Chiếc lá phong đỏ
Sáng hôm sau, chúng tôi lần theo địa chỉ đã cho để đến địa điểm họp. Con đường bê tông uốn lượn đi lên như vết sẹo vắt ngang sườn đồi. Chiếc taxi đi ngang một khu dân cư không xa, chừng ba trăm mét thì động cơ xe im hẳn.
- Chúng ta đến nơi rồi thưa quý khách. Ở đây xe không thể vào trong được. Quý khách cảm phiền đi bộ vào trong ạ
Người tài xế quay đầu lại, chỉ tay về phía một lối đi hẹp dẫn vào khu rừng bên trong. Một tấm ván màu nâu sẫm, chữ bằng sơn trắng tựa vào thân cây tuyết tùng: Đường riêng - chỉ giao hàng đi bộ. Kei cười bằng một âm thanh nhỏ nhắn và trong trẻo.
- Thú vị thật đấy Senpai. Lần đầu đi công tác và cũng là lần đầu em gặp trường hợp đặc biệt như này.
Kei vừa nói vừa mở cửa bước ra ngoài. Tôi cũng ra theo sau đó, chiếc cặp táp đập vào đầu gối.
- Anh cũng giống em. Ban đầu thấy lạ, nhưng ông ấy bảo nơi này mới là chỗ ông có thể đưa ra quyết định.
Kei chỉnh lại cổ áo, liếc nhìn con đường nhỏ trước mặt.
- Hoàn hảo. Em nghĩ địa chỉ của một nghệ nhân nên có mùi của nhựa cây, chứ không phải mùi mực in, với sảnh chờ lát kính và thang máy kêu ting ting. Những thứ đó em đối diện hằng ngày đến phát chán rồi.
Tôi nhắm mắt hít sâu, đón lấy bầu không khí mát lạnh như nước sông.
- Dễ chịu thật nhỉ?
Kei quan sát tôi mỉm cười nhẹ, rồi ngước nhìn những cành cây rực lên ánh vàng trầm mặc của mùa thu.
- Ở đây có mùi giống như cuốn tập mới phải không, Senpai?
Chúng tôi bắt đầu tiến vào. Dưới chân là tiếng "tộc tộc" khô khan của những viên đá sỏi không quá hạt dưa lăn trượt dưới đế giày. Đi thêm mười bước, sỏi nhường chỗ cho tấm thảm bằng lá phong nâu đỏ, xen kẽ vài mầm cỏ xanh mới nhú. Càng vào sâu, không khí càng nồng mùi nhựa thơm của tuyết tùng và bách cổ thụ, mùi gỗ mục lẫn trong rêu ẩm.
Trên con đường mòn nhẵn mịn vừa vặn hai người đi, rễ cây tràn ra như những đường gân nổi trên mu bàn tay. Một trong số chúng bám rêu trơn trượt, vướng vào mũi giày. Tôi lảo đảo, tay chới với lung tung trên không để giữ thăng bằng. Bàn tay Kei kịp thời giữ vai tôi và để yên ở vị trí đó cho đến khi trọng tâm của tôi ổn định trở lại.
- Món salad khoai tây thịt jambon làm anh nhớ nhung đến vậy hả? Lúc sáng nay, em thấy anh rất thích thú với nó.
- Chỉ là... anh cảm thấy có gì đó không được tốt. Thôi... chắc anh lại nghĩ nhiều rồi.
Tôi lắc đầu nhẹ, bỏ qua câu nói đùa vừa rồi, vai lại chạm vai bước tiếp. Sâu hơn một chút, tán cây đứt đoạn ở một khúc cua, cho phép nắng rơi xuống, chiếu sáng màn trình diễn của những hạt bụi đang nhảy múa giữa tán phong đỏ rực. Rồi một chiếc lá chao lượn trước mặt tôi, Kei nhanh chân bước lên một bước, tay vươn ra bắt lấy nó.
- Màu đỏ. Coi bộ là điềm lành.
Nói xong, Kei liền áp chiếc lá vào giữa hai lòng bàn tay, nhắm mắt chắp tay lẩm nhẩm. Bên cạnh, tôi nghệch mặt ra nhìn.
- Xong rồi, anh giữ nó đi. Em mới truyền hết may mắn của mình sang nó rồi đấy.
Tôi bặm môi, cuối cùng không nhịn được mà bật cười.
- Ồ, bùa "made in Kei" à? Chắc vô giá lắm.
Kei tặc lưỡi, ra vẻ tiếc rẻ lúc lật qua lật lại ngắm chiếc lá đỏ ấy trên tay mình. Hành vi ban đầu có chút bông đùa, nhưng sau đó kết thúc bằng một sự kiên định ở đuôi mắt.
- Trên đời có một cái thôi. Vậy mà vẫn kém con chim làm từ lá ngân hạnh của anh.
Chiếc lá lần trước, tôi đã dùng nó để trao đổi hộp nước ép. Kei đã nói nó vô giá, và giờ cũng lặp lại như vậy đối với tôi. Đầu tôi nghiêng sang một góc, Kei cũng tinh nghịch nghiêng theo. Tôi nói như rít qua kẽ răng:
- Là chuyện đó sao? Em có vẻ quyết hơn thua với anh nhỉ?
Kei đưa chiếc lá về trước, khoé môi biến chuyển thành một đường cong khó đoán.
- Không đâu, em sẽ nhận phần thua, phần hơn anh hãy giữ lấy.
Một cơn gió thoảng qua trên đầu. Cây phong đáp lại bằng tiếng xào xạc như lật từng trang giấy. Trong khoảnh khắc đó, mắt chúng tôi chạm nhau trong một nhịp tim, đủ lâu để chiếc lá kế rơi xuống chạm đất, đủ ngắn để hàng mi cong không cần phải cử động lấy một lần. Cơn gió đi qua cũng là lúc tôi nhẹ nhàng nhận chiếc lá từ Kei, tạm thời cất vào trong túi áo. Chúng tôi lại bước tiếp mà không nói thêm lời nào cho đến khi tôi bắt đầu ngửi được một mùi khác lạ, phảng phất cùng mùi tuyết tùng.
- Chúng ta đến nơi rồi, Senpai.
Kei ngoảnh lại, đưa tay chỉ về phía trước. Tại một khúc quanh, ẩn sau thân tuyết tùng, bóng dáng ngôi nhà cổ với mái ngói và khung gỗ tối màu thấp thoáng sau những nhành thông xanh quyện cùng cành phong đỏ. Những bước chân cuối cùng đưa chúng tôi đến gần hơn một công trình bằng gỗ và đá ấy. Nó hiện ra trọn vẹn, nằm giữa một khoảng đất trống yên ắng, bao quanh bởi những hàng cây, nơi cơn gió cũng dịu đi.
Chiếc cổng làm bằng gỗ, phần chân cột đã phai màu. Bên trên có mái che lợp ngói, cùng những nhánh tùng la hán nghiêng nghiêng rủ bóng. Ngay bên phải là một tấm biển gỗ thông "Mori Takumi" được viết bằng hán tự nét đậm. Tôi bước đến trước cánh cửa gỗ thô ráp, cầm lấy dây chuông đang treo góc trái lắc nhẹ. Tiếng leng keng ngân vang và trong trẻo từ chiếc chuông cỡ nắm tay người, khiến tiếng chim thánh thót quanh đây bỗng im bặt.
Chưa đến mười giây, tiếng "ken két" mở cửa đã phá vỡ im lặng. Một người phụ nữ từ bên trong bước ra, dường như đã chờ đợi sẵn. Cô ấy khoảng hơn ba mươi, mái tóc ngắn màu nâu được cắt ngang vai, uốn nhẹ ở đuôi tóc. Gọng kính kim loại bắt sáng khi cô khẽ cúi đầu.
- Hai vị đến cho buổi họp phải không ạ?
Giọng cô ấy nhẹ nhàng nhưng vẫn vang rõ trong buổi sáng tĩnh lặng.
- Vâng, tôi là Kenta đến từ Shinwa Group. Đây là đồng nghiệp của tôi. Chúng tôi có cuộc hẹn với ông Takumi.
Tôi và Kei cúi chào đáp lại.
- Tôi là Hikari. Xin mời hai vị đi lối này.
Cô ấy dẫn chúng tôi đi vòng sang phía bên phải, băng qua một khu vườn. Những phiến đá to nhỏ xếp thành một lối đi quanh co giữa thảm cỏ xanh rì và dưới những tán cây rợp bóng. Hàng đỗ quyên thì đang tắm mình trong nắng ấm buổi sáng. Còn hai cột đèn đá đằng kia thì bơ vơ đứng trong vùng sỏi trắng.
Xưởng gốm nhỏ nằm tách biệt với gian nhà chính. Bức tường gỗ phía ngoài đã sẫm màu hơn bởi thời gian. Ngay cạnh là gốc hồng già cỗi, trái chín đỏ trên các cành cây khẳng khiu lác đác lá xanh. Từ bên ngoài, tôi đã ngửi thấy mùi lò nung - mùi của đất và khói - phả ra thật nồng.
Bên trong, một người đàn ông lớn tuổi trông đáng kính đang chăm chú với chiếc bàn xoay. Ông Takumi mặc áo sơ mi tối màu, tay áo được xắn lên để lộ vài vết đất bùn lấm lem. Chiếc tạp dề từng có màu lam giờ đã chuyển màu thành xanh nhạt hơn, với vài chỗ ngả bạc. Đôi tay tài nghệ đang nắn một khối đất vô định hình. Chỉ một lát sau, chúng dần dần biến đổi dưới những ngón tay khéo léo của ông. Tôi nín thở dõi theo từng giây khi một chiếc bình nhỏ dần được thành hình. Cuối cùng, khi đã hoàn thành, chiếc bàn quay chậm dần rồi ngừng hẳn.
Nhận ra sự có mặt của chúng tôi, ông vội lau tay qua chiếc khăn đã cũ đang vắt trên bàn, rồi gật đầu chào.
- Xin lỗi, khi bầu bạn với đất sét, nó luôn cuốn tâm trí ta theo những vòng xoay, quên hết cả thời gian và không gian xung quanh. Để các cậu phải chờ lâu rồi.
Chúng tôi vội cúi chào đáp lễ.
- Không sao đâu, thưa ông. Chúng tôi cũng chỉ vừa mới đến và thật may mắn khi được chứng kiến một quá trình tuyệt vời.
Sau vài lời chào hỏi xã giao, tôi đưa danh thiếp. Ông ấy cởi tạp dề, bảo cô Hikari đi pha một bình trà nóng, rồi quay sang chúng tôi.
- Mời hai cậu vào phòng bên, chúng ta nói chuyện cho thoải mái.
Chúng tôi cùng ông Takumi đi dọc hành lang gỗ để đến căn phòng nhỏ và yên tĩnh hơn. Cánh cửa shoji trượt sang bên. Giây sau, mùi gỗ thoảng tới, gạt đi mùi đất nung còn vương trên vạt áo. Những tấm chiếu tatami thô nhám, ngả màu cát vàng lót sàn bên dưới, nâng đỡ đôi bàn chân sột soạt bước lên trong sự đàn hồi đặc biệt - không trơn cứng cũng chẳng lún mềm.
Giữa phòng là một chiếc bàn thấp hình chữ nhật phủ sơn đen bóng, xung quanh kê vài chiếc đệm nâu tròn. Chiếc đèn trong khung tre hình cầu bọc giấy trắng lửng lơ trên đầu, như một vầng trăng thu nhỏ.
Ánh mắt tôi dừng lại ở chiếc tủ đã qua sử dụng nhiều ngăn kéo ở góc trái. Trông giống kiểu tủ thuốc tiệm đông y với vô số ngăn nhỏ. Trên nóc đặt vài chiếc bình và bát gốm mộc mạc, không điểm xuyết. Tôi thoáng nghĩ chắc là dụng ý hoặc phong cách của ông Takumi, rồi mau cất thắc mắc ấy đi. Phía trên là chiếc kệ treo tường chia thành nhiều ô nhỏ, trưng bày những chiếc bình, ly và chén kích thước bé, trông như một góc trưng bày thu nhỏ.
- Mời các cậu ngồi.
Ông Takumi hơi cúi người, bàn tay mở ra hướng về phía chiếc bàn.
- Vâng, chúng tôi xin phép ạ.
Chúng tôi cúi đầu cảm ơn, rồi lần lượt quỳ xuống đệm, điều chỉnh lại tư thế cho ngay ngắn. Mọi cử chỉ của tôi đều chậm lại, như thể bất kỳ động tác mạnh nào cũng sẽ làm vỡ đi "cái tĩnh" ở chốn đây. Ông Takumi vẫn giữ nguyên dáng đứng hơi cúi đó, chờ đến khi chúng tôi ổn định chỗ ngồi rồi mới chậm rãi ngồi xuống đối diện.
Cô
Chúng tôi vừa ổn định chỗ thì cũng là lúc cô Hikari đẩy cửa bước vào, trên tay bưng một chiếc khay gỗ sơn mài đặt ấm trà và vài chiếc tách màu nâu xám. Dáng vẻ của chúng khiến ai cũng có thể nhận ra, đây được làm hoàn toàn bằng phương pháp thủ công. Cô ấy nhẹ nhàng quỳ xuống, cẩn trọng rót trà nóng cho từng người, rồi lặng lẽ ngồi xuống bên cạnh ông Takumi.
- Mời hai cậu dùng trà.
Cô Hikari mỉm cười hiền hòa, đưa tay về phía trước.
- Vâng, cảm ơn cô Hikari.
Tôi và Kei khẽ cúi đầu, đồng thanh đáp. Sau một ngụm trà, chúng tôi bắt đầu bàn đến công việc chính. Mọi chuyện ban đầu diễn ra suôn sẻ, cho đến khi ông Takumi bỗng nhíu mày, trầm ngâm.
- Ta hiểu những gì cậu nói. Chiến lược này quả thật sẽ giúp ích rất nhiều ở thị trường trong nước.
Ông ấy dừng lại đôi chút, lật qua lật lại những tài liệu tôi để trên bàn một lần nữa. Nét mặt không mấy mặn mà, rồi chậm rãi nói tiếp.
- Nhưng giả sử... ta muốn phát triển thêm một dòng sản phẩm hoàn toàn mới, thủ công và độc bản thì sao? Nếu ta đưa những món đồ này ra thị trường nước ngoài, cậu có chắc họ sẽ mua một sản phẩm trông sần sùi, đơn giản. Thay vì một chiếc khác hoàn hảo về kỹ thuật, màu sắc bắt mắt và giá rẻ hơn chục lần?
Ông nâng chén trà mà mình đang uống lên. Đó là một chén trà với bề mặt thô ráp tựa như giấy nhám, lớp men lại có vẻ bị mài mòn. Nó mang một vẻ ngoài thô sơ và kém bắt mắt, giống một món đồ vừa được đào lên từ lòng đất sau hàng thế kỷ.
- Chẳng hạn như... thứ này.
Tôi chết lặng. Trước đó, không có gì trong hồ sơ khách hàng gợi đến điều này. Tôi đã chuẩn bị kỹ lưỡng mọi thứ: từ biểu đồ phân tích giá cả cho dòng sản phẩm tiêu dùng hiện tại, cho đến kế hoạch tối ưu hóa chuỗi cung ứng, nghiên cứu cặn kẽ về các sản phẩm mà công ty ông đang hướng đến số đông. Đúng với những gì được giao, nhưng chưa hề lường trước cái viễn cảnh, ông ấy muốn phát triển thêm một dòng khác, không có trong kế hoạch ban đầu. Một thứ mà biểu đồ và số liệu của tôi chưa đáp ứng được. Trong nháy mắt, nó biến tất cả sự chuẩn bị của tôi trở nên vô nghĩa. Tôi thấy ông ấy không phải chỉ hỏi cho có, mà là ý định thật sự.
- Về vấn đề này... thì.
Tôi ấp úng, không nói nên lời trước sự bất ngờ quá lớn này. Ánh mắt của ông Takumi xoáy sâu nhìn thẳng, càng khiến tôi rối loạn trong mớ suy nghĩ. Áp lực đè nặng lên sau gáy. Tôi ước rằng thời gian có thể nán lại với mình đủ lâu một chút, nhưng nó vẫn trôi theo từng nhịp mà không có ý đợi chờ. Kei - người vẫn luôn im lặng từ khi chúng tôi bắt đầu đến đây - bất ngờ tiếp lời. Em ấy không hề có chút lo lắng nào, hoàn toàn tự tin khi lên tiếng:
- Thưa ông Takumi, nếu ông không phiền, tôi xin phép chia sẻ đôi điều về vấn đề này?
Ông ấy vẫn không biểu lộ cảm xúc nào trên gương mặt, chỉ thay lời đồng ý bằng một cái gật đầu nhẹ.
- Vậy, xin phép ông, tôi muốn mượn chiếc bát ở trên kệ một chút ạ.
- Cậu cứ tự nhiên.
Kei đứng dậy, cầm lấy một chiếc chén nâu thô mộc với vẻ ngoài xù xì, gồ ghề như thể sản phẩm của một người tay mơ.
- Cái này.
Kei vừa nói vừa xoay chiếc bát chậm rãi trong tay, quan sát bề mặt không bằng phẳng của nó.
- Vết lõm nhẹ trên mép bát, còn phía này thì lại dày hơn hẳn. Nó không phải là một chiếc bị lỗi. Đó là minh chứng sống cho thấy nó được nhào nặn bởi bàn tay con người. Không máy móc. Không khuôn ép. Hoàn toàn là thủ công.
Em ấy dừng lại, chỉ tay vào một điểm trên chiếc bát
- Đường vân như vết nứt li ti chỗ này cho thấy có thể nó được để trong lò nung lâu hơn một chút so với ý định.
Biểu hiện trên mặt ông Takumi thay đổi, khó lòng biết được là bất ngờ hay thích thú, chỉ thấy khoé mắt ông nheo lại. Kei tiếp tục, mạch lạc trong từng câu nói.
- Tôi tin rằng, khi mà xã hội ngày nay càng trở nên hiện đại hóa. Người ta lại càng khát khao thứ mộc mạc và chân thật hơn. Những món đồ hoàn hảo với một hình dạng, một màu sắc, một nét trang trí họ có thể tìm thấy chúng ở khắp mọi nơi. Chúng... quá nhàm chán.
Kei dừng lại một chút, nhìn sâu vào chiếc bát.
- Tôi nghĩ rằng thứ mà họ muốn là cái nét riêng, nét độc đáo trong những sản phẩm mà họ sở hữu. Và chính những điều tưởng chừng như khiếm khuyết lại là thứ dấu ấn riêng biệt. Nó thực sự là một chữ kí mà nghệ nhân tạo ra, phức tạp và... khó lòng làm giả được.
Tôi lặng lẽ quan sát ông Takumi. Sự hoài nghi trên gương mặt ông đã được thay thế bằng sự tập trung cao độ. Ông ấy đan hai bàn tay vào nhau, tựa cằm lên đó, khoé môi vừa cong lên rất khẽ. Kei đặt chiếc bát xuống giữa bàn, vẫn giữ ánh nhìn tự tin vào ông Takumi. Phút chốc, căn phòng chìm vào yên lặng. Chiếc bút trên tay cô Hikari cũng ngừng rột roạt trên giấy. Tôi tưởng như có thể nghe được tiếng lửa lách tách bên trong chiếc lò nung vọng vào.
- Chúng ta sẽ không cạnh tranh về giá cả. Chúng ta kinh doanh sự khác biệt, bán câu chuyện và cái hồn ẩn sau những món đồ gốm mà người làm ra nó muốn truyền tải.
Ông Takumi hơi nghiêng người về phía trước như muốn nghe rõ những lời xác nhận cuối cùng. Đôi mắt sắc sảo quét trên gương mặt điềm tĩnh của Kei một lần nữa, đường cong khoé môi rõ ràng hơn trước. Trên bàn, chén trà của ông đã chẳng còn hơi khói.
- Và... người ta thực sự sẽ trả tiền cho thứ này sao?
- Thú thực... không hẳn tất cả mọi người sẽ đều như thế.
Kei lắc đầu nhẹ, thẳng thắn thừa nhận, không tránh né.
- Nhưng tôi nghĩ... chỉ cần một số ít là đủ. Những món đồ gốm ở đây hoàn toàn xứng đáng với một nhóm khách hàng đặc biệt. Những người thật sự yêu cái đẹp chân phương của gồm, và giá trị văn hóa mà nó đại diện. Họ đã và đang tìm kiếm nó, chẳng qua... chưa biết tìm ở đâu mà thôi. Và chúng ta... sẽ là người chỉ đường cho họ.
Dáng vẻ điềm đạm cùng ánh mắt sáng ngời khi Kei trình bày khiến tôi trợn mắt. Đây có phải Kei mà tôi biết? Chỉ hai ngày, em ấy đưa tôi đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Ông Takumi từ từ nâng chiếc bát trên bàn lên. Các ngón tay chai sần sờ nhẹ vào vết lõm như đang tìm lại kí ức xa xưa. Hồi sau, ông trầm giọng:
- Ba mươi năm trước, ta đã dốc hết tâm sức để theo đuổi sự hoàn hảo. Nào là bề mặt phải láng mịn như gương, lớp men thật đồng nhất, đường nét phải đối xứng hoàn hảo. Ta không nhớ mình đã phải vứt bao nhiêu món đồ từng gọi là thứ phế phẩm đáng xấu hổ.
Ông xoay chiếc bát trong tay, trầm tư một lúc. Một vài vệt tối ẩn hiện trong đôi mắt ngấm sự đời của ông.
- Và sau năm năm, ta đã có được thứ mà mình khao khát. Nhưng... một ngày nọ, trong phút ngẫu hứng, ta quyết định thử nghiệm với một loại đất khác, nung ở nhiệt độ cao hơn và để trong lò lâu hơn. Hầu hết chúng đều hư hỏng, không nứt toác thì cũng biến dạng. Tưởng chừng chẳng thu được gì... vậy mà còn sót lại chiếc bát này đây. Lớp vân màu thì như thớ gỗ cháy, mép bát thì hơi vênh. Khoảnh khắc ấy, ta chợt nhận ra nó thật đẹp. Một vẻ thẩm mỹ mộc mạc và thô sơ.
Ông nhìn Kei, mỉm cười. Các nét trên khuôn mặt giãn ra thành những đường cong dịu hiền. Rồi dừng một nhịp, thở ra hơi dài như đang trút bỏ điều đang cất giữ quá lâu.
- Ta hiểu rằng vẻ đẹp mà trước giờ mình đinh ninh là hoàn hảo... thực chất chỉ là thứ vô hồn không kém. Vẻ đẹp chân chính lại nằm ở sự vô tình khi lỡ ấn mạnh tay, trong sự biến ảo khôn lường của lửa, trong lớp bụi tro bám vào và... sắc màu nguyên thủy của đất mẹ.
Sau phút trải lòng của ông Takumi, mọi chuyện sau đó lại quay về với không khí ấm cúng, thân mật khác lạ. Khi chúng tôi đứng dậy để về, mặt trời đã lên cao, không gian đã trở nên ấm hơn, ánh nắng phủ đầy khoảng sân. Ông Takumi đích thân tiễn chúng tôi ra cửa. Lúc nhìn ông Takumi tươi cười trò chuyện thêm đôi câu với Kei ở đằng trước, cô Hikari liền nói thầm với tôi:
- Hiếm khi tôi thấy thầy Takumi như vậy đó. Thầy ấy chưa tự mình tiễn ai bao giờ.
Tôi hết nhìn cô Hikari, rồi sang bàn tay ông Takumi đang vỗ vai Kei và kết thúc ở nụ cười tươi rói của em ấy. Có vẻ như không chỉ cô Hikari thấy lạ lẫm, mà... tôi cũng thế.
........
Lúc cả hai cúi chào tạm biệt và quay người đi, ông Takumi vẫn đứng ở ngưỡng cổng nhìn theo bóng dáng phía trước, nói nhỏ với Hikari:
- Chàng trai đó... khi cậu ta cầm chiếc bát và trình bày. Ta đã thấy chính mình trong đôi mắt sáng ấy. Cái khoảnh khắc ta ngộ ra sự hoàn hảo không phải điều quan trọng. Cái ta cần chính là linh hồn thuần túy bên trong những món đồ gốm. Sau cô... cậu ấy là người làm ta ấn tượng ngay lần đầu gặp đấy.
Gió lùa đến, tán rừng xôn xao, dây chuông rung một tiếng ngân khẽ khàng. Hikari đẩy nhẹ gọng kính, giọng cô nhẹ nhàng hơn, gần như mất hút trong gió.
- Vâng. Cậu ấy thật khác biệt, thưa thầy. Cậu ấy nhìn ra được cái đẹp ngay cả trong những vết cháy xém.