Đổi vai
Trích phần thông tin lược chép từ bản ghi chú của Trần Khắc Duy. Mùa đông, Ứng Thiên năm thứ 12. Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Mùa đông, vua cướp ngôi, tôn hiệu làm Khai Thiên Ứng Vận Thánh Văn Thần Vũ Tắc Thiên Sùng Đạo Đại Thắng Minh Quang Hiếu Hoàng Đế; truy tôn mẹ làm Hưng Quốc Quảng Thánh Hoàng Thái hậu. Lập bốn hoàng hậu. Ngự Bắc Vương cùng với Trung Quốc Vương chiếm trại Phù Lan làm phản. Vua thân đi đánh. Đến Đằng Châu, Quản giáp là Đỗ Thị đem việc người anh em họ ngoại là Lê Hấp Ni làm phản tâu lên. Vua sai bắt tra hỏi, Hấp Ni và những kẻ dự mưu mười hai người điều bị giết. Đến trại Phù Lan, người trại đóng cửa trại cố thủ. Đánh không hạ được, bèn vây chặt vài tháng, người trong trại hết lương ăn. Ngự Bắc Vương tự biết kế cùng thế khuất, bèn bắt Trung Quốc Vương đem nộp. Chém Trung Quốc Vương, tha tội cho Ngự Bắc Vương, rồi đem quân đánh Ngự Man Vương ở Phong Châu. Ngự Man Vương phải chịu hàng. Quân về đến Đằng Châu, đổi tên châu ấy làm phủ Thái Bình. Từ đấy về sau các vương và giặc cướp đều hàng phục cả. Chuyến đi này khi quan quân đánh nhau với người trại Phù Lan, chợt thấy trạm báo tin là giặc Cử Long vào cướp đã đến cửa biển Thần Đầu (nay là cửa biển Thần Phù). Vua về đến sông Tham đi sang Ái Châu để đánh giặc Cử Long.” “Ủa anh Bách, sự việc viên Quản giáp tên Đỗ Thị tố giác “phản động” này hình như chưa diễn ra đúng không?” Tôi giơ cuộn da dày cộm lên, chỉ cho Đình Bách xem một đoạn thông tin khá dài được viết liền nhau mà mình mới luận ra. “Chữ của tên Duy xấu quá, em đọc tới đây thì thấy rối hết cả lên rồi, còn chả biết hắn có chép đúng thứ tự sự kiện không nữa.” “Phản động cái gì, gọi là phản tặc!” Đình Bách sửa lời tôi, mắt liếc qua một chút rồi trở lại với mấy sàng nứa to đựng đầy thảo dược cùng đủ các loại dược liệu chuyên dùng bào chế thuốc. Vừa tỉ mẩn phân chia từng thứ, anh vừa kể. “Chuyện đó diễn ra từ đợt trước rồi, lúc chúa thượng đưa quân đi đánh Ngự Bắc Vương và Trung Quốc Vương ở trại Phù Lan. Ta vẫn nhớ trưa hôm ấy cung nhân đang hầu ngài dùng ngự thì Đỗ Thị xin đến tâu. Thế là chỉ trong vỏn vẹn một buổi chiều, quân ám vệ đã tóm gọn toàn bộ bè lũ của Lê Hấp Ni lôi về phủ để tra khảo, qua sáng sớm hôm sau thì bọn chúng đều bị xử tử theo lệnh của chúa thượng.” “Nhanh gọn thế cơ á?” Tôi ngạc nhiên. “Ừ, “tốc độ” lắm! Mà theo những gì được chứng kiến trong suốt thời gian sống ở đây thì ta nhận thấy hành động của Lê Long Đĩnh luôn rất nhanh và chính xác. Y thường không tốn quá nhiều thời gian để đưa ra quyết định dù sự việc có nghiêm trọng hay bất ngờ cỡ nào. Phải công nhận là tư duy xử lý vấn đề của y vô cùng nhạy bén, tới mức mà nếu có ai nói y nhìn thấy trước tương lai thì ta sẽ tin ngay đấy!” Bách cười khan, tay bốc một nắm nhỏ cam thảo bỏ vào vò đất đựng nước sôi vừa được anh bắc từ trên bếp xuống. Mùi thơm ngọt dịu, thanh mát nhanh chóng theo làn khói mỏng mảnh tỏa ra tứ phía. Anh múc một thìa đưa lên miệng nhấp thử, khẽ gật gù ra vẻ hài lòng. Sau khi gia giảm thêm vài thành phần nguyên liệu, Bách chắt ra lưng bát con nước rồi đẩy về phía tôi. “Uống tạm đi Dương, thứ này có tác dụng làm ấm cơ thể, ổn định thần trí. Trước khi đến đây, thằng trời đánh kia có lỡ bắt thiếu của cô một phách, thế nên bây giờ tám phách còn lại rất dễ bị thoát ra ngoài. Ta không biết Duy cất bùa trấn hồn mà thầy chuẩn bị cho cô ở đâu, đành phải chờ nó về rồi hỏi vậy!” “Dạ vâng, em xin…” Tôi gật gật đầu, mắt vẫn dán chặt vào cuộn da trong khi bộ não gắng gượng chạy hết công suất để ghi nhớ loạt dữ kiện mà Bách vừa cung cấp. Mặc dù phần lớn các chi tiết được nêu ra trong số đó đều xuất phát từ nhận định của cá nhân Đình Bách, nhưng nếu xét kỹ thì quả thực là chúng có chứa một vài từ khóa về vua Lê Long Đĩnh mà trước nay tôi chưa từng nghe đến. Rất đáng lưu tâm! “Xem nào, là người có phản ứng nhanh nhẹn, hành động gọn ghẽ, quyết liệt, tư duy xử lý vấn đề nhạy bén, linh hoạt… còn gì nữa nhỉ?” Sau gần mười phút ngồi phân tích và hệ thống lại các đặc điểm mô tả hành vi, tính cách của y qua lời Đình Bách, bảng sơ đồ tư duy tôi vẽ tạm trên tờ giấy dó xin được từ chỗ quân y đã phân nhánh chằng chịt như tơ vò. Nhìn những cụm ghi chú thông tin viết tắt nằm chen chúc nhau, Bách tặc lưỡi kết luận: “Trình suy luận của cô kể ra khá đấy, nhưng chung quy là vẫn chưa nói lên được gì!” Đang uống dở bát thuốc, tôi nghe mà suýt sặc nước lên mũi: “Ối giời ơi, anh giai em phán cứ như thần ấy nhỉ? Chuyện mà đơn giản thế thì tội gì em phải khổ như này. Hay là giờ tính vậy đi, nếu anh thấy phương án mình đang làm không hiệu quả thì chúng ta đổi cách khác!” Tôi nín cười, nói đùa. “Em thấy bình thường hai đánh một chẳng chột cũng tàn phế. Anh với Khắc Duy xưa kia là lính thuộc quân Ngũ Yên dưới trướng An Sinh vương Trần Liễu (1). Chi bằng nửa đêm canh ba em kiếm cho anh cái bao tải rồi chúng ta đột nhập vào phủ của Lê Long Đĩnh… nhanh hơn bao nhiêu không! Đỡ mất công lập kế hoạch phiền phức.” “Nói bậy nào, bỏ ngay cái ý định đi tắt đón đầu ấy đi nhé! Còn nữa, ta với thằng Duy gia nhập quân Ngũ Yên vào giai đoạn khi thầy đã thu binh về tay, không phải lứa quân thời An Sinh vương đâu.” Bách phì cười, lấy cây quạt giấy giắt ở thắt lưng gõ nhẹ lên đầu tôi mấy cái. Hành động ấy khiến tôi bất giác liên tưởng đến hình ảnh Hưng Đạo đại vương trong ký ức tiền kiếp. Anh cũng bắt chước thầy làm điệu phe phẩy quạt, chậm rãi nói: “Bảo vậy để cô chú ý, nếu đã quyết tâm tìm hiểu thì việc đầu tiên cần ghi nhớ là đừng quá tập trung vào tiểu tiết, thứ hai là không nên nóng vội. Dẫu sao, “ông cụ” này cũng thuộc kiểu người thâm sâu khó lường. Ta đến Hoa Lư nhận chức thái y ngay đúng thời điểm Đại Hành hoàng đế đang cân nhắc chọn người lập Thái tử, thành ra có nghe ngóng được đôi ba chuyện. Kỳ thực, ngài ấy từ trước vốn đã có những ưu ái nhất định dành cho Lê Long Đĩnh, nhiều lần công khai tỏ ý khen ngợi và lên tiếng nói đỡ giúp y khi triều đình phản đối việc y xin làm Thái tử. Chuyện sắc phong Lê Long Đĩnh làm Khai Minh Vương, rồi ban thực ấp ở Đằng Châu…” Đến đây, Bách chợt ngừng lại, cảnh giác nhìn ra cửa bếp rồi hạ thấp giọng xuống: “Hậu thế có kẻ coi đó là sự bù đắp của ngài nhằm xoa dịu đứa con trai ngỗ nghịch sau khi lập Lê Long Thâu làm Thái Tử (2). Nhưng theo ta lạm bàn, có thể đó lại chính là minh chứng cho sự yêu quý và tin tưởng mà Đại Hành hoàng đế đặt nơi người con trai này. Cô xem, ở đây đất đai trù phú, vừa giàu tài nguyên lại có thêm vị trí địa lý thuận lợi, nhìn sao cũng thấy vô cùng phù hợp để tiến hành các công cuộc giao thương và phát triển kinh tế. Chưa kể, nếu đem so sánh với các nơi khác trên vùng lãnh thổ Đại Cồ Việt bây giờ thì Đằng Châu là một khu vực trọng yếu, tiềm lực khai thác lớn nên rất dễ bị các thế lực bên ngoài nhòm ngó. Người không có bản lĩnh thật sự không trấn giữ nổi đâu. Cô hiểu ý ta chứ?” “Dĩ nhiên là em hiểu! Em có xem qua vài cuộc thảo luận về thời Tiền Lê trên mạng hồi trước. Nhưng lý thuyết nói thì dễ thế chứ thực hành có dễ đâu nào!” Tôi lắc đầu cười khổ, nói khẽ. “Anh biết đấy, em và tên Duy vừa tới đã vỡ kế hoạch vì gặp vua Lê Long Đĩnh sớm hơn dự tính, giờ cả hai bọn em đều đang vướng vào rắc rối. Muốn sống yên ổn tới ngày hoàn thành nhiệm vụ thì chỉ có cách duy nhất là tìm ra nguyên nhân càng sớm càng tốt. Khắc Duy ít nhất còn bịa chuyện đối phó cầm chừng được chứ em thì em không tự tin lắm…” Tính đến thời điểm hiện tại, tôi đã bước đầu phác họa được một chân dung tương đối rõ nét về con người vị vua này. Thế nhưng, phần quan trọng nhất là các câu hỏi xoay quanh động cơ dẫn đến sự kỳ lạ của Lê Long Đĩnh vẫn đang bị bỏ xó. Tạm thời, cả ba người chúng tôi đều chưa tìm thấy manh mối nào đủ sức thuyết phục để giải đáp chúng. Và đương nhiên, chừng nào bí ẩn về y còn tồn tại thì chừng ấy kẻ vượt thời không là tôi đừng mong toàn mạng thoát khỏi phủ Khai Minh Vương. “Em nghĩ kỹ rồi anh ạ! Quanh đi quẩn lại thì nguyên nhân chính hẳn vẫn là vì “ông cụ” ấy nghi ngờ hai đứa em nhưng chưa có bằng chứng, lại không muốn buộc tội nhầm người nên mới đưa con mèo quý kia cho em nuôi. Hành động này ngoài mặt thì trông như đang ban ơn nhưng thật ra là để tiện bề giám sát em.” Tôi chỉ tay vào cục bông trắng béo tròn đang thong dong tận hưởng bữa trưa ngon lành ở góc bếp. “Theo dõi một đứa dân đen ngơ ngáo như em khó gì đâu, quan trọng là dàn cảnh sao cho hợp tình hợp lý để không ai phát hiện kìa. Lúc Khắc Duy ra tay hỗ trợ hai “ông cụ” xử lý đám thổ phỉ ở bờ sông, hắn chỉ nghĩ đơn giản là đang giúp người, tức Lê Trung và Lý Thuận. Nhưng nếu đứng từ góc độ của họ mà đánh giá thì Khắc Duy mạnh hơn tiêu chuẩn cho phép của một anh phó thường dân (3) rồi, không đáng nghi mới lạ! Em chẳng biết Lê Long Đĩnh tin câu chuyện hắn bịa được bao nhiêu phần, nhưng phàm là kẻ theo nghiệp binh đao, nhìn thân thủ của Duy chắc chắn sẽ nhận ra, không sớm thì muộn. Một cấm vệ quân được đào tạo bài bản lúc ra trận kiểu gì chả có chỗ khác một anh thanh niên học võ trường làng, phải không anh Bách?” “Ừ, con mèo đích thực là cái cớ để giữ cô luôn trong tầm kiểm soát của y. Còn việc y tiện tay thu nạp Khắc Duy, một thằng ất ơ nhặt đại ngoài đường vào hàng ngũ của quân Tiên phong chỉ từ lần cứu mạng duy nhất đấy… bảo “họa” thì sai mà nói “phúc” cũng chả đúng! Về lý, khi đất nước lâm nguy, một thân nam nhi trai tráng sao đành lòng đứng ngoài nhìn chúng giặc xâm phạm bờ cõi. Tự nguyện hay được gọi đi đều như nhau cả. Xung quân là chuyện hiển nhiên và đổ máu là điều tất yếu. Cơ mà về tình…” Vô thức đặt mạnh cây quạt xuống bàn, Bách nói liền một hơi rồi đi thẳng tới kết luận. “Tất cả đều tại nó để mồm miệng đi chơi xa, không giấu nổi cái khí thế nhà binh treo ở đầu lưỡi. Chúng ta thì thiếu gì cách để bám đuôi quân triều đình? Hơn nữa, Lê Long Đĩnh từ đầu đến cuối chỉ toàn gợi ý chứ đã có lời nào ép nó phải đi? Đây là nó tự nguyện cầm dây người ta đưa tròng vào cổ mình, trách ai bây giờ!” Tiếng nước sôi réo ầm ĩ phát ra từ chiếc nồi đất bắc trên bếp củi không ngăn được khoảng lặng sau đó đẩy hai anh em tôi rơi vào trầm tư. Tôi nhìn Đình Bách, Đình Bách nhìn tôi. Rồi như có hẹn trước, chúng tôi đồng loạt thở dài, ai nấy chán không buồn thảo luận tiếp nữa. Hễ động đến Trần Khắc Duy và câu chuyện hắn được “nhấc” vào quân ngũ là tôi lại thấy váng hết cả đầu. Đình Bách nói không sai, tên hâm dở Khắc Duy quả thực đã có một màn chơi ngu lấy tiếng đi thẳng vào lòng đất. Còn nhớ hôm đó, khi hắn quỳ trước Lê Long Đĩnh, hùng hổ tuyên bố muốn theo y xuống Ái Châu dẹp nạn giặc Man, tôi vì cứ đinh ninh đấy là một phần bắt buộc trong kế hoạch của hắn nên dù sợ chết khiếp cũng không dám mở miệng ý kiến. Mãi tới khi gặp Đình Bách, được nghe anh phân tích, tôi mới ngộ ra là thằng cha chết dẫm đó định “tay không bắt giặc” chứ vốn dĩ hắn chả có cái gì gọi là “kế hoạch” ở đây hết. Không những vậy, anh còn tiết lộ cho tôi biết một sự thật động trời, rằng cuộn da chứa thông tin hắn đưa tôi là sản phẩm của mười hai tiếng chong đèn thức trắng, hoàn thành gấp gáp ngay sát giờ hắn phải đón tôi về đền Kiếp Bạc. Ban đầu, thầy cho hắn thời hạn tận mười ngày để chuẩn bị, vậy mà hắn nhất định phải chờ sang ngày cuối mới làm. Sau đó, thành quả hắn tạo ra là một bản ghi chép xấu kinh hồn và tôi - nạn nhân bất đắc dĩ bị hắn bắt thiếu một phách phải ngồi phiên dịch nó trong vô vọng. “Tóm lại vẫn là ăn hại! Nó được cái đánh đấm giỏi, về khoản này ta không chê. Nhưng cái đầu của nó khéo chỉ dùng để trồng cây thôi, tính nước nào sai bét nước đấy. Thầy thương nó chứ cũng không tin tưởng giao hết việc quan trọng cho nó, tại tin nó là có ngày bán nhà! Và đó là lý do tại sao “anh mày” phải xuất hiện ở đây để phòng trừ hậu họa thằng ôn thần ấy gây ra.” Chừng như khá bất mãn, Bách nén bực bưng chiếc nồi đất đã sôi từ ban nãy đặt mạnh lên bàn như thể trút giận vào đó. Tôi nghe anh kể tội hắn mà chỉ biết gật đầu hưởng ứng, không bênh nổi câu nào. Bởi lẽ, Khắc Duy hành động phần lớn theo cảm tính, phương châm sống của hắn là tùy cơ ứng biến, mưa đến đâu mát mặt đến đấy. Chuyện hắn tìm đủ mọi cách né tránh việc chia sẻ thông tin với tôi cũng không hẳn toan tính xấu xa gì, đơn giản là vì chính hắn còn phải vừa đi vừa mò đường, nào có nắm rõ cơ sự đâu mà chia với chả sẻ! “Nhật Dương!” “Dạ!” Đương mải nghĩ ngợi linh tinh, tiếng Bách gọi đột ngột vang lên làm tôi giật nảy người. “Sắp quá trưa rồi, nay chúng ta bàn chuyện tới đây thôi. Hãy còn nhiều thời gian, cô cứ từ từ tìm hiểu từng chút, không cần vội.” Bách nói, tay đẩy ra trước mặt tôi một chiếc khay gỗ mun khảm trai, bên trên là bát chiết yêu đựng canh thuốc vừa sắc bốc khói nghi ngút. Tự dưng, tôi thấy chân mình lạnh toát, cảm giác rờn rợn bò dọc sống lưng. Đình Bách mỉm cười nham hiểm nhìn tôi, đuôi mắt híp lại: “Nhưng ta thiết nghĩ, thay vì ở đây suy diễn thì vào thẳng hang cọp tham quan giống thằng Duy cũng hay đó chứ? Nhật Dương, cô mau đem thuốc này lên nhà chính dâng chúa thượng đi, tiện thể nghía qua xem quanh y có gì thú vị không. Đằng nào thì chúa thượng cũng đã đồng ý cho cô ở lại chỗ ta để phụ việc vặt, nên lựa mà cư xử sao cho đúng phận nô tỳ nhé. Lười biếng là không được đâu!" - *Chú thích: 1, Ngũ Yên quân (五燕軍) là đội quân tinh nhuệ, thiện chiến do An Sinh vương Trần Liễu (cha của Trần Hưng Đạo) nuôi dạy, ban đầu nhằm phục vụ ý định rửa hận cá nhân, nhưng sau đó được Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn sử dụng hiệu quả trong các cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông, nổi tiếng về sự trung thành và sức mạnh đánh bại quân xâm lược, đặc biệt là lực lượng này do Trần Tử Đức, Bùi Thiệu Hoa và Trần Ý Ninh chỉ huy chặn giặc tại Phù Lỗ, để lại ấn tượng sâu sắc trong lịch sử. 2, Đoạn này là phóng tác từ những gì tác giả tham khảo được sau khi đọc ý kiến tranh luận của một số cá nhân trên các diễn đàn lịch sử và bài thảo luận lượm nhặt ở nhiều nơi nhằm phục vụ việc sáng tác, không có nguồn dẫn cụ thể, hoàn toàn là phỏng đoán lạm bàn, không có giá trị tham khảo như một tư liệu lịch sử, không đại diện cho bất cứ suy nghĩ, quan điểm nào của tác giả. 3, Phó thường dân: khẩu ngữ, ý chỉ dân thường, không có địa vị, chức vụ gì trong xã hội, được dùng với hàm ý mỉa mai hoặc nói đùa |
1 |