Danh Vật 1 - Xích Thố Thôn Thạch Mã (2): Lễ Giấu Ngựa Tránh Mắt Quan Binh
Tấm rèm nhung đỏ thẫm rủ xuống từ trần nhà, màu sắc không tươi tắn mà ngả sang tông bầm tím, giống cành phướn đỏ (*) trong các đám tang xưa cũ. Mùi hương trầm cháy dở quyện với cái lạnh âm ẩm của ngôi nhà khóa kín tạo nên một bầu không gian bí bách và đặc quánh.
(*) Cành phướn là vật dụng tâm linh trong tang lễ, dùng để dẫn đường và tiễn đưa linh hồn người đã khuất, thường treo cạnh bàn thờ, theo quan tài khi di quan - hạ huyệt, và treo trước cổng nhà để báo hiệu có tang.
“Anh không muốn chờ ông Tam về à?” Hùng nói nhỏ, giọng điệu có chút cợt nhả, trái ngược hẳn với nội dung tràn ngập ý vị dọa dẫm: “Dân ở đây đồn rằng cái tượng này thiêng lắm, bà Mến cũng chết vì dám động chạm vào nó đấy.”
Thật vớ vẩn, Đạt thầm nghĩ. Thay vì trả lời, anh dứt khoát vươn tay, nắm lấy mép nhung rồi giật mạnh tấm rèm sang một bên. Lớp bụi dày tích tụ lâu năm bị khuấy động, bay mù mịt, nhảy múa loạn xạ trong luồng sáng đèn flash.
Sau lớp rèm là một gian phòng hẹp, án ngữ ngay chính giữa là một bức tượng ngựa đỏ rực khổng lồ. Đó là một con Xích Thố, nhưng không phải loại tầm thường, mà là một kiệt tác đầy hùng tráng và quỷ dị.
Bức tượng cao chừng một mét rưỡi, tạc từ nguyên khối đá đỏ, chằng chịt những vân trắng chạy dọc ngang tựa từng thớ cơ căng cứng. Dưới ánh đèn quét qua, chất đá dường như trở nên trong suốt, tạo ảo giác rợn người rằng bên dưới lớp vỏ đá kia là những mạch máu đang thực sự cuộn chảy. Tư thế con ngựa thì chồm lên, hai chân trước tung vó, bờm dựng ngược, cơ bắp cuồn cuộn đầy uy lực.
Không hổ danh là bức tượng nổi tiếng của vùng Thạch Mã!
Hơn nữa, Đạt cũng chẳng hiểu sao mà ông Tam có thể đưa được khối đá này trở về trong khi cái bãi chôn tập thể kia theo lời Hùng là chẳng ai dám bén mảng đến.
Ngoài chất liệu quý và kỹ thuật chạm khắc tinh xảo vượt xa những bức tượng thông thường, con Xích Thố này còn khác biệt ở một điểm nữa, đó chính là đôi mắt.
Không biết là vô tình hay hữu ý mà ông Tam đã bỏ qua chi tiết quan trọng nhất: đôi mắt. Hai hốc mắt con ngựa chỉ là hai cái hang sâu hoắm, đen ngòm, như muốn hút trọn linh hồn người đối diện. Dù không có nhãn cầu, Đạt vẫn rùng mình cảm nhận được luồng sát khí ngùn ngụt tỏa ra từ đó, như thể con dã thú đang trừng trừng soi mói tâm can anh.
“Loại đá ở bãi chôn tập thể này...” Hùng đột ngột lên tiếng, “Người dân ở đây đều bảo đá ấy ngấm máu người chết cả trăm năm, âm khí nặng, kêu ông Tam mau chóng bán nó đi đi, nhưng ông ta quyết tâm sống chết giữ lại con Xích Thố này cho bằng được. Thậm chí, có người ở nơi khác đến ngỏ ý muốn mua con Xích Thố này với giá cực kỳ cao, ông ta vẫn nhất quyết không muốn bán. Nếu anh có thể thuyết phục được ông Tam, tôi sẽ cho anh thêm năm phần trăm phí hoa hồng của tôi!”
Đạt không rõ Hùng rốt cuộc là người môi giới hay kẻ phá đám khi thốt ra những lời lẽ đó. Là khích tướng, là coi thường, hay cảnh báo? Dù là gì đi nữa, chắc chắn đó không phải là lời động viên.
Đạt gạt bỏ mớ suy nghĩ hỗn độn, mặc kệ Hùng. Anh soi đèn, ghé sát mặt vào từng chi tiết của bức tượng. Bề mặt đá trơn láng, toả ra hơi lạnh thấu xương, đầu ngón tay anh chạm vào cảm thấy dính dớp như thể có một lớp mồ hôi dầu rịn ra từ đá. Anh chú ý đến phần miệng ngựa. Hàm ngựa há rộng, để lộ hàm răng đều tăm tắp, sắc nhọn một cách bất thường. Dưới ánh đèn điện thoại, Đạt chợt thấy kẹt giữa hai hàm răng đá đỏ đó là một vật thể kim loại xỉn màu.
Anh nhìn vật thể đó như bị thôi miên. Lý trí gào thét bảo dừng lại, nhưng cơ thể lại phản chủ. Bàn tay Đạt tự động vươn ra, luồn vào trong cái miệng đầy răng nhọn hoắt của con ngựa đá. Một luồng điện lạnh buốt chạy dọc sống lưng khi ngón tay anh chạm vào vật kim loại lạnh lẽo. Anh cạy nó ra, là một đồng xu cổ.
Đồng xu làm bằng đồng đen, đã rỉ xanh lấm tấm, lỗ vuông ở giữa méo mó. Trên mặt đồng xu khắc bốn chữ đã bị mờ nét.
“Này, này! Anh làm cái gì thế? Đừng có động chạm linh tinh chứ!” Miệng Hùng thì nói gắt nhưng cơ thể lại vô thức nghiêng sang nhìn thứ trong tay Đạt.
Đạt giật mình hoàn hồn, ngơ ngác nhìn bàn tay mình. Chuyện quái gì vừa xảy ra vậy? Rõ ràng anh không hề có ý định lấy nó ra. Giờ thì hay rồi, anh tự nhiên cạy đồng xu từ miệng con Xích Thố ra làm gì không biết! Chưa cần biết đến việc ông Tam có phát hiện ra không, nhưng nếu là cảnh sát quay lại điều tra con Xích Thố này, thì anh kiểu gì cũng chết chắc.
Đạt lặng người trong chốc lát, rồi dứt khoát nhét lại đồng xu vào miệng con Xích Thố.
“Đi thôi!”
Đạt phủi tay, vội vàng đi ra khỏi gian phòng.
Hùng thấy thế cũng chạy theo sau.
Rời khỏi căn nhà u ám của ông Tam, không khí bên ngoài cũng chẳng khá khẩm hơn là bao. Sương mù vẫn dày đặc, bao phủ ngôi làng Thạch Mã trong một tấm màn trắng đục nhờ nhờ. Cái lạnh vùng núi ngấm vào da thịt, tê buốt.
Trước cổng nhà ông Tam, Đạt đột ngột đứng khựng như trời chồng. Hùng bước vội theo sau cũng phải đứng lại. Hai người bất giác nhìn nhau. Hùng có chút hoang mang, định bụng hỏi Đạt bị làm sao, thì Đạt đã lên tiếng trước: “Ở đây... có phòng trọ nào hay không?”
Hùng cười cười, đút tay vào túi áo khoác, đi trước dẫn đường, nói: “Theo tôi.”
Mấy giây sau, trên con đường sỏi đá vắng tanh của thôn Thạch Mã xuất hiện hai người đi bộ. Đạt nói muốn lên xe, nhưng bị Hùng ngăn cản. Cậu ta bảo hiện tại thôn vẫn còn nhiều âm khí, tốt nhất là đừng đánh động, xe có để đấy hàng tuần cũng chẳng sợ biến mất đâu. Đạt cảm thấy Hùng thật mê tín, nhưng vẫn chấp nhận đi bộ.
Con đường thẳng tắp hun hút, hai bên là những ngôi nhà cửa đóng then cài im lìm như những nấm mồ. Thế nhưng, thỉnh thoảng Đạt lại thấy lạnh gáy, cảm giác như có hàng chục đôi mắt đang lén lút dõi theo anh qua những khe cửa hẹp.
Đạt nhìn quanh, thấy vài gốc mai rừng khẳng khiu đang ngậm nụ. Cho dù đang độ cuối đông, nhưng những cây mai rừng này dường như đã quen thói, muốn ép mình nở sớm khi tiết xuân chưa kịp về.
Hai người đi được một đoạn thì bất chợt Đạt thấy một khu vực đông đúc dân cư hơn hẳn. Dân làng tưởng như khoá mình ở trong nhà thì lạ thay lại đều xuất hiện ở đây, tập trung xung quanh một cái giếng cổ.
Giếng thôn Thạch Mã là một cái giếng cổ khổng lồ, thành giếng xây bằng đá ong xám xịt. Xung quanh giếng bao quanh lấy tầm mấy chục con người. Họ chỉ mỉm cười coi như chào hỏi nhau, trên tay đều cầm những chiếc rổ tre nhỏ.
“Họ đang làm gì vậy?” Đạt lên tiếng, tò mò hỏi.
Hùng đáp lời: “À nay à, đúng rồi, là cúng ông Công ông Táo đấy!”
Đạt ngạc nhiên, quay sang nhìn Hùng, cảm giác mất phương hướng về thời gian ập đến, hỏi: “Hôm nay là ngày bao nhiêu?”
“Là lệ của thôn này nên anh chắc chưa biết.” Hùng bụng dạ thoải mái chèn thêm câu “Cho dù có biết người này kiểu gì cũng cóc thèm quan tâm cho xem!” nhưng dĩ nhiên cậu ta không thốt ra câu đó, chỉ bình tĩnh nói tiếp: “Ở Thạch Mã, dân ăn Tết sớm, đối với họ thì hôm nay đã là 23 tháng Chạp rồi.”
Đạt nhíu mày khó hiểu. Kể cả là cúng Táo quân, thì theo tục lệ phải thả cá chép vàng để đưa ông Táo về trời chứ? Đằng này, nhìn vào những chiếc rổ tre trên tay dân làng, tuyệt nhiên không thấy bóng dáng con cá nào quẫy đạp. Thay vào đó, lấp đầy trong rổ là những con ngựa đá nhỏ xíu, chỉ to bằng nắm tay, nằm im lìm lạnh lẽo.
Đạt ngó nhìn, thấy một bà cụ đang lầm rầm khấn vái vài câu không rõ tiếng, rồi run rẩy nhặt từng con ngựa đá lên, thả xuống giếng.
Tiếng vật nặng rơi xuống nước vang lên, nghe nặng trịch và u buồn, khác hẳn tiếng cá quẫy nước thanh thoát. Mặt nước giếng đen ngòm gợn lên những vòng sóng nhỏ rồi nhanh chóng nuốt chửng những con ngựa đá.
Xung quanh, những người khác cũng lần lượt phóng sinh ngựa đá. Hàng trăm con ngựa đá tí hon được thả xuống giếng, chìm nghỉm vào bóng tối lạnh lẽo dưới đáy giếng. Một cảnh tượng kỳ dị và trái khoáy đến rợn người.
Đạt nhăn mặt, hỏi: “Sao lại thả ngựa đá mà không phải cá chép?”
“Chuyện này thì...” Hùng bắt đầu mở lại cái giọng điệu u ám, “Bắt đầu từ rằm tháng Chạp là thôn đã rục rịch ăn Tết. Hôm nay đối với họ là 23 tháng Chạp, là ngày tiễn Táo quân, cũng là hình thức để thực hiện lễ giấu ngựa.”
Hùng ngó quanh, sau đó mới tiếp lời: “Thôn này sống nhờ nghề đục tượng, buôn ngựa đá. Các cụ bảo đá ở đây có linh khí, vì thế, ngựa tạc ra sẽ có hồn vía, có linh tính. Việc mang linh vật đi bán chác bị coi là phạm luật trời, là buôn thần bán thánh. Thế nên... họ phải ăn Tết sớm, cúng Táo trước một tháng để đánh lừa thiên đình, tránh bị quan binh nhà trời soi xét.”
“Tránh quan binh thiên đình?” Đạt thốt lên, cảm thấy mọi chuyện ngày càng trở nên kỳ bí. Trước đó là lệ “giờ Ngọ đóng cửa, giờ Tý thắp đèn”, sau lại là lệ “ăn Tết sớm” hòng tránh quan binh thiên đình. Tại sao dân ở đây lại có những tục lệ khó hiểu đến như thế!
“Quả thực là có tục lệ như thế!” Hùng tiếp tục, “Họ tin rằng vào đúng ngày 23 tháng Chạp thật, Táo quân cưỡi cá chép lên trời tâu bẩm Ngọc Hoàng. Lúc đó thiên đình sẽ soi xét trần gian. Nếu thấy thôn Thạch Mã buôn bán ngựa có linh hồn, sẽ giáng họa. Vì thế, thôn tổ chức lễ cúng giả, cúng trước một tháng, và thay vì thả cá chép vốn là loài vật có thể bơi lên trời báo tin thì họ thả ngựa đá xuống giếng.”
Hùng chỉ tay xuống cái giếng sâu hun hút phía trước, nói tiếp:
“Giếng này thông với mạch ngầm, mấy già làng bảo nó dẫn thẳng xuống cõi âm. Thả ngựa đá xuống đó là để giấu đi, trấn lại dưới nước, không cho hồn ngựa bay lên trời mách lẻo với thiên đình về những chuyện mờ ám trong thôn.”
Đạt rùng mình trước hủ tục quái đản này. Họ dám cả gan lừa dối thần linh, dìm những “linh hồn” do chính tay mình tạo ra xuống đáy nước lạnh lẽo để che giấu tội lỗi. Bất giác, hình ảnh con Xích Thố ngậm đồng xu ở nhà ông Tam hiện về trong tâm trí anh. Phải chăng đó cũng là một loại bùa chú, một cách “khóa miệng” để ngăn con quái vật ấy tố cáo những bí mật đen tối của chủ nhân?
Đạt cảm thán: “Quái đản thật! Cậu làm ăn ở đây lâu lắm rồi à, sao biết nhiều chuyện quá vậy?”
Hùng không nói gì, chỉ cười hừ một cái.
Bỗng, một tiếng động lạ vang lên từ phía đám đông.
Một người đàn ông trung niên, tay cầm một con ngựa đá màu đỏ, nhỏ hơn con Xích Thố ở nhà ông Tam nhưng cùng một chất liệu, đang định thả xuống giếng thì bất ngờ khựng lại. Cánh tay ông ta cứng đờ giữa không trung rồi bắt đầu run bần bật. Đôi mắt ông ta trợn ngược lên trắng dã, miệng sùi bọt mép trắng xóa.
Đám đông dạt ra, kinh hoàng. Người đàn ông ngã vật xuống đất, tay vẫn nắm chặt con ngựa đá đỏ, co giật liên hồi. Những người xung quanh không ai dám lại gần đỡ, trong đám đông còn có người hô lớn:
“Ngựa nhập... Ngựa nhập rồi!”
Đạt lao tới, thô bạo gạt đám đông đang đứng như trời chồng sang một bên. Anh quỳ xuống bên cạnh nạn nhân. Cơ bắp người đàn ông căng cứng, gân cổ nổi lên cuồn cuộn tím tái. Trong cơn co giật điên cuồng, ông ta trừng mắt nhìn Đạt, tròng mắt vằn lên những tia máu đỏ lòm. Bàn tay ông ta như gọng kìm bóp chặt lấy cổ tay Đạt, móng tay cắm sâu vào da thịt đau điếng. Từ cổ họng ông ta phát ra tiếng rít khàn đặc, nghe chói tai và rợn người, hệt như tiếng hí tuyệt vọng của một con ngựa đang bị chọc tiết.
“Quan binh có mắt... đợi một hai ba trông... cả thôn đều sẽ chết!”
Rồi người đàn ông lịm đi, tay buông thõng, con ngựa đá đỏ lăn lóc trên nền gạch rêu phong.
Đạt vội ấn hai ngón tay lên động mạch cảnh, mạch đập nhanh nhưng loạn nhịp và yếu ớt như ngọn đèn trước gió. Hơi thở người đàn ông nông choẹt, ngắt quãng, bọt mép lẫn máu tươi trào ra, dính bết bên khóe miệng.
Anh nhanh chóng nghiêng người ông ta sang bên phải, đồng thời hét lớn: “Hùng! Gọi trạm xá ngay!”
Hùng giật thót, mặt cắt không còn giọt máu. Tuy hoảng sợ nhưng tay cậu ta vẫn run rẩy rút điện thoại ra bấm số gọi cấp cứu. Trái ngược với sự khẩn trương đó, đám đông dân làng lại lùi xa thêm vài bước, tạo thành một vòng tròn lạnh lùng bao quanh Đạt và người đàn ông đang hấp hối, ánh mắt họ nhìn ông ta không phải là thương xót, mà là kinh hãi tột độ.
“Là ông Ba...” Đạt thính tai nghe thấy một giọng nói vang lên trong đám đông, “Ổng lén đục con ngựa đó bằng đá đỏ ở bãi tha ma cũ. Tôi đã bảo là đừng có đụng vào loại đá đó rồi mà ông ta không nghe!”
Lúc này, ánh mắt Đạt va phải con ngựa đá màu đỏ đang nằm chỏng chơ trên nền gạch rêu phong. Anh vươn tay nhặt nó lên. Cảm giác lạnh buốt truyền từ đá sang tay y hệt lúc nãy. Màu đỏ au, vân trắng chằng chịt như thớ thịt... đây chính xác là bản thu nhỏ của con Xích Thố trong nhà ông Tam.
Con ngựa này cũng không có mắt, và kẹt giữa hai hàm răng đá của nó, cũng có một đồng xu!
Hùng chẳng biết từ đâu đã ghé sát Đạt, kéo tay Đạt lùi lại một chút, hạ giọng nói: “Ông Ba là em họ của ông Tam. Hai người đó đều là hai thợ đục tượng có tiếng nhất cái thôn Thạch Mã này. Thực ra, ngoài tay nghề tạc tượng, họ còn nổi tiếng vì là những người duy nhất dám bén mảng đến bãi chôn tập thể cũ khai thác đá đỏ.”
Đạt lạnh người. Hai người thợ giỏi nhất, cùng khai thác một loại đá cấm kỵ, một người thì vợ chết thảm khốc, trong nhà có Xích Thố được đục đá đỏ cao một mét rưỡi, người kia thì lên cơn co giật khi định ném tượng đá đỏ tí hon xuống giếng.
“Xe cấp cứu bao giờ tới?” Đạt hỏi, cất con ngựa đá vào túi áo khoác của mình.
Hùng nhìn thấy hành động của Đạt nhưng không nói gì, chỉ đáp câu hỏi trước đó của anh: “Khoảng mười lăm đến hai mươi phút nữa, thôn chỉ có thầy thuốc, gần đây có trạm xá thì cách cũng không gần đâu.”
Hùng vừa dứt lời, trong đám đông liền vang lên tiếng hô hoán: “Gọi thầy lang! Mau gọi thầy lang đến xem cho ông Ba!”
Đạt nhìn thấy có người chạy tách ra khỏi đám đông, hướng về một phía mà chạy. Lúc này, Hùng đứng kế bên Đạt mở lời: “Câu lúc nãy ông Ba nói: Quan binh có mắt, đợi một hai ba trông... Đó là bài đồng dao của thôn dùng để răn dạy trẻ con không được bén mảng tới gần cái giếng này. Thật ra... câu cuối không phải là cả thôn đều sẽ chết, mà là sắp bắt được con quỷ nước.”
Quan binh có mắt,
Đợi một hai ba trông,
Sắp bắt được con quỷ nước.