Chương 05: Lời hẹn kẻ học trò bất trung
Cảnh báo
Truyện có yếu tố bạo lực, kinh dị, tâm linh. Mọi chi tiết trong truyện đều là giả tưởng, không cổ xúy mê tín dị đoan.
Truyện có yếu tố trinh thám kết hợp với kinh dị tâm linh. Vì vậy nhiều chỗ mình cài ẩn ý cũng như các bí ẩn sẽ được bỏ ngỏ.
Bên cạnh đó truyện sử dụng thủ pháp phi tuyến tính và đa góc nhìn, mỗi chương người đọc sẽ hóa thân vào một nhân vật khác và ở một mốc thời gian khác.
Để nghe bản Audio, các bạn có thể tìm đến kênh Youtube Vịt Sáng Tác, id: @Vitsangtac69
Cảm ơn mọi người
Chương 05: Lời hẹn kẻ học trò bất trung
Càn Phù Hữu Đạo tứ niên, Nhâm Ngọ tuế, thu cửu nguyệt, thập nhị nhật.
Kẻ học trò Sư Độ đề tờ thư này kính gửi Thiền Sư Tịnh Giác. Nơi đây con xin dập đầu tạ tội với người, con nay đã thành kẻ tội đồ bất trung bất nghĩa, nào dám mặt dày nấn ná làm liên lụy đến thầy. Nay con đành dứt áo ra đi, cốt tránh vì kẻ học trò nầy mà làm nhơ bẩn thanh danh bấy lâu của người. Lòng con vẫn hằng khắc ghi ơn thầy rèn giũa chỉ bảo, tiến cử con lên chốn kinh đô làm quan, cốt đặng rạng danh gia tộc họ Phạm đã trên bờ vực suy tàn. Chỉ tiếc, số con vô phúc, kiếp này đành phụ ơn người, kiếp sau nguyện vì người mà làm thân trâu ngựa. Bái biệt thầy, Thiền Sư Tịnh Giác đáng kính.”
*****
Góc nhìn Sư Độ năm 1042
Ta buông bút xuống, gấp gọn tờ thư vào trong ngăn kéo hộc tủ. Ngó quanh bốn bề, lòng ta quả thực chẳng nỡ chia xa chốn này. Kể từ ngày gia tộc họ Phạm lụi bại, ta được Thiền Sư Tịnh Giác cưu mang che chở. Dẫu sao ngoài ta ra, thầy cũng là một trong hai đấng nam nhi còn sót lại sau những họa biến dòng tộc. Người còn lại ấy là…
Lòng dạ nghĩ ngợi chưa xong, tiếng động bên ngoài khiến ta nín thở thu mình lại nơi gian nhà sau. Ấy là sư Tịnh Giác, thầy đương bước vào chốn này, xem chừng hẳn đang xởi lởi sửa sang gói buộc cho ta ngày kia lên đường mà đâu hay biết ngay giờ ta sắp biệt tăm biệt tích. Nhìn bóng lưng người đã tuổi xế chiều vẫn còn lam lũ vì kẻ học trò, ta nào kiềm được bèn rơi hoen đôi lệ. Dẫu vậy, trách nhiệm của ta với nàng Quỳnh Nương cũng chẳng phải thứ có thể rũ bỏ. Đợi ta nhé Quỳnh Nương, ta tới cùng nàng đây!
Mãi đến khi người ấy cất bước, ta mới rón rén tay xách hành trang lẻn bước ra ngoài. Men theo rặng tre tươi tốt mơn mởn, nỗi niềm lo lắng nơi dạ ta vẫn chằng phần nguôi ngoai. Nghĩ đến ngày sau mịt mù, đôi chân vô thức dấn bước dồn dập. Ta phải nhanh lên, trước khi cơ sự đi vào bế tắc. Qua đoạn ngoằn ngoèo dẫn vào vách núi, tiếng nước róc rách báo hiệu ta đã tới sát chốn nàng. Ta khom tay lại bên miệng, đoạn cất tiếng gọi lớn:
“Quỳnh Nương! Ta, Sư Độ đây!”
Thoát cái, tiếng thốt trong trẻo, lanh lảnh của nàng xuyên qua núi rừng vọng đến tai ta:
“Sư Độ chàng hỡi! Thiếp phía nẻo này!”
Theo thanh vang ấy, ta nhác ngó theo. Lấp ló sau rặng khóm cây lá dại um tùm, dung dạng nàng ta hiện ra thơ mộng thanh tú, ngũ quan ẩn sau tấm vải lụa đào. Dòm thấy nàng, nỗi niềm dồn nén trong ta thoát cái đứt phựt, đoạn liền sấn sổ vội tới ôm chầm lấy nàng. Nàng vẫn trân trân vùi đầu vào ngực ta, mặc kệ thế sự xoay vần mà cuốn lấy nhau. Dẫu cho nàng đang kín mít, ta vẫn thấu đặng, đây đích thị là Trần Quỳnh Nương, người con gái ta yêu hết mực.
Sau chập ấm nồng, nàng gỡ mình khỏi vòng tay ta, đoạn đượm vẻ rầu rĩ mà rằng:
“Chàng thật sự vì thiếp mà…”
Chưa kịp để nàng thốt trọn đôi câu, ta vội ngắt ngang buông lời quả quyết:
“Chớ nói điều ấy, Quỳnh Nương! Đứa con nơi bụng nàng là giọt máu mủ của ta. Há nào vì chút danh lợi mà rũ bỏ trách nhiệm.”
Người ấy im lặng chẳng đáp, lòng ta thấu rõ, nàng bấy giờ đương lo sợ lắm điều. Dòm Quỳnh Nương, ta liền dắt nàng ngồi xuống, nhẹ tay vuốt mái tóc nàng dỗ dành:
“Nàng đang sợ hãi điều chi? Lo quan Tri Phủ làm khó nhà nàng hay chăng?”
Quỳnh Nương cúi gằm, né tránh ánh nhìn nơi ta mà thủ thỉ:
“ Thiếp nào còn tưởng tới họ. Ngày trước cha thiếp mưu hại mụ Thầm, khiến mụ chịu án oan uổng. Cũng vì lẽ đó đến khi cơ sự sáng tỏ, cha thiếp liền bị cách chức Quản Giáp, cả nhà theo ấy sa cơ lỡ bước. Nay lại vì hám của tiền tài mà định gả thiếp đi cho quan Tri Phủ vốn đau ốm bệnh tật. Dẫu biết đạo làm con cha mẹ đặt đâu đành ngồi đó, song đứa trẻ hai ta…”
Ta lại ôm chầm lấy nàng an ủi:
“Xin nàng chớ hoài lo nghĩ. Có ta nơi đây, quyết khôn để nàng mang tiếng chửa hoang mà chịu phạt vạ. Đôi ta nhất định cùng dắt nhau đi lánh khỏi chốn này.”
Thoắt cái mình nàng run rẩy, tiếng nấc nghẹn ngào bật ra từ nơi cổ họng thanh tú:
“Thiếp nào có sợ gian khổ, song chàng thì tính làm sao, phải đối diện với Thiền Sư Tịnh Giác như nào? Hay thiếp đành lẳng lặng lánh đi, chàng ở lại đây theo lời tiến cử lên chốn kinh thành.”
Nàng vẫn thế, vẫn là Quỳnh Nương hằng nghĩ lo lắng cho ta đủ đường. Nói lắm chi bằng xắn tay vào làm, ta rút từ trong túi ra hai đoạn chỉ đỏ, nắm lấy tay nàng buộc vào một sợi. Sự việc bất ngờ khiến nàng ngơ ngác, song cũng để mặc ta dễ bề làm đặng. Hết thảy xong xuôi, ta cũng buộc sợi còn lại vào cổ tay ta, đoạn hớn hở mà rằng:
“Nàng trông này, đẹp chăng? Ta xin nơi vị thầy lang Nham nọ, ấy là chỉ đỏ se duyên. Ông ấy còn dặn ta phải để riêng sợi của nàng ra, bởi lẽ nó được cúng dường đặc biệt.”
Người ta thương thấy vậy đăm đăm ngắm nghía, bèn ngạc nhiên thốt rằng:
“Đẹp đẽ quá chừng! Vị ấy cũng hiểu về mấy điều này hay sao? Thiếp trước đây quả thực chưa từng được nghe.”
Ta dìu nàng dậy, dắt tay trìu mến kéo nàng dấn bước.
“Trăm nghe khôn bằng một thấy, đôi ta cùng đến chốn ở nơi thầy lang Nham. Tiện thể… cùng họ bàn tính đường lối lẩn trốn đêm nay.”
Quỳnh Nương khẽ mỉm cười đoạn lẳng lặng dấn theo. Cơ sự sắp tới, hẳn là bước ngoặt thay đổi mãi mãi cuộc đời hai ta.
Băng mình qua khắp rừng sâu núi thẳm, xô qua từng tán cây rậm rạp trùng trùng, bầu trời bấy giờ đã ngả sắc đỏ, toả ra những ánh chiều tà ảm đạm u uất. Càng ngó nhìn chúng, lòng dạ nơi ta lại càng bất an, bồn chồn khôn dứt. Cơ sự đã vậy, ta càng phải thêm phần cẩn trọng, vì nàng, vì người con của ta. Chẳng rõ đã qua mấy khắc, ta cùng nàng rốt cục cũng đến chốn nầy, nơi thầy lang Nham và đám gia quyến tụ họp. Xô tấm cửa gỗ mỏng, dung dạng bốn kẻ lần lượt hiện ra. Quỳnh nương hớn hở vào trước, mở nơi gói buộc lấy ra hai chiếc bánh ngọt mà rằng:
“Con Mắm, cái Thêu, sấn lại đây ăn bánh nào!”
Thoảng thấy mùi thơm, hai đứa đương ngồi liền đứng phắt dậy, đứa trẻ đi trước mang vóc dáng người mảnh khảnh, lanh lợi hoạt bát. Ấy là cái Thêu, mụn con gái của thầy lang Nham cùng người vợ quá cố. Thường ngày con bé hay cười lắm, chẳng rõ tại sao dạo này luôn dòm ta cùng Quỳnh Nương mà đượm vẻ rầu rĩ. Phải chăng chẳng nỡ để chúng ta đi xa? Lủi thủi bước theo sau là con Mắm, nó chỉ kém ta khoảng chừng đôi tuổi, lúc nào cũng luôn xoã tóc che đi ngũ quan. Âu cũng phải, từ thuở ấu thơ, con bé cùng với mẹ mình đã bị cha của Quỳnh Nương vu oan, khiến họ phải chịu hình phạt thích chữ nơi mặt. Vết xăm tội nọ theo năm tháng lớn dần, mỗi lúc một méo mó, quái gở.
Hai đứa trao nhau ánh mắt ngập ngừng, rốt cuộc tiến lại rón rén nhận lấy rồi cắn khẽ. Nhác thấy lũ chúng đương ăn bánh, Quỳnh Nương hiền từ nở nụ cười. Thực lòng ta hằng nể nàng mấy phần, bằng nết ăn nết ở lương thiện hiền lành, nàng xoá nhoà oán hận đời cha mà kết tình bằng hữu cùng những người này. Đương lúc ấy, mụ Thầm cùng thầy lang Nham nhẹ bước tới áp sát, kéo ta cùng nàng ngồi vào gian trong rồi chầm chậm khép cửa. Bấy giờ, Quỳnh Nương mới tháo bỏ lớp khăn che mặt, để lộ ra những vết lở loét đỏ hỏn. Thầy lang Nham vừa dòm đã tặc lưỡi đượm vẻ xót xa:
“Sao lại ra nông nỗi nầy! Ta dặn cháu bôi đôi chút thôi mà. Sư Độ, sao cháu khôn cản nàng lại?”
Thú thật, lòng ta đâu có ưng thuận. Thấy đoạn, Quỳnh Nương bèn vội thốt lời giải vây:
“Dạ thưa! Ấy là cháu tự quyết lấy, mặc cho chàng ra sức can ngăn. Cũng vì lẩn trốn, cháu thà làm cho dung dạng này tổn hại thật nặng, để ai dòm vào cũng thấu nơi mặt cháu đương lở loét buộc phải che kín.”
Thầy lang Nham trầm lặng lắc đầu đau xót. Con Mắm và cái Thêu ăn xong, đoạn cũng sấn sổ tụ họp. Mụ Thầm ôm lấy hai con bé, nhẹ lời ân cần:
“Theo như đã định, đêm nay ta sẽ trùm khăn che mặt, khiến ai cũng tưởng ta là cháu mà vào nhà Tri Phủ mà lấy tấm lệnh bài. Xong xuôi, con Mắm dẫn cháu đến chốn Sư Độ, cháu vạn nhất phải trăm bề cẩn thận.”
Quỳnh Nương run rẩy nắm lấy tay ta, song vẫn gượng vẻ bình tĩnh đáp lời:
“Làm lụy tới người, ơn này của người Quỳnh Nương hằng luôn khắc ghi trong dạ. Cũng phải tạ ơn cái Thêu, nhờ em làm kẻ ở đợ nơi quan Tri Phủ truyền tin ra cho ta thấu tỏ sự tình.”
Thầy lang Nham nghiêm nghị nhìn nàng, sắc mặt hệ trọng dặn dò:
“Đêm nay là dịp trăm năm có một mà ta dày công thu xếp để cháu thoát khỏi chốn đây. Lão quan là kẻ tin chuyện bói toán phong thủy, lấy thêm vợ lẽ hợp tuổi cốt cầu mong cho mau khỏi bệnh tật. Bởi lẽ, lão kỵ nhất thiếp thất nhăn nhó trong ngày vui làm động đến khí vận. Ta đã thủ thỉ bên tai lão quan tri phủ, rằng hãy để cho cháu tự mình sửa sang buồng phòng trước khi rước dâu, ắt nàng sẽ vui lòng.”
Con Mắm bên cạnh cũng thốt tiếng an ủi:
“Chị hãy định tâm, em cùng mẹ từng làm nô nơi vách núi, cũng hay nghe lời thầy lang Nham mà lên núi hái thuốc. Em sẽ dắt chị đến chốn anh Sư Độ đặng êm thấm an toàn.”
Mặc cho lũ người trò chuyện rôm rả, ta vẫn lặng yên như tờ, tâm trí lần nữa ngẫm lại toàn bộ cơ sự cho thêm phần tỏ tường. Nhớ lại ngày nọ, thầy lang Nham xem mạch biết đặng Quỳnh Nương mang thai, hết thảy ai nấy trong lũ chúng ta hết mực thất kinh. Quãng thời gian ấy, Quỳnh Nương đã được hứa hôn cho quan tri phủ làm vợ lẽ, còn ta sắp được tiến cử lên chốn kinh đô làm quan. Nhược bằng cơ sự bại lộ, ta và nàng đều ắt sẽ mắc tội gian dâm. Không chỉ mình ta và nàng cùng nhau chịu tội, người tiến cử ta là thầy Tịnh Giác cũng sẽ bị vạ lây. Lúc nầy trong ta chỉ còn một niềm: dắt nàng bỏ đi xa xứ lánh nạn. Ngặt nỗi trèo đèo vượt núi thì thân thể nàng đương mang thai chẳng thể cam chịu, chỉ còn một cách đi theo đường mòn rồi dẫn lên núi. Ta vốn dùi mài kinh sách trên chùa nên ra vào nơi đây thật là dễ bề. Song nàng thì khác, nàng đã hứa hôn với quan Tri Phủ thiên hạ ai ai cũng thấu, làm sao có thể xuất cảnh dễ dàng cho đặng. Chỉ còn duy nhất đường lối trộm lệnh bài nơi quan Tri Phủ để thuận lợi qua mặt binh lính canh cổng. Kể từ hôm đó, ta, nàng, thầy lang Nham, con Mắm, cái Thêu, mụ Thầm cùng nhau lập mưu lấy trộm lệnh bài. Rốt cục thời cơ đã điểm, ta dấn bước lên núi từ trước cốt tránh đi cùng nàng làm binh lính nẩy lòng nghi hoặc, con Mắm theo sau lấy cớ theo hầu rồi dẫn lối cho nàng đường tìm đến ta. Dẫu nghe vẻ vẹn toàn, song liệu lão quan có phát hiện ra mụ Thầm đóng giả thành nàng hay chăng? Nàng có thật sự xuất cảnh an toàn hay không? Nghĩ đến điều này, lòng dạ ta cồn cào thấp thỏm khôn nguôi.
Đương lúc lòng dạ miên man, đôi mắt ta vô thức trông sang Quỳnh Nương. Nàng đương nắm tay con Mắm con Thêu, nhìn sang mụ Thầm đượm vẻ chân thành mà tạ tội:
“Cháu thực lòng hối hận về tội lỗi cha mình với người. Song người vẫn đối đãi cháu như bạn hữu mà dốc lòng giúp đỡ, ơn nghĩa này biết đến bao giờ đền đáp cho đặng.”
Mụ Thầm khẽ mỉm cười, vết thích tội nơi mặt nhăn lại theo từng cử chỉ tựa như nhắc nhở mối hận năm xưa. Mụ vuốt mái tóc xơ xác, nhìn về chốn xa xăm cất giọng:
“Nào phải khách sáo như vậy, cháu đâu phải kẻ tàn hại đời ta. Giúp cháu cũng là giúp ta, chỉ cần cháu lánh đi biệt tăm biệt tích, lão quan tri phủ ắt hẳn giáng tội lên đầu cha cháu. Được vậy lòng ta cũng phần nào nguôi ngoai.”
Quỳnh Nương cúi gằm trầm buồn, đoạn nơm nớp lo sợ thốt lời:
“Dẫu vậy cháu vẫn hết mực lo lắng cho người, sao người khôn đành để cho cháu tự mình trộm lấy.”
Nghe đoạn, thầy lang Nham sấn sổ lại gần, phân trần thay mụ:
“Để cháu tự vào mò mẫm thì biết đến bao giờ. Mụ đã theo ta mang thuốc vào nhà quan Tri Phủ chẳng biết bao lần, lũ ta nắm rõ nẻo ra lối vào nơi ấy. Cháu chỉ cần đợi tin lành từ ta mà thôi. Dẫu sao ta cũng mang họ Phạm, việc giúp cháu mình là lẽ thường tình.”
Phải, ta, thầy lang Nham cùng Thiền sư Tịnh giác là ba nam nhân sót lại sau biến họa tộc họ Phạm. Ngay từ thuở còn nhỏ, ta đã đặng hai người họ rèn giũa nuôi nấng, cũng vì lẽ ấy mà quen biết mụ Thầm, con Mắm, cái Thêu. Chính vị này đã cưu mang lũ họ, và bấy giờ là cưu mang ta. Chẳng nói chẳng rằng, ta dấn bước tới người, đoạn quỳ xuống dập đầu cảm tạ.
“Con thực lòng chẳng biết lấy chi báo đáp, xin người hãy nhận của con một lạy. Khi con cùng nàng biệt tăm biệt tích, xin người gửi lời bái biệt của con đến sư Tịnh Giác. Con làm lụy đến lòng trông mong của hai người mất rồi.”
Thầy lang Nham đỡ ta dậy, thủ thỉ dặn dò với ta những lời sau cùng:
“Chuyện đó nào còn nghĩa lý chi, hãy giữ toàn vẹn thân mình cùng con cháu họ Phạm. Cứ nhắm về hướng Tây Nam mà đi, cố sức tìm kiếm khe núi ở chốn rừng thiêng nước độc. Đó chính là nơi gia tộc họ Phạm xưa kia lẩn trốn khỏi quân triều đình. Cay đắng làm sao, năm xưa nam nhân họ Phạm lánh mình xong đặng ân xá, vốn tưởng sẽ chẳng bao giờ quay lại chốn ấy. Vậy mà…”
Nào kìm được nỗi lòng, Quỳnh Nương ôm chầm lấy ta bật khóc nghẹn ngào:
“Cũng vì tại thiếp…”
Ta chặn lấy môi nàng, lắc đầu nguầy nguậy.
“Nào phải do nàng, là lỗi của ta, chớ tự trách mình, ta sẽ xót lắm!”
Âu yếm đôi lúc, con Mắm hé cửa thốt lớn:
“Trời sắp sẩm tối rồi, lũ ta phải mau lên thôi!”
Ta nhác ngó một lượt, lòng dạ dẫu còn quyến luyến đôi chập xong cũng đâm mình chạy thẳng ra sân. Nấn ná bịn rịn thêm chút chỉ càng sinh hiểm nguy, lòng ta phải định vào đường lối mình đã chọn. Cứ thế dung dạng nàng khuất dần, chỉ còn thân ta bơ vơ lạc lõng. Ngửa mặt lên cao, mây mù bữa nay che kín ánh trăng, chỉ còn sắc trời đã ngả màu sầm tối. Tiếng dã thú nơi rừng sâu từ đâu tru lên ai oán tựa hồ điệu hát rùng rợn. Ta gượng giữ vững thâm tâm, không để lũ chúng làm mình hoảng hốt, dấn bước lao qua tán khóm cây xuống dưới đường làng. Đến khi nghe thấy tiếng dân chúng xì xào to nhỏ, ta chỉnh trang y phục, gượng vẻ tự nhiên sải bước đôi vòng chào hỏi, đoạn chầm chậm tiến lại gần toán binh lính canh cổng, may sao nơi đây cũng sát cửa ải để ra khỏi vùng. Ta mở nơi gói buộc lấy ra tờ giấy lộ dẫn mà thẳng lưng sải bước tới, tiện tay thủ sẵn dăm ba lượng bạc cốt để mọi sự hanh thông trôi chảy. Chợt!
“Kẻ học trò Sư Độ, trời đã sẩm tối. Có cơ sự chi gấp gáp mà phải rời khỏi chốn nầy. Sao khôn ở lại tá túc đêm nay?”
Thanh âm lạnh lẽo uy nghiêm của kẻ nào đó vang lên sau lưng khiến ta giật mình nơm nớp, vội ngoảnh lại ngó. Ấy là… lão quan Tri Phủ. Ta chết lặng trân trối, đương mắt mở to nhìn lão, tới khi lũ binh lính bái lạy ta mới giật mình làm theo, đầu cúi gục lảng tránh. Lão Tri Phủ tiếp tục cất giọng:
“Nghe danh đã lâu, có tin đồn rằng nhà ngươi thông tuệ xuất chúng, đặng Thiền sư Tịnh Giác hết mực đề cử. Mai sau làm quan, liệu có ngó ngàng ta chăng?”
Ta nghe lồng ngực đương đập dồn dập, biết tính làm sao đây? Song, ta nén hơi thở, dâng hai tay đưa giấy lộ dẫn trước mặt quan lớn, kính cẩn thưa rằng:
“Bẩm quan, con đặng Thiền sư Tịnh Giác cử xuống nơi đây học hỏi cùng mua thuốc thang dùng cho nhà chùa ạ. Xin quan ngó cho qua đặng!”
Tri Phủ đón lấy xấp giấy, liếc mắt hờ hững rồi đặt trả lại tay ta, giọng nói đều đều tâm tình khó đoán, khôn rõ đường nào mà lần:
“Cũng tiện! Chốn nầy nằm gần với chốn ngươi đương dùi kinh mài sách, ắt hẳn cũng khôn ít bận qua lại. Chẳng hay ngươi đã có dịp gặp vợ ta chưa? Sớm mai ta sẽ rước nàng về phủ, danh xưng của nàng là Trần Quỳnh Nương. Nhà ngươi muốn tới chung vui với ta chăng?”
Khôn thể nén nổi, ta ngẩng phắt đầu lên, trong tâm thêm phần thất kinh sợ hãi hoảng loạn. Lão có ý gì, phát hiện điều chi rồi sao? Miệng ta run run, sau cùng ấp ủng nịnh bợ:
“Bẩm… bẩm quan, con nào có phúc đặng giáp mặt nàng. Bất kể đã từng hay chưa, giờ nàng đã có thân phận mới, đặng hưởng khí vận nơi quan. Nếu có dịp, con nhất định sẽ qua xin chút may mắn từ quan ạ.”
Thoắt cái, lão bật cười ha hả, tựa hồ có điều tâm đắc:
“Quả là kẻ học trò tài hoa, ăn nói đủ sức thu phục lòng người. Mà coi kìa, lén lút thậm thò, e kẻ nào nhác lại tưởng ngươi có tư tình cùng vợ của ta.”
Thốt đoạn, hắn hất tay với đám lính canh ra lệnh:
“Đã muộn rồi! Cho kẻ học trò nầy qua cửa ải, kẻo chậm trễ mang dược liệu lên chùa. Ta còn về phủ chờ nàng tự tới trang trí buồng phòng.”
Dứt lời, hắn ngoảnh mặt bước đi thẳng, bỏ lại ta vã mồ hôi tuôn chảy không ngớt, ngã bệt xuống nền đất ẩm. Cho đến khi cánh cổng được đám binh lính kéo ra, ta ôm lấy tay nải mà băng thẳng ra ngoài.
Tới chốn hẹn hò, ta ngồi bệt xuống, ngóng mong đếm từng khắc một chờ nàng bước đến, nơi tâm trí bắt đầu bàn tính đến chuyện mai sau. Qua được cửa ải này cũng mới chỉ bước đầu, liệu ta có tìm được khe núi mà thầy lang Nham nói chăng? Quỳnh Nương nàng ấy liệu có đủ sức vóc mà đi sâu vào chốn rừng thiêng nước độc hay chăng? Thêm cả cơm ăn nước uống, muôn nẻo phía trước đều là khổ nhọc trăm bề. Dẫu vậy, ta chưa từng tiếc nuối vì đã thương nàng, liệu… nàng có hối tiếc chăng? Lòng dạ cồn cào bồn chồn khôn nguôi, ta lại đứng dậy sải bước dạo qua dạo lại, hết bứt ngọn cỏ này đến khóm cây khác. Nàng bảo thích ngắm ta cười, được rồi, ta đến trước suối tập cười cho nàng ngó trông thỏa thích. Chỉ cầu mọi chuyện hanh xuôi trôi chảy, ta nguyện làm điểm tựa vững trãi cho nàng và con của ta.
Chờ hoài, chờ mãi, nơi dạ lại càng như thiêu lửa. Đã quá kỳ hẹn chừng nửa canh giờ, nàng ấy cùng lũ bạn hữu liệu có ổn hay chăng? Nghĩ đoạn, ta chốc chốc ngó đầu ra xem, làm bạn với ta bấy giờ chỉ có tiếng lá cây xào xạc cùng tiếng chim hót ríu rít. Ta muốn xuống đón nàng song lại e dịch chuyển mà lạc mất nhau. Ngẩn ngơ đôi khắc, thoắt từ chốn xa xa có bóng dáng ai kia hớt hải chạy tới khiến ta mừng rỡ khôn xiết. Song… sao lại chỉ có một người, vóc dáng ấy cũng nào phải Quỳnh Nương. Linh cảm chẳng lành, ta không nghĩ ngợi chi bèn chạy lại, kẻ ấy là con Mắm, nó đương vội vã gấp gáp áp sát, tay lăm lăm cầm vật chi đó. Cuống cuồng, ta tức khắc gặng hỏi:
“Nàng đâu rồi? Chẳng có nhẽ cơ sự thất bại. Nói cho ta biết! Mau!”
Con Mắm thở ra hổn hển, lắc đầu quây quẩy:
“Mẹ em đã đoạt đặng tấm lệnh bài, chị Quỳnh Nương cũng đã êm thấm qua mặt lính canh. Song…”
Nhận được câu trả lời lấp lửng, ta càng thêm mất kiểm soát, đoạn rít lên:
“Sao? Nhược bằng mọi thứ đã thuận lợi trôi chảy thì nàng đâu rồi? Hả?”
Kẻ đối diện rơm rớm hoen lệ, nghẹn ngào thốt ra đôi câu:
“Em cùng chị vừa ra khỏi chốn ấy, chị liền đẩy em ra xa rồi tự mình lao biến vào trong màn đêm, em chẳng còn thấy tăm hơi chị đâu mất rồi.”
*****
Chú thích
Càn Phù Hữu Đạo tứ niên, Nhâm Ngọ tuế, thu cửu nguyệt, thập nhị nhật.: Năm Càn Phù Hữu Đạo thứ tư (tức năm 1042), năm Nhâm Ngọ, mùa thu tháng 9, ngày 12.
Tiến cử: Năm 1075 Đại Việt mới tổ chức khoa thi tuyển chọn người tài. Trước thời điểm đó, tiến cử là một trong những hình thức tuyển chọn người tài phổ biến.
Phạt liên đới: Nếu đi đề cử phải chịu trách nhiệm với người được tiến cử. Trong truyện, Sư Độ phải bỏ đi sớm trước khi chính thức tiến cử làm quan để thầy của mình không bị vạ lây.