Danh Vật 1 - Xích Thố Thôn Thạch Mã (5): Quan Tài Đứng
Sương mù cả ngày ở thôn Thạch Mã đều đặc quánh như một lớp váng sữa, bám rít lấy da thịt, mang theo cái lạnh lẩn khuất mùi bùn và hương rừng ngai ngái. Bầu trời xám ngoét đè nặng lên những mái nhà cong vút, khiến không gian càng thêm phần u tịch.
Bên miệng giếng cổ hình bát giác, Đạt đang thắt chặt một sợi dây thừng thô nhám, chắc nịch quanh hông, đầu kia được buộc vào gốc cây già cỗi. Hùng đứng bên cạnh, khuôn mặt lộ rõ vẻ lo lắng, nhưng sâu trong đáy mắt vẫn ánh lên sự trêu chọc không thể giấu được.
“Tôi vẫn thấy chuyện này quá mạo hiểm!” Hùng lên tiếng, “Cụ Mẫn đã nói dưới đó là đường dẫn thông qua con suối ở bãi xác, mà bãi xác này không đơn giản, thậm chí hôm qua còn bị sập. Nếu tôi là anh, chắc chắn tôi sẽ là người chạy đầu tiên!”
Đạt khẽ gật đầu, thầm thừa nhận sự điên rồ này. Anh định bụng cúi xuống tháo sợi dây đang thắt ngang hông để rút lui, nhưng Hùng đã kịp bồi thêm bằng một giọng điệu đầy khiêu khích:
“Nhưng dưới giếng cổ này rốt cuộc có thứ gì, quả thực khiến tôi cũng phải tò mò! Ông Ba không hiểu vì lý do gì mà nhất quyết muốn thả con ngựa làm bằng đá đỏ xuống cái giếng này? Con quỷ nước mà bài đồng dao kia nhắc tới là thứ gì? Hơn hết, ông Tam và con Xích Thố đáng giá kia có liên quan mật thiết đến chuyện này hay không? Nếu nắm được thông tin thì đây là những thứ vô cùng quan trọng! Anh cũng biết sự đáng giá của những thông tin này đối với con buôn là như thế nào chứ?”
Đạt biết, đáp án của những nghi vấn trên là quan trọng, nên anh mới liều lĩnh nảy ra ý định lặn xuống giếng xem thử. Nhưng ngặt nỗi, bây giờ đang độ cuối đông, trời núi rừng rét cắt da cắt thịt, lặn xuống giếng chẳng khác nào gã điên tự tìm đường chết. Hơn nữa, chưa chắc dưới đó có thông tin gì đủ sức thuyết phục ông Tam bán con Xích Thố. Nhưng Đạt lại không thể quay đầu, bây giờ mà bỏ cuộc thì vừa phí sức leo lên đây, lại vừa mất cái uy tín của dân buôn!
Đạt nuốt khan, kiểm tra lại chiếc đèn pin chuyên dụng chống nước, ánh mắt kiên định lóe lên dưới hàng lông mày rậm.
Anh tự trấn an: “Được rồi, lặn xuống chút cũng không chết người được!”
Không đợi Hùng kịp nói thêm câu nào, Đạt hít một hơi dài căng lồng ngực rồi trườn người qua thành giếng rêu phong.
Hùng lao đến, kinh ngạc trước hành động của Đạt. Không phải chứ! Rõ ràng cậu ta chỉ khích tướng một chút thôi, không ngờ Đạt lại coi trọng sĩ diện đến mức liều mạng như vậy.
Đạt nhìn mặt nước gợn sóng rồi phẳng lặng, thật sự cảm thấy cạn lời!
Cơ thể Đạt xuyên qua mặt nước phẳng lặng như gương. Cảm giác đầu tiên ập đến không phải là sự ướt át, mà là cái lạnh buốt thấu xương tủy, như thể anh vừa nhảy vào một hầm băng. Nước ở đây mang theo mùi tanh nồng, ngột ngạt khó chịu vô cùng.
Đạt bật đèn pin. Luồng sáng trắng xanh cắt ngang màn đêm dưới nước, nhưng chỉ chiếu xa được chừng hai mét vì độ đục ngầu. Càng xuống sâu, áp lực nước càng ép chặt lấy lồng ngực, tiếng tim đập thình thịch vang lên trong tai như tiếng trống trận dồn dập.
Bốn mét. Sáu mét. Đạt bắt đầu muốn trồi lên.
Dòng nước ngầm từ Gò Tử Sĩ chảy về đây tạo thành một luồng lưu chuyển. Đạt phải bám chặt vào những kẽ đá lởm chởm bên vách giếng để không bị cuốn vào. Đèn pin quét qua vách, anh rùng mình khi thấy những tảng đá xây giếng lốm đốm những vệt đỏ tươi, giống hệt loại đá trên núi cấm.
Đến độ sâu khoảng tám mét, đáy giếng hiện ra. Cảnh tượng trước mắt khiến Đạt hoàn toàn sững người.
Dưới đáy giếng rộng hoác như một hang động ngầm khổng lồ là một trận đồ bát quái quái đản. Ở chính giữa trung tâm đáy giếng, sừng sững một chiếc quan tài bằng gỗ đen bóng, dựng đứng thẳng tắp lên trên, toát ra một vẻ tà dị đến nghẹt thở.
Không những vậy, bao quanh lấy chiếc quan tài dựng đứng này là hàng ngàn, hàng vạn con ngựa đá. Chúng đứng san sát nhau như đang đồng loạt đổ dồn về phía Đạt.
Những con ngựa này chỉ nhỏ bằng bàn tay, lớp lớp chồng lên nhau chật kín đáy giếng. Hàng vạn ngựa đá không nằm ngổn ngang, mà như một đội quân đang chầu phục, canh giữ cái cỗ quan tài dựng ngược ở trung tâm.
“Đây không phải là... vạn binh trấn giữ... đấy chứ?”
Cụm từ đó lóe lên trong đầu Đạt làm anh bất giác lạnh toát sống lưng.
Bỗng nhiên, dòng nước xung quanh Đạt trở nên bất thường. Những con ngựa đá vây quanh quan tài bắt đầu rung lên bần bật. Tiếng đá va vào đá lục cục, trầm đục vọng lại trong môi trường nước. Một xoáy nước khổng lồ hình thành ngay đỉnh chiếc quan tài dựng đứng, bắt đầu hút mạnh.
Đạt cảm thấy một lực kéo vô hình, không giống lực hút của nước, mà giống như hàng ngàn bàn tay lạnh lẽo từ đám tượng đá đang tóm lấy chân anh.
Trên giếng, Hùng đang căng mắt nhìn xuống thì thấy sợi dây thừng bỗng nhiên căng cứng như dây đàn, chà xát vào thành giếng đá bốc khói khét lẹt.
Hùng lập tức phản ứng, nghiến răng ghì chặt lấy dây, bắp tay cuồn cuộn nổi lên nhưng cả người cậu ta vẫn bị kéo trượt về phía miệng giếng.
Lực kéo dưới kia quá lớn, không thể là sức nặng của một con người.
“Cái con má nó!” Hùng gào lên.
Hai người vì không muốn tiếp xúc với dân trong thôn nên vừa qua giờ Ngọ một chút đã lập tức chạy đến giếng để làm phi vụ này. Vì lẽ đó, lúc này chỉ có Hùng ở đây để giúp Đạt.
Hùng mặt đỏ tía tai giữa thời tiết cuối đông cố gắng giữ chặt sợi dây thừng. Tiếng dây thừng kẽo kẹt như sắp đứt tung, siết chặt lấy cánh tay cậu ta rướm máu.
Dưới lòng giếng, Đạt đang nghẹt thở. Nước xộc vào mũi, vào miệng, mang theo vị tanh tưởi ghê tởm. Trước khi ý thức vụt tắt, hình ảnh cuối cùng Đạt nhìn thấy là nắp chiếc quan tài dựng đứng kia dường như khẽ rung lên, và thứ nằm bên trong quan tài là một con ngựa hí vang.
Tõm!
Phía trên, Hùng cảm thấy tình thế ngàn cân treo sợi tóc, liền vứt phăng sợi dây, lao thẳng xuống giếng. Cậu ta thấy Đạt đang trôi nổi trong giếng cổ, xung quanh cũng chẳng có bất kì chuyện gì khác thường. Hùng không rõ tại sao sức ép vừa nãy lại mạnh đến thế. Nhưng không kịp nghĩ nhiều, cậu sốt sắng nhanh chóng lặn vụt xuống kéo Đạt lên trên. Đạt được lôi lên khỏi mặt nước, người mềm nhũn, da dẻ tím tái.
“Này! Anh tỉnh lại đi!” Hùng vỗ mạnh vào má Đạt, rồi nhanh chóng thực hiện ép tim, hô hấp nhân tạo.
Đạt hộc lên một ngụm nước, tanh lợm họng, rồi lịm đi.
Hùng kinh hồn bạt vía. Đạt mà chết, người lãnh đủ hậu quả đầu tiên chính là cậu ta! Hùng vừa nãy thật sự thấy mình đã đi trên tảng băng mỏng.
Bóng tối bao trùm lấy Đạt. Trong cơn mê man chập chờn, anh thấy mình lạc vào giữa một chiến trường đẫm máu. Tiếng gươm giáo va chạm chan chát, tiếng ngựa hí vang rền trời đất, và tiếng thét gào tuyệt vọng của hàng trăm con người đang bị chôn sống. Giữa biển lửa và máu, một người phụ nữ vận giáp phục rách tươm, khuôn mặt bê bết máu bùn nhưng đôi mắt lại sáng quắc, long sòng sọc đầy uy quyền, đang chĩa thẳng mũi kiếm về phía anh.
Đạt hoảng hốt lùi lại, quay đầu bỏ chạy thục mạng. Nhưng ngay khi anh ngoái đầu, đôi chân anh như đóng băng xuống đất. Phía sau lưng anh không phải là đường thoát, mà là cổng thôn Thạch Mã quen thuộc nhưng đầy quỷ dị.
Tiếng vó ngựa dồn dập vang lên ngay sau gáy. Cả đội quân ma quỷ ấy không giết anh, mà tràn qua người anh, kéo tuột anh cùng cả thôn vào một vũng lầy tăm tối vĩnh hằng.
Đạt kinh hoàng choàng mở mắt, bật dậy.
Trần nhà trắng toát. Mùi thuốc sát trùng nồng nặc xộc thẳng vào khứu giác, kéo anh về thực tại. Toàn thân anh đau nhức ê ẩm như thể từng khớp xương vừa bị ai đó tháo rời rồi lắp lại một cách cẩu thả.
Giọng Hùng vang lên bên cạnh, thở phào nhẹ nhõm: “Anh tỉnh rồi à!”
Đạt định gượng dậy nhưng đầu óc quay cuồng, anh thều thào hỏi: “Chuyện gì... xảy ra vậy?”
“Anh hôn mê đúng năm ngày rồi.” Hùng đỡ Đạt dựa vào thành giường, rót vội cốc nước ấm kề tận miệng anh, “Tôi cứ tưởng anh không qua khỏi rồi chứ. Bác sĩ bảo lúc lôi lên, tim anh có lúc đã ngừng đập.”
Đạt uống cạn cốc nước, dòng ký ức kinh hoàng dưới đáy giếng cổ ùa về khiến sống lưng lạnh toát. Hình ảnh những con ngựa đá hướng về chiếc quan tài dựng đứng ám ảnh lấy anh. Nhưng chưa kịp để Đạt hoàn hồn, Hùng đã hạ giọng, ghé sát vào:
“Anh tỉnh dậy đúng lúc lắm. Ông Ba cũng tỉnh rồi.”
Đạt nhíu mày. Ông Ba? À, là người em họ của ông Tam, kẻ đã lên cơn co giật điên loạn và hôn mê ngay sau khi định thả con ngựa đá đỏ xuống giếng cách đây ít hôm đấy à!
Đạt thuận miệng hỏi: “Ông ta đang ở đâu?”
“Ngay phòng bên cạnh. Vừa mở mắt ra là ông ấy đã gào thét đòi gặp công an.”
Đầu óc Đạt còn mụ mẫm, nhưng ngay khi nghe Hùng nói câu này, anh bất giác phản ứng lại: “Lại có chuyện gì xảy ra nữa?”
Hùng đút tay vào túi, thong dong trả lời anh: “Tôi cũng chịu, nếu anh muốn qua đó xem, hay là tôi đưa anh đi nhé?”
Đạt tất nhiên là không muốn. Hiện tại toàn thân anh đau nhức dữ dội, tuyệt nhiên chẳng muốn bước khỏi giường bệnh nửa bước. Nào ngờ lại vì một câu nói của Hùng, Đạt lại lần nữa thay đổi quyết định:
“Ông Ba nói biết ông Tam đang ở đâu, muốn công an đến bắt ông ta lại.”
Gạt phăng cơn đau nhức nhối, Đạt bám chặt vào vai Hùng, nghiến răng đứng dậy: “Đưa tôi sang đó xem thử đi!”
Phòng bệnh của ông Ba u tối, rèm cửa kéo kín mít. Người đàn ông to béo, hồng hào bệ vệ trước đó mà Đạt nhìn thấy giờ chỉ còn lại là một kẻ thân tàn ma dại. Đôi mắt ông ta trũng sâu, thâm quầng thảm hại.
Thấy Đạt và Hùng bước vào, ông Ba cố rướn cái cổ lên. Bàn tay run rẩy vươn ra, bấu chặt lấy tay áo Đạt và Hùng như người chết đuối vớ được cọc.
“Cậu... hai cậu làm ơn...” Giọng ông Ba khàn đặc, nghe rin rít như tiếng gió lùa qua khe cửa hẹp, “Cứu... phải ngăn lão Tam lại... chỉ có người ngoài các cậu mới ngăn được...”
Đạt cúi xuống, hỏi: “Ông cứ bình tĩnh mà nói. Ông Tam rốt cuộc đang ở đâu?”
Ông Ba ho sù sụ, từng tràng ho xé phổi rung bần bật cả giường bệnh. Ông ta nuốt khan, ánh mắt đảo điên nhìn quanh phòng, rồi lên tiếng:
“Thôn này sống yên ổn bao đời nay là nhờ hai con ngựa đá ở cổng. Con Bạch Mã là cửa sinh, trấn giữ khí dương. Còn con Xích Thố đang đứng ở cổng là cửa tử, trấn giữ khí âm. Hai con tạo thành thế lưỡng nghi, chặn đứng oán khí từ Gò Tử Sĩ không cho tràn vào thôn, trấn áp oan hồn tướng sĩ Bắc Sơn.”
Thấy Đạt và Hùng không có phản ứng gì, ông ta cảm thấy nhẹ nhõm hơn cả.
Hùng xen vào: “Vậy thì có liên quan gì đến con Xích Thố ở nhà ông Tam?”
Ông Ba trừng mắt, hơi thở dồn dập, sợ hãi tột độ:
“Đó là mấu chốt! Lão Tam... lão muốn thay thế con Bạch Mã ở cổng thôn bằng con Xích Thố thứ hai đó!”
Đạt lên tiếng: “Nếu thay Bạch Mã bằng Xích Thố thì cổng thôn sẽ có hai con ngựa đỏ, tức là sẽ có hai cửa tử, hai cửa âm ư?”
“Đúng!” Ông Ba lên tiếng, “Hai cực âm cùng tồn tại sẽ phá vỡ thế trận trấn yểm. Khi đó, cổng thôn không còn là bức tường thành ngăn chặn nữa, mà sẽ trở thành một con đường mở toang! Oán khí tích tụ trăm năm của nữ tướng Loan Ngọc và ba trăm thân binh trên Gò Tử Sĩ sẽ theo mạch nước ngầm, mượn đường qua hai con ngựa đỏ mà tràn vào tàn sát dân trong thôn để báo thù!”
Hùng rùng mình, nhớ lại lời của cụ Mẫn, hỏi: “Nhưng tại sao? Ông Tam sao lại muốn hủy diệt cả cái thôn này? Ông ta là người dân, là con cháu trong thôn mà?”
Ông Ba cười, nụ cười méo xệch và cay đắng, hai hàng nước mắt đục ngầu chảy dài trên gò má:
“Tôi biết lão đang làm gì, đó là tín ngưỡng, là đức tin của tôi và lão. Các cậu... hẳn là đã nghe, dân ở đây không muốn bị quỷ ám thì đều phải sử dụng nước trong giếng dẫn từ bãi xác đúng không? Sai rồi... sai hết rồi.”
Đạt nhíu mày: “Sai chỗ nào?”
“Tôi và lão Tam... chúng tôi không phải nhờ sử dụng thứ nước đó hàng chục năm nay mà không bị oán khí quật ngã. Tất cả, hoàn toàn không phải vì chúng tôi cao số!” Ông Ba nhìn thẳng vào mắt Đạt, giọng nói chứa đựng nỗi bi ai của một kiếp người, “Mà vì... tổ tiên của dòng họ chúng tôi không phải là những kẻ phản bội năm xưa. Tổ tiên của chúng tôi là những người dân vô tội, những người đã dốc lòng tiếp tế lương thực cho nghĩa quân Bắc Sơn trong loạn lạc năm đó, để rồi... cũng bị chính đám người phản trắc kia giết hại dã man để bịt đầu mối và cướp đất cướp người!”
Không gian trong phòng bệnh như đông cứng lại. Ông Tam và ông Ba không phải là những kẻ thủ ác vì lòng tham vô độ. Họ là hậu duệ của những nạn nhân, những người mang trong mình dòng máu căm hờn không kém gì nữ tướng Loan Ngọc đang nằm dưới Gò Tử Sĩ.
Ông Ba thất thần nói tiếp: “Một số người trong đó đã tránh được cuộc thảm sát từ bọn bán nước cầu vinh đó, sinh tồn cùng với đám phản trắc, kéo dài thế hệ sau như chúng tôi. Chúng tôi đều có chung huyết hải thâm thù với những người trong thôn này. Lão Tam đã ấp ủ kế hoạch này cả đời người. Lão dùng đá đỏ khai thác từ chính nơi xương thịt của nghĩa quân để tạc tượng, ngày đêm cúng bái, nuôi dưỡng oán khí trong từng thớ đá của con ngựa ấy.”
“Vậy bà Mến... vợ ông Tam chết là vì...” Đạt ngập ngừng hỏi.
“Bà ấy phát hiện ra!” Ông Ba cắt ngang, giọng run rẩy, “Bà ấy biết lão định dùng con Xích Thố đó để tế sống cả thôn, nên định đập vỡ nó. Bà ấy không chung quan điểm với ông Tam. Ông Tam... lão đã điên rồi, chính tay lão đã giết bà ấy, cho dù bà ấy cũng là người mang cùng dòng máu thuần như chúng tôi!”
Đạt và Hùng cùng lúc thốt lên: “Cái gì?”
Ông Ba quá hoảng, lắc đầu điên cuồng, nói: “Ông Tam điên rồi! Nếu không ngăn cản ông ấy lại, cả thôn sẽ chết hết. Những hậu duệ của tổ tiên chúng tôi cũng sẽ chết, tôi cũng sẽ chết, ông ta cũng sẽ chết. Cả thôn này, tất cả đều sẽ chết!”
Bất chợt, ông Ba nắm chặt tay Đạt, móng tay cắm sâu vào da thịt anh rớm máu:
“Tôi hận cái thôn này, hận đám hậu duệ của những kẻ phản bội đang sống nhởn nhơ kia. Nhưng tôi sợ... tôi thực sự rất sợ! Khi cánh quân của bà Loan Ngọc tràn vào, oán hồn không có mắt, không chỉ kẻ có tội phải đền mạng, mà cả những người không biết gì cũng sẽ bị tàn sát. Vạn binh ma quỷ sẽ giày xéo nơi này...”
Ông Ba lại nói tiếp: “Hôm nay là 29 Tết. Năm nay không có 30. Giống hệt như cái năm mà đội quân của bà Loan Ngọc bị tàn sát. Chính là thời điểm này, đêm nay... giao thừa đêm nay... thôn Thạch Mã chắc chắn sẽ biến thành biển máu!”