ nó, vừa trông thấy cuốn sổ trên tay con bé với ông già chống gậy đứng phía sau thì đã cau mặt lại:

“Con gái Ngô tẩu đấy à? Hôm trước còn đứng giữa miếu kể tội người ta, hôm nay lại ôm sổ đi khắp làng mà bênh. Đúng là trúng tà thật rồi!”

Hứa Nghiên thấy con bé cúi gằm mặt, hai bàn tay siết chặt lấy gáy sổ, ông đã nghĩ nó sẽ rời đi như ở mấy nhà trước. Vậy mà nó lại mở sổ ra, giở ngược về những trang ông viết từ thuở mới dọn ra bãi bắc, rồi cất giọng đọc:

“Cuối hạ năm thứ ba ở bãi bắc, ngày mười hai tháng tám, quá trưa gió nam trở sang đông, nước dưới chân cọc dâng quá vạch cũ một gang tay. Đêm ấy bão về, sóng đánh lên tận rặng phi lao. Sáng mười bốn, bãi nam có ván thuyền dạt vào, thuyền nhà họ Lục vẫn chưa thấy về…”

Tới mấy chữ cuối thì giọng con bé nghẹn lại. Ông đứng sau lưng nó mà nghe lại từng chữ mình viết từ ngày ấy, không ngờ nó biết tìm tới trang này, càng không ngờ nó dám đứng trước cửa nhà này mà đọc ra.

Phụ nhân kia vẫn đứng ở bậc cửa, bàn tay đặt trên cánh cửa từ lúc nãy mà mãi không kéo vào. Trong nhà có tiếng một ông lão ho khan rồi hỏi vọng ra ai đấy, bà quay vào đáp không có ai, rồi lại quay ra cho tới khi Tiểu Đào gấp sổ lại cúi đầu chào. Hai người đi gần tới đầu ngõ mới nghe sau lưng có tiếng cửa khép, khép chậm tới mức ông tưởng người trong ấy vẫn còn nhìn theo.

Những nhà sau, Tiểu Đào vẫn đọc như thế. Có người nghe xong lặng lẽ quay vào nhà, có người vừa thấy nó đi tới đã khép cửa. Giọng nó có lúc run đi, nhưng vẫn lại đọc tiếp.

-

Thẩm Uyên bị giữ trên miếu từ đêm mười ba. Hắn tự mình đi lên dốc như lời đã hứa, tới trước hiên miếu thì dừng lại, để mặc người ta trói hai tay ra sau, buộc vào cây cột đá dưới mái hiên. Người canh thay phiên ngày đêm không cho ai lại gần quá mười bước. Suốt ngày mười bốn, người làng lũ lượt kéo nhau lên dốc mà xem. Người ta đứng ngoài nhìn vào, ai cũng chỉ dám nhìn thoáng qua rồi lảng mắt đi. Gió phương bắc thổi từ đêm qua tới giờ vẫn chưa ngớt. Đám người canh quấn mấy lớp áo bông dày vẫn phải co ro nép sau cánh cửa miếu cho khuất gió. Ngoài hiên, Thẩm Uyên chỉ mặc một lớp y phục đơn bạc, lưng vẫn thẳng như lúc mới bước lên dốc. Gió lạnh thổi tung mái tóc đen để lộ gương mặt thanh tĩnh như cũ, không vương chút sương gió nào của một đêm thức trắng giữa trời lạnh. Hắn ngồi nhìn ra biển, rất lâu mới chớp mắt một lần.

Một bé gái núp sau vạt áo mẹ, ló đầu ra hỏi nhỏ:

“Mẹ, người đó không lạnh sao?”

Người mẹ vội bịt miệng con, kéo nó lùi thêm mấy bước. Một lão nhân đứng bên chống gậy, lắc đầu:

“Mười năm sống với gió biển, mặt người phàm đã phải sạm, phải nhăn. Các người nhìn kỹ mà xem, gương mặt kia có chỗ nào gió biển chạm được tới không?”

Đúng lúc ấy Thẩm Uyên quay đầu nhìn về phía lối xuống dốc, chỗ đám người đang đứng. Gã ngư phủ trẻ đứng đầu tiên giật lùi suýt ngã chúi xuống đá. Mãi sau gã mới mở miệng được, giọng lạc hẳn đi:

“Hắn nhìn ta… mà như nhìn thấu tới tận xương.”

Tối ấy Hứa Nghiên bắt Tiểu Đào đưa mình lên miếu. Người của Phùng Viễn chắn ngang lưng dốc, nhất quyết không cho ông bước thêm. Từ chỗ ấy nhìn lên, ông chỉ thấy dưới mái hiên chập chờn ánh đuốc có một bóng người ngồi thẳng lưng bên cây cột đá. Ông gọi Tiểu Uyên, gió ngược nên bóng người trên ấy vẫn ngồi yên. Ông cố gắng gọi to thêm tiếng nữa, lần này hắn mới quay về phía ông. Giọng hắn theo gió vọng xuống:

“Tới giờ uống thuốc rồi. Người về đi.”

Ông đứng sững nơi ấy. Mấy mùa đông ông ốm, tối nào con cũng nhắc ông câu đó. Ông bật cười, tiếng cười vừa ra tới cổ họng đã nghẹn lại. Tiểu Đào phải kéo tay áo mấy lần ông mới chịu quay về.

Sáng mười lăm ông lại đi. Tiểu Đào đọc tới khản cả giọng. Lão Giang theo sau, hễ có ai buông lời khó nghe thì lão bước lên đứng chắn trước mặt hai người. Cũng có vài nhà nghe xong thì bảo chiều nay sẽ không ra miếu, có người còn lặng lẽ gói cho ông mấy thang thuốc ho. Nhưng hễ ông nhắc tới Phùng Viễn thì nhà nào cũng cúi mặt mà lảng sang chuyện khác. Gần trưa, tới gốc tùng già ven đường nơi năm nào ông ngồi kể cho Tiểu Uyên nghe chuyện A Mãn, ông khuỵu xuống ho một hồi dài, ho đến bật cả máu. Lão Giang cùng Tiểu Đào phải dìu ông về.

Chiều mười lăm, gió phương bắc đã lặng. Mặt biển phẳng lặng nghe rõ từng tiếng nước vỗ dưới chân bậc đá. Miếu dựng trên mỏm đá, cửa trông ra biển. Hương án đặt ở cuối khoảng sân đá rộng trước cửa miếu, phía sau là mấy bậc đá đã mòn chạy thẳng xuống biển. Người ta tháo dây trói Thẩm Uyên khỏi cây cột đá, thay cho hắn bộ bạch y dành cho người sắp về với biển cả rồi lại trói hai tay ra sau. Hắn tự mình bước tới quỳ xuống trước hương án, mặt hướng ra khơi. Mái tóc đen buông xõa trên nền áo trắng, lưng hắn vẫn thẳng như ba hôm nay. Tà dương đã ngả về phía đèo. Nắng chiều hắt tới từ sau lưng viền một đường sáng mảnh quanh mái tóc và đôi vai, đổ bóng hắn dài qua hương án rồi trải xuống từng bậc đá cho tới khi chạm mặt nước. Sau lưng hắn là người của cả làng, tiếng chân người dồn lên dốc lẫn trong tiếng xì xào. Giữa những âm thanh ấy, hắn chỉ lắng tai tìm một tràng ho quen thuộc. Tìm mãi không thấy, hắn mới thở ra, hơi thở nhẹ nhõm đầu tiên kể từ đêm mười ba đến nay.

Lão Đàm từ trong miếu mang thanh tế đao ra, lưỡi đao vừa chạm qua nước biển còn ướt lạnh. Lúc lão vòng qua hương án để ra sau lưng hắn, Thẩm Uyên ngẩng lên, cất giọng vừa đủ một người nghe:

“Ba mươi năm nay ông thắp hương cho những người làng bỏ mình ngoài biển. Việc này ông đừng làm.”

Lão Đàm dừng bước, bàn tay cầm đao run lên, nước biển trên lưỡi đao nhỏ xuống sân đá từng giọt. Lão đứng nguyên chỗ ấy mãi không nhấc nổi chân. Phùng Viễn từ trong đám đông bước ra đoạt lấy thanh đao trong tay lão:

“Ông không làm được thì để ta.”

Từ hôm biển trả về mảnh ván khắc dấu nhà mình, gã chưa từng khóc. Chiều nay mắt gã chỉ hằn đỏ những tia máu. Gã bước ra sau lưng Thẩm Uyên, đứng chờ nắng tắt.

Hứa Nghiên lên tới chân dốc thì mặt biển đã đỏ rực một màu hoàng hôn. Ông được dìu về nằm chưa ấm chỗ đã bắt Tiểu Đào đỡ dậy, Lưu đại phu can ngăn thế nào cũng không lay chuyển được. Suốt dọc đường con bé vừa khóc vừa cùng lão Giang dìu ông đi, cứ được một quãng lại phải dừng chân chờ ông dứt cơn ho. Người làng đã đứng chật cả con dốc, trước mắt ông chỉ toàn những tấm lưng. Ông cứ thế chen vào, Tiểu Đào đi bên cạnh khẩn khoản xin người ta nhường lối. Thiếu phụ hôm qua rót nước cho ông ngoảnh lại trông thấy liền kéo chồng dạt sang một bên, mấy người quanh đó cũng lần lượt tránh theo. Kẻ nào không chịu nhường thì ông cứ thế lách qua, cây gậy có vướng vào chân ai ông cũng mặc kệ.

Tới được đầu sân đá thì thanh đao trong tay Phùng Viễn đã giơ cao. Ánh tà dương sau lưng đổ bóng ông dài qua sân đá, chạm tới lưng Thẩm Uyên trước cả tiếng ông gọi. Ông vừa gọi được một tiếng Tiểu Uyên thì nhát đao đã hạ xuống, cắm vào chỗ bóng ông đang che phủ trên lưng con. Thẩm Uyên chỉ khẽ ngẩng đầu đúng lúc tiếng ông gọi vừa tới, rồi ngã sấp xuống trước hương án. Mái tóc đen xõa tràn trên nền đá. Sau lưng hắn, tấm bạch y đỏ thẫm dần. Máu chảy ra sân đá, qua chân hương án rồi theo bóng hắn đổ xuống từng bậc đá, hòa vào biển cả.

Khoảnh khắc lưỡi đao ngập vào rồi rút ra, cả con dốc bỗng lặng ngắt như tờ. Sóng dưới chân bậc đá và gió trên mái miếu cùng lúc im bặt, yên tĩnh tới mức người ta nghe rõ cả tiếng máu dồn trong tai mình. Chợt có một thứ vô hình vô thanh đi qua sân đá, nặng tựa cả mặt biển đè xuống. Nó tràn qua những người đứng sát hương án trước rồi mới lan dần xuống tận chân dốc. Kẻ đứng gần thì tai ù đặc, trước mắt tối sầm đi. Người đứng xa hơn thì thấy choáng váng, chân đứng không vững. Phùng Viễn đứng ngay sau lưng hắn, bàn tay vẫn giữ nguyên thế nắm chuôi đao. Thanh đao trên tay đã rơi xuống sân đá từ lúc nào không hay biết.

Mọi người còn chưa kịp hoàn hồn thì ngoài khơi, vùng biển nhuộm một màu hoàng hôn đỏ rực bỗng cuộn trào. Mặt nước dâng cao rồi vỡ tung. Một thân hình đen sẫm lao vút lên khỏi mặt biển, sừng sững như một ngọn núi vừa thức giấc. Hai chiếc vây dài trắng toát dang rộng hai bên thân. Nước trên mình nó trút xuống như từng dải lụa rực dưới ánh chiều. Trong khoảnh khắc ấy, cả thân nó treo giữa trời nước đỏ thẫm, hệt như lời tích xưa. Rồi nó xoay mình đổ nghiêng xuống biển, sóng nước tung lên trắng xóa như trăm ngàn bọt tuyết. Tiếng nước vỡ dội vào tận bờ như sấm rền…

Bọt trắng loang rộng mãi trên mặt biển. Một lúc sau, nó nổi lên giữa vùng bọt ấy, phun một cột hơi trắng vút cao quá đầu ghềnh. Gió đưa làn hơi vào tới bờ, phủ lên mặt người trên dốc một tầng sương mặn. Sau cùng mới tới tiếng thở của nó, trầm và dài như hồi chuông đồng ngân lên từ nơi rất xa, vang mãi trong lồng ngực từng người rồi mới dứt.

Khi nó lặn xuống, nơi đó chỉ còn một vùng nước xoáy, xoáy chậm dần rồi phẳng lặng. Tới lúc ấy người ta mới thấy vầng trăng mười lăm đã lên khỏi mặt biển từ khi nào, tròn và nhạt, soi xuống vùng nước như chưa từng có gì đi qua.

Tai người ta lúc ấy mới thôi đau. Có người ngơ ngác nhìn quanh như vừa tỉnh một giấc mộng, lại có người thấy mình đã đứng trên bậc đá cao hơn, không nhớ đã bước lên từ lúc nào. Cả con dốc vẫn chưa ai cất tiếng. Giữa đám đông, Hà tẩu đã khóc từ lúc nào, đôi môi run mãi mới thành lời. Bà khàn giọng khẽ ngâm hai câu cuối của bài thơ người làng vẫn truyền cùng tích cá lớn:

Gửi bóng cho dương thế,
Hồn về biển lặng thinh...

Câu thơ vừa dứt, những người đứng quanh bà lần lượt quỳ xuống. Chẳng mấy chốc cả con dốc đã quỳ rạp về phía biển. Tiếng khóc lẫn trong tiếng khấn vái... Có người gọi tên người cha bỏ mình ngoài biển từ hai mươi năm trước, có lão bà ôm mặt gọi đứa con năm nào không về. Ai đó cất cao giọng rằng biển đã nhận người, từ nay biển đã yên rồi. Phùng Viễn vẫn đứng giữa sân đá với hai bàn tay vấy máu, thanh đao nằm dưới chân. Gã nhìn mãi ra chỗ mặt nước vừa khép lại, rồi cũng quỳ sụp xuống gọi tên đứa con trai về phía biển, gọi tới khi giọng chỉ còn là tiếng nấc…

Cả con dốc quỳ rạp, chỉ còn một ông già vẫn đứng. Ông buông cây gậy, lê từng bước chậm chạp giữa những tấm lưng cúi rạp mà tiến về phía hương án. Nắng tắt dần, bóng con ông dưới bậc đá cũng nhạt dần rồi tan vào nước.

Lão Giang theo sát sau lưng ông, rút đoản đao cắt đứt dây trói trên tay hắn. Hứa Nghiên quỳ xuống, đỡ lấy đầu Thẩm Uyên đặt lên đùi mình. Gương mặt ấy vẫn y như buổi sáng mười năm trước ông nhặt hắn trên bãi, lạnh ngắt hệt như sáng hôm ấy. Ông cúi sát xuống chờ một hơi thở như đã từng chờ năm nào nhưng lồng ngực ấy vẫn lặng im…

Ông vạch tấm bạch y ra xem. Vết đao nằm sau lưng ngay tim. Máu đã thôi chảy, chỉ còn rịn ra từng chút đỏ thẫm, nhìn thế nào cũng là vết thương trên thân người đã khuất. Ông cởi áo ngoài của mình đè chặt lên vết thương. Hai tay ông run rẩy ép mãi không chịu buông.

“Biển nhận hồn con ta rồi,” ông nói với lão Đàm, “...thì trả xác con cho ta.”

Lão Đàm nhìn ông, môi mấp máy mấy lần vẫn không thành lời. Một nam nhân người nhà họ Phùng bước lên, bảo rằng theo lệ cũ, người đã về với biển thì thân xác phải để lại cho biển. Gã còn chưa dứt lời, Hà tẩu đã đứng dậy giữa đám đông. Bà bước qua những người đang quỳ tới trước hương án thì dừng lại:

“Để tiên sinh đưa con về.”

Giọng bà không lớn nhưng cả con dốc vẫn nghe rõ từng chữ:

“Con trai ta ra khơi không về, ta đợi cả đời, biển vẫn chưa trả cho ta nắm xương nào.”

Người kia còn định bước tới thì lão ngư phủ hôm trước bảo ông đừng đọc nữa đã đứng dậy chắn ngang trước mặt gã, từ đó không còn ai đứng lên ngăn cản nữa. Lão Giang quay lưng, quỳ một gối xuống sân đá. Ông cùng Hà tẩu và Tiểu Đào đỡ Thẩm Uyên đặt lên lưng lão. Lão Giang cõng Thẩm Uyên đứng dậy rồi bước xuống dốc. Hai cánh tay hắn buông qua vai lão, trên lưng vẫn phủ tấm áo ngoài của Hứa Nghiên. Ông đi bên cạnh, nắm lấy bàn tay con đang buông thõng trước ngực lão Giang mà nói khẽ:

“Ta đưa con về.”

Lúc họ xuống tới chân dốc, trăng mười lăm đã lên cao, trải một vệt sáng dài từ ngoài khơi vào tận bãi. Dưới ánh trăng ấy, có mấy bóng người chậm rãi đi dọc bãi cát về ngôi nhà phía bắc…

—

Về tới nhà thì trời đã tối hẳn. Lão Giang đặt Thẩm Uyên nằm lên chiếc giường kê sát vách rồi lặng lẽ ra ngồi ngoài bậc hiên. Tiểu Đào thu mình ngồi xuống cạnh lão, hai người không ai lên tiếng. Hà tẩu đưa tới cửa thì dừng lại. Bà đứng quay lưng vào nhà rất lâu rồi mới chịu đi.

Ông nhóm bếp đun nước, hệt như buổi sáng mười năm trước. Cát trên người con lau một lượt là sạch, riêng chỗ máu khô trên da thì phải thấm nước ấm mới lau sạch được. Ông nương tay hết mức, lau tới đâu lại ngước nhìn xem con có nhíu mày không. Năm ấy con còn biết nhíu mày, ông còn được nhẹ lòng vì thế. Đêm nay gương mặt ấy cứ lặng yên, nước mắt ông rơi xuống chậu nước ấm từ lúc nào không hay. Tới vết đao sau lưng thì tay ông run tới mức phải dừng lại, mãi mới dám chạm vào. Ông lấy vải sạch quấn kín lại rồi thay cho con bộ áo cũ của mình. Bộ áo năm ấy con mặc vào hơi rộng, giờ vẫn rộng không khác chút nào.

Khuya lắm ông mới ra bậc hiên. Ông bảo lão Giang đưa Tiểu Đào về, đêm nay để ông ngồi với con một mình. Lão Giang dắt con bé đi, ra tới cửa còn ngoái lại nhìn. Tiểu Đào cúi đầu bước thẳng mà không dám ngoảnh lại.

Hứa Nghiên vào ngồi bên giường để lửa ngọn đèn cháy nhỏ. Ông nắm lấy bàn tay con đặt trên chăn. Mười năm trước, ông phải giữ chặt cả hai cổ tay này trước ngực mới cõng nổi con về nhà. Đêm nay, ông kể cho con nghe đủ thứ chuyện, chuyện con cá vướng rong năm nào, chuyện bức vẽ con chim mà ông cứ trêu là con gà, rồi dặn mai trời mà có nắng thì phải đem mấy quyển sách ẩm ra hong. Ông nói mãi không dám dừng, sợ mình dừng lại thì trong nhà chỉ còn tiếng sóng.

Gần nửa đêm, ông cố nhớ lại buổi chiều trên miếu thì chợt thấy giữa ấy có một quãng trống. Ông nhớ bóng mình đổ dài qua sân đá, nhớ mình gọi được một tiếng Tiểu Uyên. Sau đó là tiếng Hà tẩu ngâm thơ, là con nằm lạnh trên đùi mình. Lúc lưỡi đao hạ xuống thì không còn lại gì, càng cố nghĩ thì hai bên huyệt thái dương càng đau buốt. Rồi ông nhớ tới câu con ghé tai dặn ở bến thuyền hôm trước: cứ ở nhà đợi con, hôm ấy người đừng lên miếu. Câu ấy ông nghe rõ từng chữ mà tới giờ vẫn chưa hiểu. Ông không dám mong chờ hay hi vọng gì nhưng tâm trí cũng không nỡ bỏ cuộc.

Ông chỉnh đèn cho sáng hơn rồi mài mực, trải giấy lên án thư. Ông định viết về con, viết cái cổ tay năm ấy, gương mặt mười năm không già thêm tuổi nào, cả vết đao trên lưng con đêm nay, để người đời sau biết trên thế gian từng có một người như thế. Bút đã chấm mực, ông lại nhớ tới những gương mặt đứng chen chúc ở con dốc chiều nay. Giọt mực đọng trên đầu bút rơi xuống trang giấy trắng. Ông gấp tờ giấy lại rồi đưa lên ngọn đèn cho cháy hết. Đợi tro giấy nguội hẳn ông mới trải ra một quyển khác. Lần này ông viết những điều muốn để lại cho hậu thế, những điều cả đời đọc sách chưa dạy cho ông mà phải tới tuổi này mới học ra. Viết rằng điều tận mắt thấy thì chớ vội bỏ qua chỉ vì sách xưa không viết. Điều chưa chắc thì cứ ghi là chưa chắc, chớ vì lòng người đang sợ hãi mà nói thay cho trời. Đừng tự quyết thay người khác, dù là vì thương. Nét chữ run rẩy nhưng ngọn bút vẫn mãi không dừng. Cứ viết được mấy dòng, ông lại ngẩng lên nhìn người nằm trên giường. 

Trong những trang giấy ấy chẳng có dòng nào nhắc tới con, dòng nào cũng là điều mười năm nay ông học được bên con.

Đến canh năm, ông gục xuống bên thành giường, tay vẫn nắm chặt tay con. Ngọn đèn cạn dầu đã tắt từ lúc nào. Trong cơn mê man, ông chợt thấy ngón tay trong lòng bàn tay mình khẽ động. Ông bừng tỉnh cúi sát xuống. Dưới lớp áo cũ, lồng ngực con nhô lên rất khẽ rồi lại lặng im. Ông chờ rất lâu, tới khi lồng ngực ấy nhô lên thêm lần nữa, ông mới hay chính mình cũng đang nín thở. Hơi thở của con mỏng như sợi tơ, ông không dám thở mạnh sợ làm đứt mất. Ông khẽ ôm lấy con vào lòng, ôm cả mái tóc còn vương mùi biển. Nước mắt ông rơi xuống mái tóc ấy, rơi mãi cho tới khi ánh ban mai lọt qua song cửa phía đông, rọi xuống cả hai người.


Chương 5: Bữa cơm còn lại

Gần trưa, lão Giang dắt Tiểu Đào sang, trong tay con bé ôm một bó hương. Hứa Nghiên ra đứng chắn ngay bậc cửa. Giọng ông đã khản đặc nhưng từng chữ thốt ra vẫn rành rọt:

“Con ta còn thở. Đêm qua ta tưởng nó đi rồi, tới canh năm mới thấy thở lại.”

Lão Giang sững người, sắc mặt tái đi rồi lại đỏ bừng. Bó hương trong tay Tiểu Đào rơi xuống bậc đá. Con bé đưa hai tay bưng lấy miệng, khóc không thành tiếng. Ông dặn Thẩm Uyên còn yếu lắm, mấy hôm tới phải để nó tĩnh dưỡng, ai có lòng mang gì sang thì cứ để ngoài hiên. Lão Giang đưa mắt nhìn vào trong nhà, không hỏi thêm câu nào nữa mà chỉ lặng lẽ nhặt bó hương lên giắt vào vạt áo mình rồi dắt con bé về.

Chiều hôm ấy, ông đang ngồi gà gật bên giường thì nghe có tiếng ai khẽ nói bên tai. Ông choàng mở mắt. Thẩm Uyên đã tỉnh từ lúc nào, đang lặng lẽ nhìn ông. Giọng hắn còn rất yếu, từng chữ như phải gom hết sức mới nói ra được:

“Người chưa ăn gì…”

Ông ngẩn người một thoáng rồi bật cười, nước mắt theo tiếng cười rơi xuống ướt đẫm tay hắn:

“Con nghe thấy cả à?”

“Con nghe thấy cả.”

“Cả chuyện ta bảo con vẽ chim thành con gà?”

Khóe môi hắn hơi động, rồi hắn gật đầu. Ông xuống bếp hâm lại nồi cháo, bưng lên hai bát. Hắn cố gắng chống tay ngồi dậy nhưng cánh tay chưa đỡ nổi thân người. Ông vội đặt bát xuống, kê gối cho con tựa.

“Người ăn đi,” Thẩm Uyên thều thào.

“Con ăn trước đi.”

Ông ngồi đút cho con từng thìa, chậm rãi y như mười năm trước. Được nửa bát thì hắn lắc đầu, đưa mắt nhìn sang bát cháo còn nguyên của ông. Đến lúc ấy ông mới chịu cầm lên ăn một hơi hết sạch, khi đó ông mới biết mình đã đói tới mức nào.

Mấy hôm sau Thẩm Uyên đã ngồi dậy được, rồi đi được vài bước trong nhà. Ông thì cứ yếu dần, cơn ho mỗi lúc một dày, đêm nào cũng phải trở dậy mấy lần. Sáng nào ông cũng đòi tự tay thay băng vải cho hắn, khuyên can thế nào cũng không được. Mỗi sáng gỡ lớp băng ra, ông lại thấy vết đao khép thêm một chút.

Tiểu Đào vẫn sang mỗi ngày đun nước và sắc thuốc cho tiên sinh. Con bé không dám ngẩng lên nhìn hắn, gọi một tiếng ca ca cũng ngập ngừng mãi mới thốt ra được. Thẩm Uyên không nhắc gì lại về chuyện cũ. Có lần con bé lỡ tay làm vỡ ấm thuốc. Hắn cúi xuống nhặt mảnh vỡ trước, bảo nó đứng lùi ra kẻo đứt tay. Tiểu Đào đứng nhìn bàn tay ấy nhặt từng mảnh gốm, nhìn tới khi mắt đỏ hoe mới quay người chạy xuống bếp.

Chuyện trong làng, Tiểu Đào vẫn kể cho Hứa Nghiên nghe. Dân làng đều đã biết người con của học giả bãi biển phía bắc chưa chết, nhưng khi nói tới buổi chiều mười lăm thì mỗi người kể một khác. Người đứng dưới chân dốc bảo hắn ngã sấp trước hương án rồi không gượng dậy nữa. Có kẻ lại quả quyết nhát đao đã chệch đi. Những người hôm ấy đứng sát hương án thì lại nhớ ít nhất. Phùng Viễn chỉ nhớ mình giơ đao lên, rồi tới lúc mình quỳ giữa sân đá gọi tên con trai đã bỏ mạng ngoài khơi. Ai hỏi dồn gã cũng ôm đầu mà đuổi người ta về. Còn lão Đàm ra đứng trước hương án, nói với cả làng rằng lễ đã thành, biển đã nhận người rồi. Chiều hôm ấy ai cũng đã quỳ, ai cũng đã thấy, kẻ nào còn thêu dệt chuyện gì nữa thì tức là bảo biển không nhận lễ của cả làng. Rồi lão khóa cửa miếu, chỉ mở cho người tới dâng hương. Có một chiều, Tiểu Đào thấy Phùng Viễn đứng ở đầu rặng phi lao trông sang bãi bắc. Gã đứng rất lâu rồi quay lưng đi, từ đó không thấy gã quay lại nữa.

Biển cũng dần yên trở lại. Hứa Nghiên bắt Thẩm Uyên mang sổ ra tra lại mới thấy những đợt sóng lừng phương nam đã thưa đi từ trước cả đêm hai cha con bỏ đi. Dòng nước ấm dưới chân cọc đã lạnh dần theo, cá lớn ngoài ghềnh từ hôm ấy cũng không ai thấy lại nữa. Ông bảo hắn ghi cả lại, hắn viết xong, ông đỡ lấy cây bút nắn nót chú giải thêm một dòng bên lề: chưa thể đoán định biển yên là vì lễ tế.

Một sáng nọ trời có nắng thật. Ông còn đang ngủ thì Thẩm Uyên đã ôm sách ra hiên, ôm được ba quyển đã phải dựa vào cột mà thở. Nghe tiếng sách rơi, ông vội chống gậy ra, chưa tới cửa đã mắng:

“Ai bảo con ôm? Chân còn chưa đứng vững đã đòi ôm sách!”

“Người bảo trời có nắng thì phải đem ra hong.”

“Hôm ấy ta nói nhảm cả đêm, con nghe làm gì!”

Rốt cuộc hai người chia nhau mỗi người ôm hai quyển. Ông đi trước rồi hắn theo sau, đi được một lượt lại ngồi nghỉ một lượt. Gần trưa thì mặt bàn ngoài hiên đã kín sách, quyển nào cũng xòe trang hứng nắng. Lật tới một quyển cũ thì ông chợt ồ lên. Kẹp giữa hai trang là tờ giấy gói năm nào, trên ấy vẽ một bông hoa to nhiều lá và một con chim bụng tròn vo đậu trên cành.

“Con gà của con đây này.” Ông giơ tờ giấy lên ngắm. “Ta giữ để có ngày đem ra trêu con, giữ mãi tới giờ mới có dịp.”

Thẩm Uyên đón lấy tờ giấy mà không nói gì, chỉ có đáy mắt dần dâng đầy ý cười. Ông hừ một tiếng rồi giật lại tờ giấy, kẹp vào đúng chỗ cũ. Hắn kéo chiếc ghế mây ra cho ông, chưa kịp mở lời thì ông đã nói trước:

“Ngoài này gió còn lạnh. Con khoác thêm áo rồi hãy ngồi.”

Thẩm Uyên gật đầu đi vào trong lấy ra hai tấm áo. Khoác cho ông một tấm xong, hắn tự khoác tấm còn lại rồi ngồi xuống bậc hiên cạnh chân ghế. Cả buổi chiều ấy hai cha con ngồi giữa đám sách hong nắng chẳng làm gì cả. Thỉnh thoảng gió lật một trang thì ông lại với tay giữ lấy.

Những buổi sáng sau đó, hôm nào thấy trong người khá hơn, ông lại bắt hắn dìu ra chiếc ghế mây bên song cửa phía đông, ngồi trong vạt nắng mai nghe hắn đọc sách. Đọc tới chỗ nào không ưng là ông vẫn còn đủ sức chê người viết hồ đồ, chê đôi câu lại phải dừng để ho. Cháo hắn nấu vẫn nhạt như xưa, ông húp mấy thìa lại than thở. Hôm sau hắn nêm mặn thêm một chút. Ông húp hết bát rồi ngồi ngắm Thẩm Uyên mãi.

Rồi tới một ngày, ông gỡ lớp vải ra thì không cần băng lại nữa. Chỗ nhát đao hôm ấy chỉ còn lưu lại một vệt sẹo mờ, nhạt hơn màu da quanh đó một chút. Ông đưa ngón tay chạm vào vệt ấy thật chậm:

“Lúc đó con có đau không?”

“...Có.”

Ông khẽ ừ một tiếng rồi đặt cả bàn tay lên vệt sẹo, một lúc lâu sau ông mới kéo áo lên cho hắn.

Tối hôm ấy, ông bảo hắn mang cuốn sổ ra rồi đặt tay lên bìa mà nói:

“Mấy năm trước con hỏi ta nên chép ra mấy bản, gửi đi những đâu, giờ ta trả lời con. Con chép ra hai bản, một bản gửi lão Tôn, lão già ấy tuy thích cãi nhau với ta, nhưng được cái giữ sách thì không ai bằng. Lầu sách nhà lão lại có thuyền đi khắp nơi. Một bản để lại đây, ai cần thì đưa. Mấy trang ta viết đêm hôm ấy, con chép cả vào cuối sổ. Còn bản này thì con giữ.”

Rồi ông đọc cho hắn viết một phong thư gửi lão Tôn. Cứ được mấy dòng ông lại phải dừng nghỉ, có lúc thiếp đi giữa chừng rồi tỉnh dậy đọc tiếp câu còn dang dở. Dòng cuối thư ông dặn lão Tôn mà để chép sai một chữ thì ông có xuống tới hoàng tuyền cũng quay về tìm lão. Thẩm Uyên cầm bút ghi lại đầy đủ từng chữ.

Đêm ấy gió lặng. Ông nằm nghe sóng mãi không ngủ được nên gọi hắn sang ngồi bên giường. Ông nói rất chậm, nói được một đoạn lại phải dừng lấy hơi:

“Hôm ấy con dặn ta đừng lên miếu.” Ông nắm lấy tay hắn. “Ta không nghe. Lên tới nơi rồi lại không nhớ được gì cho trọn vẹn... Đêm ấy người con lạnh như đá, tới canh năm lại thở. Ta không hỏi con vì sao đâu, cũng không ghi vào đâu cả… Một mình ta biết là được rồi.”

Thẩm Uyên ngồi yên, để mặc bàn tay mình trong tay ông.

“Ta biết từ lâu rồi… Từ cái cổ tay năm ấy, từ gương mặt mười năm không già thêm tuổi nào. Biết mà cứ vờ như không, vì sợ biết rồi thì cũng như người mẹ trong tích xưa, gặp con được một lần là thôi.” Ông khẽ cười. “Thế mà ta được những mười năm...”

Bấc đèn nổ lách tách mấy tiếng. Ông nghỉ một hồi mới nói tiếp:

“Ta cũng biết con ở lại đây là vì có việc của con. Mấy năm trước ta hỏi… con không đáp. Ta nghĩ mãi rồi cũng hiểu, năm ấy không có ta thì cũng sẽ có người khác.”

“Năm ấy…”

“Con đừng nói.” Bàn tay ông siết lại. “Ta không cần biết… Người khác nhặt được con thì người khác phải ăn cháo nhạt. Mười năm nay người được ăn là ta.”

Nói xong ông bật cười, cười tới mức lại ho. Hắn đỡ ông ngồi dậy vỗ lưng cho ông. Cơn ho qua đi, ông tựa vào vai hắn thở dốc hồi lâu mới nói tiếp được:

“Ta già rồi mới có con. Trời cho ta ngần ấy năm, ta tạ ơn còn không hết, bụng dạ đâu mà đi hỏi trời vì cớ gì.” Giọng ông nhỏ dần. “Con là gì, ta không quan tâm. Ta chỉ biết đêm ở bến có kẻ quát người ta thả cha nó ra, cả bến đều nghe thấy. Ta già chứ đâu đã lãng tai.”

Hắn ngồi yên cho ông tựa. Mãi sau ông mới nói thêm, giọng đã nhỏ như hơi thở:

“Hôm trước ta bảo con đi đâu ta theo đó. Nhưng lần này ta phải đi trước rồi, chỗ ấy con đừng theo. Ở lại ăn uống cho tử tế vào.”

Câu ông hỏi năm ấy, Thẩm Uyên đã có lời đáp từ lâu. Người nhặt hắn trên bãi năm ấy có thể là bất kỳ ai, còn người đang tựa vào vai hắn đêm nay thì không ai thay thế được. Ông đã bảo đừng nói, hắn cũng không nói. Hắn đỡ ông nằm xuống rồi kéo chăn lên ngang ngực cho ông.

“Người ngủ đi. Con đợi trời sáng.”

“Trời sáng thì nó tự sáng…”

Ông nói chưa hết câu đã thiếp đi, tay vẫn nắm chặt vạt áo hắn.

-

Ông còn sống thêm ba hôm nữa. Đêm cuối cùng, Thẩm Uyên vẫn ngồi bên giường nghe ông thở. Tiếng thở ấy hắn đã nghe suốt mười năm qua, từ những đêm đầu vọng qua vách cho tới những mùa ông ốm ngay bên gối. Có những lần nó ngừng hẳn, hắn cứ ngồi lắng nghe cho tới khi nó đều đều trở lại. Canh năm, tiếng thở ấy lại ngừng. Hắn vẫn cứ ngồi yên mà đợi. Ngoài cửa trời hửng sáng dần lên, sương trắng phủ kín cả bãi. Bàn tay ông trong tay hắn lạnh đi từng chút một. Hắn vẫn ngồi đó đợi cho tới khi trời sáng hẳn.

Sáng hôm ấy Tiểu Đào sang. Con bé vừa tới bậc cửa nhìn vào đã hiểu cả, quay người chạy đi gọi lão Giang. Lão Giang bước vào thấy Thẩm Uyên vẫn ngồi bên giường nắm tay ông. Lão đứng ở cửa hồi lâu, rồi không nói gì mà chỉ xắn tay áo lên. Họ an táng ông cạnh mộ bà dưới rặng phi lao sau nhà. Lưu đại phu, lão Tôn tới, Ngô tẩu cũng tới. Hà tẩu đứng ở xa, đợi tới khi mộ đắp xong mới lặng lẽ ra về. Người làng tới tiễn ông đều đứng ngoài rặng phi lao, không ai dám lại gần người con đứng bên mộ.

Những ngày đầu, Thẩm Uyên vẫn làm mọi việc theo đúng giờ giấc cũ. Sáng nấu cháo xong mới nhớ ra không còn ai chê nhạt. Chiều ra hàng cọc ghi mực nước, về tới bậc cửa lại định cất tiếng gọi vào trong rồi thôi. Bữa tối vẫn dọn hai bát, bát bên kia bàn để tới khi nguội hẳn hắn mới đem dọn. Đêm nằm bên này vách, hắn vẫn lắng tai nghe sang bên ấy đợi một tiếng trở mình hay một tràng ho. Đợi tới khi sóng ngoài bãi đã lặng nhưng bên ấy vẫn im lìm. 

Sang xuân, hắn gửi theo thuyền lão Giang một bản sổ chép cùng phong thư ông đọc cho hắn viết lên lầu sách nhà họ Tôn. Bản thứ hai hắn để lại cho Tiểu Đào và dặn ai cần thì đưa. Hôm hắn đi, Tiểu Đào đứng ở cửa rất lâu. Mấy lần con bé định nói lại câu xin lỗi, cuối cùng chỉ nói được một câu chúc ca ca thượng lộ bình an. Hắn khép cửa lại, lần này hắn đẩy mạnh thêm cho cánh cửa khép hẳn, cánh gỗ ngấm muối rít qua khung một tiếng dài. Rồi hắn đi thật xa, như năm ấy hai cha con đã dự tính.

Năm nào tới tháng chín hắn cũng về bãi bắc một lần. Căn nhà vẫn đứng giữa đám cỏ mọc lấn tới tận bậc hiên. Hắn nhổ cỏ, vá lại mấy chỗ mái dột rồi mở song cửa phía đông cho nắng rọi vào. Xong đâu đấy, hắn lại nấu một nồi cháo nêm mặn hơn người ta một chút, đúng như ông vẫn thích. Mấy năm đầu, húp chưa được nửa bát mà cổ họng hắn đã nghẹn đắng. 

Những năm sau đó nữa, bao nhiêu năm trôi qua, hắn đã thôi đếm từ lâu, Có một lần hắn húp cạn bát cháo rồi mới nhận ra mình không còn nghẹn nữa, đầu lưỡi chỉ còn lại vị mặn. Hắn lấy hộp kim chỉ của bà ra, dưới đáy hộp vẫn còn mảnh ngói vỡ năm ấy ông cầm lên vừa cười vừa rưng rưng. Hắn đặt nó vào lòng bàn tay giữ rất lâu. Nó nằm đó cũng chỉ như những viên ngói hắn vừa thay trên mái. Hắn vẫn nhớ rõ vì sao nó khác những viên ngói kia, nhớ từng câu ông kể về cái chân bàn hụt và vệt sần bà bảo cứ để nguyên làm mốc. Một mùa đông nọ, hắn đi tìm vùng núi có những lớp vỏ sò vùi trong đá mà ông từng ao ước được quay lại xem. Đoạn phải bám rễ cây mà leo vẫn y như lời ông tả, chỉ là đám rễ năm xưa nay đã mục. Hắn ngã xuống chân vách, gãy cả một bên chân. Đêm ấy hắn nằm giữa đá lạnh chờ xương tự liền lại. Cơn đau dội lên từng hồi, hắn vô thức tìm tới giọng ông như người lữ khách giữa đêm đông với lấy tấm áo cũ. Giọng nói ấy vẫn còn nguyên vẹn, nguyên cả cái run của những ngày cuối đời: con có đau không? Hắn vẫn đáp được là có, vì đau là đau thật, nhưng hơi ấm của buổi sáng bàn tay ông đặt lên lưng hắn thì không theo về nữa.

Mùa thu năm sau về bãi bắc, hắn làm mọi thứ lại trọn một ngày. Sáng kê chiếc ghế mây vào vạt nắng bên song cửa phía đông rồi ngồi cạnh đọc to một đoạn sách cho chiếc ghế trống nghe. Đọc tới đúng chỗ ông vẫn chê người viết hồ đồ, hắn dừng lại mà chờ. Trưa ra tảng đá mòn sau mỏm đá buông câu. Giật được con cá lớn, hắn cố tình để dây vướng vào đám rong dưới chân đá rồi ngồi gỡ mãi. Tối nấu canh cá, hắn múc một thìa thổi cho nguội rồi chìa ra trước bếp mà hỏi vào khoảng không trước mặt rằng mai người còn muốn ăn nữa không? Hắn nhớ không sót một điều gì của ngày xưa ấy, kể cả mái tóc hai cha con ướt sũng hôm con cá vướng rong và tiếng ông cười vang trên ghềnh đá.

Tối ấy hắn ngồi bên chiếc giường cũ của ông, nơi đêm cuối cùng hắn đã ngồi nghe ông thở. Có lúc hắn phải gập người xuống bên thành giường mới thở nổi. 

Đêm nay hắn ngồi nghe chính lòng mình đang mất ông thêm một lần nữa. Mà lần này, hắn cũng không có cách nào giữ lại…

Gần sáng, câu ông nói dở đêm nào chợt trở về bên tai hắn: trời sáng thì nó tự sáng. Ngoài song cửa phía đông, trời đã sáng thật.

Qua những năm sau, đến cả nỗi đau ấy cũng mai một dần dần. Hắn vẫn về nấu cháo và kê chiếc ghế mây vào vạt nắng như cũ, chỉ là mỗi năm lại bớt đi một việc. Có một năm hắn đang ở nơi rất xa, tới tận cuối đông mới chợt nhớ ra tháng chín đã qua từ lâu. Nhớ ra rồi thì cũng chỉ là nhớ ra.

Nhiều năm sau nữa hắn mới quay về căn nhà ấy. Mái đã sụp mất một góc, chiếc ghế mây cũng mục ruỗng từ lâu. Duy chỉ chiếc bàn hắn sửa năm nào là vẫn đứng vững. Hắn quét dọn một góc rồi mang theo ít gạo nấu một nồi cháo, ngồi xuống chỗ quen của mình ở đầu bàn phía nam mà ăn. Hắn ăn hết một bát, không dọn thêm bát thứ hai và cũng không ngồi chờ ai. Ăn xong hắn rửa bát sạch sẽ mà trong lòng không thấy thiếu điều gì.

—

Rất nhiều đời người về sau, có lần Thẩm Uyên đi ngang qua một làng ven sông ở vùng đất mai sau thuộc về Thanh Sa. Lũ trẻ ngồi trên bờ đê thả lá xuống dòng nước, vừa thả vừa nghêu ngao hát một bài đồng dao:

Qua đồng, qua bãi, qua sông,
Chớ nhặt hòn đá nằm không giữa dòng.
Người đi quên nẻo quên đồng,
Chỉ con nước nhớ một dòng trăng xưa.
Trăng xưa còn đợi gió đưa,
Mây che lối cũ, người chưa trở về.
Ngủ đi con, ngủ cho tròn,
Đừng theo tiếng nước đầu non cuối ghềnh.

Hắn đứng lại nghe hết bài. Lát sau một bà lão ra gọi lũ trẻ về ăn cơm, vừa đi vừa mắng chúng đừng ra bờ sông chơi kẻo nước kéo đi mất. Đứa nhỏ nhất níu áo bà đòi kể chuyện. Bà bảo ngày xưa có một ông lão dạy chữ nhặt được hòn đá nằm giữa dòng, đem về nuôi như con, nuôi mãi hòn đá thành người. Tới năm nước lớn, sông dâng lên tận cửa nhà mà đòi lại.

Đứa nhỏ hỏi ông lão ấy tên gì? Bà lão nghĩ mãi rồi lắc đầu, bảo rằng câu chuyện truyền thuyết thật giả thế nào ai mà biết được!

Cái tên ấy chợt hiện ra trong đầu Thẩm Uyên. Hứa Nghiên. Ông tên là Hứa Nghiên, năm ấy nhặt hắn trên bãi bắc, mười năm ăn bát cháo nhạt hắn nấu, bữa nào cũng chê nhưng chưa bỏ bữa nào. Hắn muốn bước tới nói với đứa nhỏ như thế nhưng rồi lại thôi. Bà lão đã dắt lũ trẻ đi xa. Hắn quay đi, trong lòng khẽ gọi tên ông thêm một lần nữa.

Cuốn sổ của ông thì theo thuyền đi xa hơn bài đồng dao nhiều. Bản gửi lên lầu sách nhà họ Tôn được người ta chép lại, rồi lại có người chép tiếp từ bản chép ấy, cứ thế truyền qua tay không biết bao nhiêu đời người. Có bản giữ nguyên những dòng ông chú giải bên lề, giữ cả dòng chữ run run về A Mãn. Có bản người chép bỏ đi hết, bảo rằng sách đã chép thì phải chép điều chắc chắn. Riêng mấy trang cuối ông viết trong đêm hôm ấy thì bản nào cũng giữ. Người đời sau đọc những trang ấy rồi cãi nhau xem cuốn sổ rốt cuộc dạy người ta điều gì, cãi qua bao nhiêu đời vẫn chưa thôi.

Thẩm Uyên không sửa bản nào cả. Bản ông dặn giữ, hắn vẫn mang theo bên mình. Giấy đã ngả vàng, góc giấy cũng sờn cả. Dòng chữ bên lề trang ghi trận bão năm A Mãn vẫn xiêu vẹo như hôm ông viết, còn mấy trang cuối viết trong đêm hôm ấy thì nét chữ run hơn nữa. Cả cuốn sổ chỉ có mấy dòng nhắc tới hắn, ghi lặng lẽ bên cạnh mực nước những mùa ông ốm: hôm ấy con ta đo.

Có những buổi sớm, ở một nơi rất xa, hắn ngồi bên song cửa phía đông lật tới mấy chữ ấy. Nắng mai rọi xuống trang giấy cũ. 

Hắn gấp sổ lại ôm vào lòng, ngồi yên trong vạt nắng ấy rất lâu.

-

[Cảm ơn những ai đã đi cùng Mạt Niệm tới tận đây, đã ngồi lại bên căn nhà nơi bãi bắc cùng hai cha con thêm một lúc. Như Hứa Nghiên vẫn nói, trời sáng thì nó tự sáng. Mong ai đọc tới trang này cũng có một vạt nắng mai cho riêng mình.]

Vong Tử.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px