Danh Vật 1 - Xích Thố Thôn Thạch Mã (1): Giờ Ngọ Đóng Cửa, Giờ Tý Tắt Đèn
Màn sương mù đặc quánh như váng sữa trườn qua kính chắn gió của chiếc xe con cũ kỹ, liếm láp từng mét đường đất đá lởm chởm dẫn vào thôn Thạch Mã. Chiếc gạt nước cố gắng gạt bỏ lớp hơi nước bám chặt lấy tầm nhìn nhưng đó tuyệt nhiên là một việc làm vô vọng. Đạt nhíu mày, bàn tay siết chặt vô lăng đến mức các khớp ngón tay trắng bệch. Anh liếc nhìn đồng hồ trên bảng táp-lô (*): mười một giờ ba mươi lăm phút trưa.
(*) Táp-lô là khu vực phía trước người lái và hành khách phía trước, nơi bố trí đồng hồ, đèn báo, màn hình, cửa gió điều hòa và các nút điều khiển.
Cái giờ mà lẽ ra ở bất cứ đâu trên dải đất miền Bắc này, nắng phải đang dát vàng lên những mái ngói đỏ tươi, thì ở đây, mọi thứ lại chìm trong một màu xám ngoét ảm đạm.
Đạt thở dài một hơi. Vừa quay lại cái nghề bán buôn, anh liền phải lặn lội tới cái xó xỉnh heo hút này để thương thảo về bức tượng ngựa đá Xích Thố nổi tiếng của vùng Thạch Mã. Con ngựa đá Xích Thố này nghe nói chưa hoàn thiện, nhưng được tạc như có linh hồn. Khách quen của anh nằng nặc đòi sở hữu bằng được, nhưng chủ nhân của nó lại nhất quyết không chịu bán. Dẫu vậy, anh cũng chỉ cảm thấy bản thân khổ sở một chút, không dám than lấy một lời, bởi số tiền nhận được thật sự quá lớn.
Đạt rồ ga lái con xe tàng tàng vượt qua màn sương mù như con quái vật chắn đường.
Cổng thôn Thạch Mã dần hiện ra trong màn sương. Hai bên trụ cổng là hai bức tượng ngựa đá lớn bằng người thật. Một con Bạch Mã, một con Xích Thố. Cả hai đều đang trong tư thế chồm lên, vó trước giơ cao tỏa ra thế hùng dũng mãnh liệt. Đạt thoáng nhìn hai bức tượng một chốc, thầm nghĩ hai bức tượng này thật tinh xảo, quả nhiên không hổ danh là thôn nổi tiếng trong việc đục ngựa đá. Đạt hít một hơi sâu, chầm chậm đánh xe qua cổng.
Vào cổng, Đạt dần giảm tốc độ, quan sát hai bên đường. Những ngôi nhà ở thôn Thạch Mã đều lụp xụp, tường bao xây cao quá đầu người. Trước mỗi sân nhà đều ngổn ngang những phôi đá hình ngựa. Có con đã thành hình, có con mới chỉ là những khối đá sần sùi, chưa ra hình cũng chẳng ra dạng.
Người dân trong thôn đi lại lầm lũi, đầu cúi gằm, khăn trùm kín mặt chỉ để lộ đôi mắt ảm đạm. Trong không gian, ngoại trừ thỉnh thoảng vang lên tiếng đục đẽo thì tuyệt nhiên không còn phát ra âm thanh nào khác. Sống cùng một thôn mà ai nấy đều che kín mặt mũi, lại chẳng nói với nhau nửa lời, đâu đâu cũng xuất hiện sự bất thường!
Đây là lần đầu tiên Đạt đến thôn Thạch Mã. Dù đã nghe phong thanh về sự biệt lập và những lề thói cổ quái của thôn này từ trước, nhưng trăm nghe không bằng một thấy, cái không khí u tịch đến rợn người ở đây vẫn nằm ngoài sức tưởng tượng của anh.
Càng đi sâu vào trong, con đường đất càng trở nên gồ ghề, khúc khuỷu, hai bên đường ngập ngụa bụi đá trắng xóa. Tầm nhìn của anh vốn đang mờ nhòe bất chợt tối sầm lại. Những đám mây đen từ đâu kéo đến, che lấp chút ánh sáng yếu ớt còn sót lại trong làn sương mù dày đặc. Thấy trời trở gió, Đạt cau mày đạp nhẹ chân phanh để hãm tốc độ.
Chiếc xe trượt đi một đoạn ngắn trên mặt đường trơn trượt rồi dừng lại. Anh vừa định rút chìa xuống xe hỏi thăm mấy người gần đây thì đột ngột chứng kiến một cảnh kỳ lạ. Trong sân của vài căn nhà lân cận, những người thợ đang đục đá bỗng nhiên vứt toẹt búa đục xuống đất, vội vã chạy biến vào trong nhà như thể gặp ma. Hầu hết người dân đang đi bộ trên đường cũng rảo bước thật nhanh, dáng vẻ hoảng loạn như thể đang trốn chạy thứ gì sắp ập tới.
Đạt sững người, trố mắt nhìn những cánh cửa gỗ dày cộp đồng loạt đóng sầm lại. Chỉ trong vòng chưa đầy hai phút, con đường trục chính của thôn Thạch Mã hoàn toàn vắng bóng người, chỉ còn lại màn sương mù và chiếc xe con của Đạt trơ trọi giữa đường.
Đạt sững người trong chốc lát. Bấy giờ, anh bất giác nhớ lại dòng tin nhắn mà người môi giới đã gửi cho anh trước đó: “Dân Thạch Mã có lệ: Giờ Ngọ đóng cửa, giờ Tý thắp đèn. Anh tốt nhất là đừng đến vào đúng mười hai giờ trưa đấy nhé!”
Lúc này, Đạt theo bản năng nhìn xuống táp-lô, quả nhiên đồng hồ trên táp lô chuyển sang số mười hai, đúng vào giờ Chính Ngọ...
Điện thoại của Đạt đổ chuông, anh vội vàng nhấn nút nghe.
“A lô!” Đạt bắt máy.
“A lô... anh Đạt đó à? Tôi, Hùng đây! Anh chuẩn bị đến thôn Thạch Mã chưa?” Đầu dây bên kia vang lên một giọng nói.
Đạt hơi chột dạ, nhưng vẫn cố giữ giọng bình tĩnh: “Tôi đang ở trục đường chính của thôn rồi, ngay chỗ có cái cây đa lớn.”
Đối phương nghe Đạt nói liền im hơi lặng tiếng trong chốc lát. Thấy đầu dây bên kia im lặng, Đạt gặng hỏi: “Có chuyện gì xảy ra à? Đang giữa trưa mà dân đều đóng cửa im ỉm như bùng phát dịch bệnh vậy?”
“Anh...” Hùng không biết phải bày tỏ thái độ như thế nào đối với sự ngoan cố của Đạt, đành nói: “Anh ngồi yên trong xe, đừng mở cửa kính, cũng đừng bước ra ngoài. Tuyệt đối không được ra ngoài vào giờ này! Tôi sẽ ra đón anh ngay...”
Đạt còn chưa kịp đáp, đầu dây bên kia đã bị cắt ngang bởi những tiếng rè rè nhiễu sóng chói tai. Anh nhăn mặt, hạ điện thoại xuống nhìn ra ngoài. Màn sương bên ngoài dường như dày thêm một lớp. Trong cái mờ ảo đục ngầu ấy, anh bỗng thoáng thấy một bóng đen lướt qua phía sau gốc đa cổ thụ.
Cái bóng này hòa lẫn trong màn sương mù mờ ảo, giống bóng dáng một người đàn ông đang khoác chiếc áo choàng dài thượt, tà áo rộng rũ xuống che lấp cả chân.
Đạt đang chăm chú nhìn thì một tiếng “cộp” nặng trịch bất ngờ vang lên trên nóc xe. Anh giật bắn mình, tay phải theo phản xạ sờ ngay xuống con dao đa năng bên hông.
Đạt nín thở, mắt dán chặt lên trần xe. Tiếng động không lặp lại, nhưng cảm giác bị rình rập đè nặng lên ngực anh. Anh liếc nhìn ra gương chiếu hậu, phía sau hệt như phía trước, không có gì ngoài làn sương mù cuộn trào như bão tố.
Đạt nghe theo lời Hùng, ngồi im trong xe chờ đợi.
Phải mất mười lăm phút sau, anh mới thấy có một người đàn ông vẫy tay ra hiệu cho mình lái xe vào ngõ bên cạnh. Người này khoác áo kaki bụi bặm, dáng người khá cao và vạm vỡ, nhưng khuôn mặt lại tái mét, cắt không còn giọt máu, tương phản hoàn toàn với vẻ phong trần bên ngoài.
Đây là Hùng. Hùng là người môi giới, cũng là thương nhân, thường xuyên mua bán qua lại với thôn. Dù không phải người trong thôn, nhưng ít nhiều gì thì cậu ta vẫn hiểu biết hơn anh.
Đạt đánh lái, chiếc xe từ từ lăn bánh vào con ngõ nhỏ đầy bụi đất. Hùng chạy lại, gõ nhẹ vào cửa kính, ra hiệu an toàn.
Đạt bước xuống xe, hỏi Hùng: “Có chuyện gì xảy ra thế?”
Hùng không trả lời Đạt, mà nói: “Đất ở đây có thổ công, sông ở đây thì có hà bá, lệ làng bao đời nay rồi, giờ Ngọ đóng cửa, giờ Tý là phải thắp đèn! Anh vậy mà cứ mặc kệ, thế là thế nào?”
“Nếu giờ Ngọ thắp đèn, giờ Tý mở cửa thì thổ công bắt người chôn sống, hà bá dìm người đến chết hay sao?” Đạt thản nhiên đáp.
Hùng quay lại, định gắt lên: “Anh đừng có nói linh tinh!” nhưng khi thấy vẻ mặt tò mò của Đạt, cậu ta liền nghẹn lời, chỉ biết thở dài.
Trước đó nói chuyện qua điện thoại về vụ thương thảo con Xích Thố của nhà ông Tam, Hùng đã có linh cảm Đạt là một người bướng bỉnh, cứng đầu, không sợ trời cũng chẳng sợ đất. Vì nỗi lo này nên Hùng mới gọi điện hỏi tình hình của Đạt đúng thời điểm là mười hai giờ trưa, không sợ vạn nhất chỉ sợ nhất vạn, tưởng chừng chỉ là lo lắng vớ vẩn thế mà ai ngờ được Đạt thật sự đến thôn vào đúng Chính Ngọ!
Hùng nhìn Đạt một lượt từ đầu đến chân, lắc đầu ngán ngẩm, quả thực không thể nào ưa nổi cái tính ngông cuồng này.
Không bao lâu sau, hai người cùng đứng trước một ngôi nhà ngói ba gian cũ kỹ, nằm giữa một vườn chuối rậm rạp. Cổng nhà dán chi chít những tấm bùa vàng trên cánh cửa gỗ mối mọt, gió thổi qua khiến chúng bay phấp phới, tạo nên những tiếng sột soạt ghê người.
Đạt nhìn thấy cảnh tượng này thì không khỏi cảm thấy kinh ngạc.
“Nhà ông Tam đây à? Có chuyện gì mà thế này...”
Hùng nhìn quanh, chẳng hiểu sao mà đột ngột hạ giọng:
“Vợ ông Tam mới mất mấy hôm trước, chết bất đắc kỳ tử ngay trong nhà. Hiện trường bị phong tỏa để điều tra, nhưng con Xích Thố quá nặng, lại không được xem là vật chứng trực tiếp nên vẫn nằm yên chỗ cũ. Bởi vậy tôi mới phải dẫn anh đến tận nơi này.”
“Cái gì? Vợ ông Tam chết? Con Xích Thố kia không thể di dời? Chuyện này là thế nào?”
Hùng nói rõ hơn: “Vợ của ông Tam là bà Mến, 55 tuổi, ba hôm trước được phát hiện là đã chết trong nhà. Ông Tam đi giao hàng ở tỉnh xa từ giữa tháng, bà Mến ở nhà một mình. Sáng hôm hai mươi, hàng xóm thấy cửa đóng im ỉm, gọi mãi không thưa. Nhìn qua khe cửa, họ kinh hoàng phát hiện bà ấy nằm bất động giữa vũng máu lênh láng, đôi mắt vẫn mở trừng trừng.”
Đạt kinh hãi, thốt thành tiếng: “Tại sao bà ấy lại chết?”
Hùng nhún vai đáp:
“Tôi biết làm sao được? Thậm chí đến giờ cũng chưa tìm ra hung thủ. Nghe nói, bà Mến chết trong tình trạng cũng thảm khốc lắm!”
Hùng bắt đầu kể lể bằng giọng u ám:
“Nghe người đầu tiên phát hiện thi thể của bà Mến nói: Bà ta chết trong thế nằm ngửa với khuôn mặt vặn vẹo, đôi mắt cứ mở trừng trừng nhìn lên trần nhà, miệng thì há hốc như đang định hét lên.
Điều kỳ lạ nhất phải nói đến vết thương chí mạng trên ngực bà Mến. Phần ngực áo bị xé toạc, lộ ra vùng ngực tím bầm, nát bấy. Xương ức và xương sườn dường như đã bị một lực tác động cực mạnh đập cho gãy vụn...”
“Từ từ! Cậu kể chi tiết thế để làm cái gì? Định dọa cho tôi sợ đấy à?” Đạt cắt ngang, nói mạnh miệng, nhưng tấm lưng vẫn bất giác run lên một cái.
Hùng cười khà khà, mặc kệ Đạt mà lại trầm giọng kể tiếp:
“Người ta còn phát hiện thêm một điều kỳ quái: Vết bầm này là một vòng cung hoàn hảo, lõm hình chữ U hằn sâu vào da thịt. Đích thị là dấu của một chiếc móng ngựa!”
“Dấu móng ngựa?”
Hùng thỏa mãn với câu hỏi này của Đạt, không nhanh không chậm bèn nói tiếp:
“Đúng vậy, chính xác là dấu móng ngựa. Có thể anh không biết, thôn này nhà ai nhà nấy cũng đều làm nghề đục đẽo ngựa đá, nên có một tín ngưỡng đối với những con ngựa do mình tạo ra. Nghe đâu, nghề đục ngựa này có thể tạo ra những con vật có linh tính. Giống như câu chuyện về hình nhân thế mạng, một khi vật vô tri vô giác có linh hồn, thứ chúng tìm về đầu tiên cũng chính là người tạo ra nó!”
Đạt theo mạch suy nghĩ của Hùng, mạnh dạn phỏng đoán: “Thế nên, bà Mến chết là vì con ngựa Xích Thố mà tôi định mua?”
Hùng nhướn mày, buông một câu: “Chắc thế!”
Hùng vừa dứt lời, Đạt đã cười ha hả, nói: “Quả nhiên không nên tin vào lời nói của những người môi giới!”
Hùng thấy Đạt đột ngột cười, lập tức sững người hẳn, bất giác thốt lên một tiếng: “Anh có ý gì?”
Đạt không trả lời Hùng mà đánh sang chuyện khác: “Tôi với cậu có thể vào hiện trường à?”
Hùng nhăn mặt, càng nhìn Đạt càng thấy không ưa. Cậu ta nhanh chóng lẻn vào trong. Đạt nhìn quanh, cả khu vực xung quanh đều vắng tanh. Thấy thế, anh cũng đánh bạo mà đi vào.
“Đây là hiện trường án mạng, cậu cứ thế mà đi vào cũng được hả?” Đạt nhỏ giọng hỏi.
Anh vội vàng lấy điện thoại, vừa bật flash soi quanh căn phòng, vừa nghe Hùng nói:
“Ở đây mà còn chứng cứ thì đến con ruồi cũng bị bắt đi rồi. Tiếc là do chưa tìm ra hung thủ nên nhà vẫn bị giăng dây ngăn cách thôi. ”
Đạt nói: “Tốt! Vậy tại sao cậu không báo tôi một tiếng trước? Cậu muốn tôi lên đây để ngắm cảnh hiện trường án mạng ư?”
Hùng nhếch mép cười, một nụ cười gượng gạo và có phần quỷ dị. Cậu ta đáp lời: “Mấy hôm nay tôi bị ốm nặng, nằm liệt giường đến hôm qua mới tỉnh lại. Vốn là định báo cho anh biết về tin này rồi, nhưng tôi chợt thấy con ngựa Xích Thố kia không được coi là bằng chứng, là tài sản riêng có giá trị lớn của ông Tam, ông ta lại sắp về rồi, nên thôi đành đợi anh một thể lên đây!”
“Ông Tam bao giờ về?” Đạt hỏi.
“Tôi nghe tin chiều tối nay ông ấy sẽ về. Nếu anh đến muộn hơn một chút thì có lẽ đã không phải chờ đợi!”
Đạt không đáp, chỉ lẳng lặng soi đèn quét một vòng quanh nhà. Gian nhà này không chỉ là nơi ở, mà còn là nơi trưng bày những tác phẩm tâm đắc của ông Tam. Bốn góc nhà là bốn bức tượng ngựa đá nhỏ, được chạm khắc tinh xảo, từng thớ cơ, từng sợi lông bờm đều sống động như thật. Đôi mắt của những con ngựa đá này, dưới ánh đèn leo lét dường như có sinh khí.
Quả không hổ danh nghệ nhân đệ nhất vùng Thạch Mã, thần thái của chúng sống động đến mức khiến người ta phải rùng mình.
Đạt không nhanh không chậm lên tiếng: “Con Xích Thố đó nằm ở đâu?”
Hùng ngước đầu nhìn về một tấm rèm nhung đỏ thẫm, nói:
“Nó ở bên trong. Với vai trò là một người môi giới, tôi sẽ nói cho anh biết thông tin này. Đây là tác phẩm để đời của ông Tam, nghe nói ông ấy tạc nó bằng một tảng đá đỏ lấy từ một gò đồi bị phong tỏa trên núi. Gò đồi này trước đó từng là bãi chôn xác thời chiến. Ông ấy quý nó hơn mạng sống, cấm tiệt bất cứ ai, kể cả vợ, được phép chạm vào. Theo lẽ đó, người có thể thuyết phục được ông ta bán đi thì chính là cao thủ, không không, phải nói là cao thủ trong dàn cao thủ!”