MỆNH TIỀN KIẾP

Thêm một mối nguy


Cuối đông, trời bỗng chuyển rét đậm. Sau trận giông lớn quét qua đêm hôm trước, một đợt không khí lạnh mới bất ngờ tràn xuống đã khiến mọi thứ quanh tôi như bị nhấn chìm trong cái giá buốt đầy khắc nghiệt. 


Từ sáng sớm, mặc cho làn mưa bụi giăng kín lối, khuôn viên phủ Khai Minh Vương vẫn tấp nập người ra kẻ vào, phần lớn là binh lính và gia nô. Bọn họ ai nấy tất bật khuân vác đủ thứ đồ đạc, nghe đâu là đang gấp rút bổ sung quân tư trang cùng nhu yếu phẩm để chuẩn bị cho lần hành quân xuống Ái Châu đánh giặc Man sắp tới.


Thỉnh thoảng, sẽ có vài vị thái y khoác áo bông dày, tóc tai ướt sũng, tay cắp hòm thuốc đi ngược hướng với tôi. Vừa nhìn, tôi đã biết là họ đang trên đường đến tìm Đình Bách để lấy thảo dược, sau đó rẽ lối sang hướng cửa phụ dẫn về các khu điều trị thương binh nằm bên cạnh phủ. Trong trận công thành ở Phong Châu vừa rồi, tuy quân triều đình dễ dàng đánh bại thế lực của Ngự Man Vương nhưng số binh lính bị thương cần tĩnh dưỡng cũng vừa vặn lên tới hàng chục người. Chưa kể, nếu tôi nhớ không nhầm thì bản thân vua Lê Long Đĩnh cũng lãnh một vết thương rất sâu ở lưng. Sau lần y giao tranh với đám thổ phỉ, vết thương ấy đã rách toác ra khiến Lý Công Uẩn mất khá nhiều công sức mới cầm máu được. Chính vì thế, trọng trách đặt trên vai nhóm quân y những ngày này dường như tăng lên gấp bội.


Là thái y có tay nghề giỏi nhất, suốt nửa tuần nay Đình Bách hầu như chỉ quanh quẩn dưới bếp, sống chung với đủ thứ nồi niêu, cối thớt. Đang ôm cái mác chân sai vặt phụ việc của anh, tôi đương nhiên cũng phải nhảy vào giúp anh một tay, lúc thì thêm củi đun nước, lúc lại bốc thuốc đưa người ta. Song, có lẽ do bản mặt tôi bẩm sinh trông khó ưa, hoặc ở tôi thật sự toát ra vẻ hèn mọn thường gặp của phận con sen con ở nên hồi sáng đã bị mấy vị thái y lớn tuổi cậy quyền gây khó dễ không ít. Vốn tôi chẳng muốn để bụng làm gì cho mệt, nhưng bởi cái nạn trời ơi đất hỡi vừa đáp xuống đầu mà tự dưng trong lòng nảy sinh chút ác cảm với họ. Thành thử ra, mới nhác thấy có vị định giơ tay vẫy mình lại, tôi đã lập tức cắm mặt đi thẳng, giả mù không biết.


Thôi thì, coi như tôi ưu tiên chuyện đại sự vậy!


Dẫu sao, đắc tội với mấy vị đó tôi còn có cửa giữ mạng. Chứ lỡ mang thuốc đến muộn, làm phật ý chúa thượng thì khéo tôi chỉ còn có thể về nhà vào hai ngày là Rằm với mồng Một đầu tháng. 


“Đời là bể khổ, qua khổ là qua đời…” Tôi tặc lưỡi, tay kéo gấu váy, đoạn nhón chân bước lên bậc tam cấp. Trời mưa, đường trơn nên dù còn cách đích đến khoảng hơn hai trăm mét, tôi vẫn rón rén bước từng bước vì sợ sẩy chân trượt ngã.


Gian nhà chính nằm ở khu vực trung tâm của phủ Khai Minh Vương là nơi chúa thượng nghỉ ngơi. Ngoài toán lính canh thường xuyên đi tuần ra, khu này chẳng mấy khi có người lui tới. Nghĩ cảnh một mình đơn thương độc mã vào gặp “ông cụ” Lê Long Đĩnh, lòng tôi chợt đau đớn như thể bị người ta cầm dao nhọn đâm cho vài nhát.


Đúng là… tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, tránh được Trần Khắc Duy thì va ngay phải Trần Đình Bách! 


Tôi thừa nhận, trước những bí ẩn xoay quanh Lê Long Đĩnh, tôi vô cùng nôn nóng muốn lật tung mọi thứ để tìm cho ra đáp án. Thế nhưng, nếu hỏi tôi có muốn trực tiếp đối mặt với y để điều tra hay không thì câu trả lời đã quá rõ ràng rồi: Tôi không muốn, ngàn lần không muốn!


Đặt nhiệm vụ và tính mạng lên bàn cân, cái nào quan trọng hơn có lẽ không cần bàn cãi. Với tôi, nhiệm vụ là sự ưu tiên còn lo giữ mạng là mới là điều cấp thiết cần làm ngay lúc này. Cái mạng quèn của tôi trông thế nhưng cũng đáng giá lắm chứ! Khổ nỗi, Đình Bách và tên Duy hâm cứ như dùng chung một hệ điều hành, tính nết gia trưởng không thua kém nhau là mấy. Tôi đã thử quẳng hết liêm sỉ qua một bên mà đi khóc lóc, năn nỉ ỉ ôi với Đình Bách, những mong anh đổi ý. Tiếc thay, Trần Đình Bách chẳng phải kiểu người dễ mủi lòng với con gái. 


Thấy tôi rơi nước mắt, anh chỉ nhếch miệng cười trừ, để tôi tự khóc rồi tự thôi, một lời an ủi cũng lười nói ra. Rốt cuộc, kết quả của phi vụ ăn vạ thất bại đó là bây giờ đây tôi không thể phân biệt được mình đang run rẩy vì trời đông rét mướt, nhiệt độ xuống thấp hay bởi hai vị hộ pháp mặt mày bặm trợn, trên trán thích ba chữ “Thiên tử quân” (1) có ánh nhìn lạnh hơn cả mùa đông đứng canh cửa kia nữa!


“Nhóc con, đi đâu đây?”


Người đứng bên phải cất giọng ồm ồm nói, người bên trái phối hợp liếc mắt nhìn tôi. Dáng vẻ của họ so với đám thổ phỉ tôi từng gặp tuy rất đạo mạo nhưng khí chất nhà binh tỏa ra còn đáng sợ hơn chúng vài phần. Tôi bất giác nuốt khan, bao lời được chuẩn bị sẵn ra đến đầu lưỡi tức khắc biến thành một mớ hỗn độn:

“Dạ… bẩm…bẩm… thuốc… thuốc của… của cụ… của chúa thượng… ạ…”


“Nói rõ ràng ra! Ngươi lảm nhảm cái gì vậy?” Người đứng bên trái trừng mắt, lớn tiếng quát. 


Tôi giật thót tim, nhắm mắt nhắm mũi thoại bừa một câu:


“Dạ bẩm, là thuốc của chúa thượng ạ!”


Hai người lính canh nhanh chóng đánh mắt nhìn nhau, không hiểu là loại ám hiệu gì. Tôi thấy da đầu mình tê rần rần, cơ mặt dần căng cứng vì phải duy trì một biểu cảm vô hại đầy gượng gạo. Cùng lúc đó, nước mưa đọng trên tóc bắt đầu chảy dọc xuống má, chạy qua cằm rồi chui tọt vào cổ áo mang theo cái lạnh thấu xương. Đang bưng khay thuốc bằng cả hai tay, tôi không thể lau chúng đi nên chỉ đành cắn răng chịu đựng.


Vài giây trôi qua dài như nửa kiếp người, cấm quân đứng bên phải hất hàm nói:


“Ai sai ngươi tới đây?”


“Dạ bẩm, là thầy Bách ạ.” Tôi lập cập đáp, hai hàm răng va vào nhau nghe “cộc” một tiếng. Vẫn biết cấm quân hành động có nguyên tắc, nhưng qua con mắt phiến diện của tôi, tôi cho rằng họ đang cố tình làm khó mình. Bằng chứng là hỏi tôi xong, họ lại im lặng, nửa như chần chừ, nửa như đợi điều gì không rõ.


Cảm thấy đôi bên cứ đứng nhìn nhau thế này không ổn, một là tôi sẽ chết vì rét, hai là bị ánh nhìn dò xét của họ dọa cho sợ chết khiếp. Tôi thì chưa muốn chết nên định bụng hỏi lại họ xem có thể để khay thuốc này ở đâu rồi tính đường chuồn đi cho sớm sủa. May phước làm sao, ngay vào lúc tôi đang tự khích lệ mình mở miệng ra nói thì ông trời đã kịp thời phái xuống một “thiên thần” cứu tôi thoát cảnh khó xử:


“Nhật Dương!”


Tôi mừng rỡ quay đầu lại tìm nơi phát ra giọng nói của “thiên thần”, trước mắt tưởng như có ánh sáng từ mười phương chư Phật chiếu rọi. Rất nhanh, người ấy đã xuất hiện giữa vầng hào quang chói lọi. Trời ơi, không những một mà hẳn hai “thiên thần” đến giúp tôi!


“Thuốc này là thầy Bách bảo cô dâng lên, đúng không?”


“Thiên thần” nở nụ cười hiền từ, không chờ tôi đáp đã giơ tay ra hiệu cho “thiên thần” đứng đằng sau tiến lên. 


“Trí Ngạn, ngươi mau đem thuốc vào trong đi.”


Thoắt cái, chiếc khay gỗ mun khảm trai được nhấc khỏi tay tôi. “Thiên thần” kia lạnh lùng đẩy vai tôi rồi lách người qua. Khoảnh khắc đó, ảo tưởng đẹp đẽ trong mắt tôi liền bị thực tại phũ phàng đập cho nát bấy.


Mẹ kiếp, không có “thiên thần” nào ở đây hết!


Người vừa đẩy tôi suýt ngã thực ra chính là viên nội thị Trí Ngạn. Còn người đang cười với tôi…


Tôi khóc không ra nước mắt. 


Chẳng biết có phải ông trời chê cuộc đời tôi chưa đủ thảm hay không mà đây đã là lần thứ hai tôi bị Phó chỉ huy sứ Lý Công Uẩn bắt gặp rồi. Lần trước tóm được tôi ở chỗ mụ Tám bán gạo, nụ cười xán lạn của anh ta làm tôi thiếu chút nữa đứng tim mà lăn ra ngất tại chỗ. Nên với vẻ thân thiện anh ta dành cho tôi lần này, tôi không biết đáp lại kiểu gì mới phải. Về cơ bản, giao diện người này quá trẻ để gọi là “cụ” mà chức vị lại không nhỏ để tôi có thể tùy tiện gọi hai chữ “anh Thuận” như trước kia. 


Thấy tôi lúng búng mãi không nên lời, Lý Công Uẩn lắc đầu cười:


“Cô đừng căng thẳng, ta không có ý gì đâu!”


Câu nói của Lý Công Uẩn dường như chệch khỏi nội dung cuộc trò chuyện đang diễn ra. Tôi biết mình phải lên tiếng đính chính ngay để tránh hiểu lầm, nhưng đính chính chuyện gì và sợ bị hiểu lầm điều gì thì bản thân tôi cũng không rõ.


“Trời mưa lạnh đấy, cô mau về chỗ Đình Bách đi.” Lý Công Uẩn đưa mắt nhìn ra sân rồi đột nhiên à lên một tiếng. “Phải rồi, ta có thứ này muốn cho cô.”


Nói đoạn, anh ta lấy từ ngực áo ra một vật hình chữ nhật được bọc trong mảnh vải, cẩn thận nhét vào tay tôi. Nhân lúc tôi còn đang ngơ ngác, Lý Công Uẩn vẫy tay chào rồi cứ vậy biến mất sau cánh cửa gỗ.


Anh ta đi rồi, hai cấm vệ quân cũng không cho tôi nán lại lâu, thẳng thừng đuổi tôi xuống bếp.


Mang theo tâm trạng mơ mơ hồ hồ rời khỏi gian nhà chính, tôi trở về căn bếp của Đình Bách trong tình trạng toàn thân ướt sũng nước mưa. Bếp không có ai, chắc Bách đã ra ngoài thăm bệnh thương binh.


Chọn lấy một chỗ khô ráo để ngồi, tôi mặc kệ cơn choáng váng âm ỉ ở đầu, run rẩy cầm cái bọc vải mà Lý Công Uẩn cho mình lên xem.


“Hình như là đồ gỗ?” Tôi lẩm bẩm, loay hoay tìm nút thắt. 


Món đồ này được bọc những hai lớp vải, nhìn cách gói ghém chỉn chu có thể thấy rõ thành ý của người đi tặng. Tôi không mất nhiều thời gian để gỡ nó ra. Ấy vậy nhưng, vừa trông thấy thứ ở bên trong, trái tim tôi lập tức rơi mất một nhịp, cơ thể không tự chủ được run lên bần bật. Nếu không phải đang ngồi, tôi nghĩ mình sẽ ngã gục ra ngay lúc ấy.


Thứ Lý Công Uẩn cho tôi… không ngờ lại là một cuốn vở viết!


Tại sao?


Tại sao vậy chứ?


-


*Chú thích:


1, Dưới các triều vua Tiền Lê, đặc biệt dưới triều vua Lê Đại Hành (980 - 1005) quân đội Tiền Lê được quan tâm xây dựng, gồm hai lực lượng chính: quân cấm vệ và quân vương hầu. Quân cấm vệ là lực lượng thường trực của triều đình, nòng cốt của quân đội Tiền Lê, quân số khoảng 3.000 người, được tổ chức khá hoàn chỉnh từ năm 986 trên cơ sở quân đội thời nhà Đinh, được lựa chọn, bổ sung thêm những đinh tráng khỏe mạnh nhất trong nước; gồm 2 bộ phận: quân Tùy long (canh gác nơi vua ở và làm việc) và quân Tứ sương (canh gác bên ngoài các vùng thành ở kinh đô Hoa Lư). Chỉ huy lực lượng quân cấm vệ là điện tiền chỉ huy sứ, có phó chỉ huy sứ giúp chỉ huy quân tứ sương. Binh sĩ cấm quân đều được thích lên trán 3 chữ “thiên tử quân”.


10

Bình luận

Thiết lập văn bản

Chọn font chữ

Nội dung sẽ hiển thị như thế này