Tiếng Ếch Kêu Trong Lòng Giếng Cạn
Chương 4.3. Vòng Hai (3)
"Em thấy đấy, các học quan trong nước phần nhiều sùng lời Chu Tử, thấy sách Bắc thì cúi đầu, thấy lời dị thì gạt bỏ. Sĩ tử học theo, thành ra tự khinh mình, tự ràng buộc trí. Đó không phải là học Nho, mà là làm nô lệ của Nho."
Chưa bao giờ kể từ khi làm quan Quý Ly lại đi lo lắng về một cuộc thi cỏn con. Trong đầu y không ngừng tái hiện lại hình ảnh cậu thiếu niên chăm chỉ ôn luyện và lấy đó làm an ủi mình. Suốt những tuần qua, Châu – thằng bé ấy, đã không còn là một kẻ học trò hời hợt mà thoát xác trở thành một người cầu học chân chính. Cậu học không khác gì một sĩ tử khoa bảng lấy sự hiểu làm gốc, nghiêm túc và tự chủ. Tuy vậy, do thời gian học tập ngắn mà lượng kiến thức thì nhiều, cuối cùng Châu cũng quyết định sẽ nghe theo lời khuyên của cô Quỳnh, tức chỉ chuyên tâm vào một triều đại, học cho sâu rồi lấy đó làm nền mà vận dụng muôn đề. Châu bèn lựa triều Trần, cũng là triều đại của chính Quý Ly để dốc lòng tìm hiểu. Khi ấy Châu đã nói gì, Quý Ly ngẫm. À, Châu nói: “Có sẵn một ông ma làm quan nhà Trần ở đây, không tận dụng thì phí của giời.” Hằng ngày, Châu dành nhiều thời gian để đọc sách trong thư viện, qua cái sự ấy, Quý Ly mới biết thằng bé này rất có chủ kiến và hay thích phản biện. Đặc biệt, Châu không ưa cái lối học vẹt của những người học Sử bình thường, tức học để thuộc chứ chẳng để hiểu, vốn là điều làm cho bao Nho sinh ngày trước thành kẻ giỏi làm văn mà vụng trị dân. Cậu chàng hay hỏi và hay bình phẩm. Một đôi khi Quý Ly chợt phát hiện những điều tư tưởng ấy có nét tương đồng với hoài bão của mình. Thế là y trộm nghĩ liệu chăng có những thứ y có thể thổ lộ ra với cậu. Nhiều hôm học đến sáng, Châu thiếp đi giữa chừng, đầu gục xuống trang vở chi chít chữ. Quý Ly chỉ lặng lẽ ngồi nhìn, lòng như có tiếng tất lật[1] vang lên giữa đêm sâu. Trời chưa sáng, mây còn bạc đầu phía Đông, Quý Ly chợt rơi vào một niềm tư lự sâu sắc: Ở Việt Nam, xe cộ nối đuôi nhau chạy êm như nước, thân xe sáng bóng tựa gương đồng. Người ngồi bên trong mưa chẳng ướt đầu, nắng chẳng táp mặt. Quý Ly nhìn mà tưởng như đang mộng. Ngày trước, quan lớn đi kiệu còn xóc nảy, dân thì dãi dầu chân đất. Ở Việt Nam, đâu đâu cũng là nhà cao như núi thiếc, mặt tường bằng kính trong suốt, soi được cả trời mây. Cửa tự mở, máy móc tự chạy, đi mấy tầng lầu mà chẳng tốn sức. Nhớ lại hoàng cung xưa huy động cả nghìn thợ, dân chúng lầm than đói khổ mà cũng chỉ mười voi không được bát nước xáo. Ở Việt Nam, hai bên đường dựng đầy những cây cột sắt đen nhánh, đầu cột phát sáng. Thứ ánh sáng trắng rực, xuyên qua đêm đen mịt mùng. Khi ấy, Quý Ly chưa hiểu đèn “điện” là gì, chỉ thấy nguồn sáng nọ làm lu mờ nhật nguyệt, sao mà rực rỡ. Nhất là khi đi qua công viên, Ly trông thấy giữa vườn không đặt tượng Phật hay miếu thờ mà rải rác toàn những khung sắt, tay đòn, bánh lăn, thứ gì cũng nặng trịch, chắc chắn, xếp ngay ngắn như trận đồ. Hỏi ra mới biết đó là “dụng cụ thể dục”, ai đi ngang cũng có thể tự do sử dụng. Y trố mắt nhìn mà ngẩn người. Sắt nhiều thế sao chẳng mang mà đúc gươm giáo? Để thế này không sợ bị trộm đem nấu chảy ư? Thời Đại Việt, chỉ một khối sắt to bằng bàn tay cũng đủ quý như vàng, phải dùng vào binh khí, hay ít ra cũng làm đai ngựa, móc cương. Còn đây, người ta đem sắt đúc thành khung tròn, xà ngang, đặt giữa đất, mặc gió mưa táp vào, không chút dè sẻn. Quý Ly bỗng trộm nghĩ: phải chăng thời này thiên hạ đã yên ổn đến độ chẳng còn ai nghĩ đến việc binh đao? Sắt không còn là vật của quân lính, mà trở thành thứ để dân thường dùng rèn luyện sức khoẻ? Một quốc gia có thể để sắt thép giữa phố, ấy là một quốc gia không còn loạn lạc. Suy nghĩ ấy bỗng vụt qua đầu y như tiếng sấm. Phải chăng đây là xã hội mà lòng y từng hướng tới? Một quốc gia ấm no nơi kẻ sĩ được trọng, dân được học thành tài. Nhớ lại Đại Việt xưa, nhà tranh dột nát, hạn hán lũ lụt liên miên, sâu rầy phá hoại mùa màng, người dân thắt ngặt, mù chữ, đinh nam phải nộp thuế dung. Mà nay, sách bày đầy trên kệ, chữ nghĩa sáng lòa, trẻ con biết đọc khi vừa tròn sáu tuổi. Trong những đêm Châu chong đèn chui rèn để tìm về quá khứ, Quý Ly cũng đau đáu dõi mắt theo Châu, theo tương lai của Đại Việt. Thời gian thấm thoắt trôi đi, mới đó mà đã tới lượt Châu lên trình bày. Quý Ly lặng lẽ bước vào phòng. Bên trong vang lên giọng thảo luận khe khẽ của các giám khảo. Trông thấy Quý Ly đứng sau lưng Ban Giám Khảo, Châu thở phào, những ngón tay thôi không gồng cứng nữa. Dẫu biết Quý Ly chắc chắn sẽ không nhắc bài mình, nhưng việc trông thấy y vẫn khiến Châu nhẹ nhõm đôi chút. Cậu hít sâu, chào hỏi thầy cô rồi bắt đầu trình bày. – Trong thời kỳ đầu, nhà Trần tiếp tục kế thừa và phát triển hệ thống giáo dục, khoa cử từ thời Lý. Mặc dù Phật giáo vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng Nho giáo cũng dần được chú trọng hơn, đặc biệt trong việc tuyển chọn quan lại thông qua khoa cử. Triều đình tổ chức các kỳ thi như thi Hương, thi Hội và thi Đình để tuyển chọn nhân tài, với nội dung chủ yếu dựa trên Tứ Thư, Ngũ Kinh và các tác phẩm của Chu Hy – đại diện tiêu biểu của Tống Nho. Từ cuối thế kỷ XIII, tư tưởng Chu Hy và Tống Nho bắt đầu có ảnh hưởng mạnh mẽ đến Nho học Việt Nam. Tuy nhiên, sự tiếp thu này chủ yếu mang tính hình thức, dẫn đến việc học tập trở nên giáo điều, thiếu tính thực tiễn. Nhiều học giả đã phê phán việc sùng bái Chu Hy một cách mù quáng, coi đó là nguyên nhân khiến Nho học Việt Nam trở nên bảo thủ và xa rời thực tế xã hội. Thời ấy, có một vị quan tên Lê Lý Nguyên đã dám lật nhào cả những lý thuyết bất khả xâm phạm qua bao nhiêu thế kỷ của các bậc thánh hiền Trung Hoa, chủ trương kiến tạo một con đường thực học gắn liền với căn bản quốc gia, xã hội nhằm đưa đất nước bước vào thời cường thịnh… Trước giờ phút ấy độ một tiếng, lúc cậu bước lên bốc đề từ cái hòm nhựa đặt giữa phòng, đầu óc Châu vẫn còn bủn rủn, hồi hộp lắm. Tuy thế, khi nhìn thấy dòng chữ trên lá thăm, Châu thở phào: – “Trình bày một biểu hiện của tinh thần độc lập tự chủ trong lịch sử Việt Nam ta” à… Nghe đến độc lập tự chủ, người ta ắt nghĩ đến việc người dân chống ngoại xâm. Ấy là chủ đề sáng như sao Khuê, khỏi cần tìm tòi nghĩ ngợi chi cũng đã có sẵn những trang hào hùng trong lịch sử: Trần Hưng Đạo ba lần phá Nguyên Mông, Trần Quang Khải với bài “Tụng giá hoàn kinh sư”, Phạm Ngũ Lão trấn giữ biên cương, Trần Quốc Toản bóp nát quả cam, giục quân giữa buổi triều đình còn phân vân. Từng trận Bạch Đằng giang vang dội, từng đêm mưa gió nơi Vạn Kiếp, mỗi dòng đều có thể trở thành một bài thuyết trình mẫu mực. Nhưng lòng Châu lại thấy không yên. Bởi lẽ trong phút phân vân ấy, Châu chợt nhớ đến một đêm vô danh trong rất nhiều những đêm trường thằng bé và người bạn ma ôn luyện cùng nhau. Giờ phút ấy, tiếng thở dài của Lê Lý Nguyên vang lên bên tai cậu: – Đạo trị nước vốn lấy lòng dân làm gốc, lấy thực dụng làm phương, lấy hiểu lý làm cốt. Nước nhà có mạnh là nhờ biết thuận lý biến thông, biết bỏ cũ lập mới. Song, nhà Trần sùng Nho mà thiên về hình thức, chuộng văn danh mà bỏ thực chất, nệ chương cú mà khinh kinh bang tế thế. Học trò thì lắm chữ mà thiếu chí, quan lại thì nhiều lễ mà ít liêm. Kẻ sĩ nay cầm bút chỉ lo làm văn hoa mĩ, ngâm vịnh gió trăng, mà chẳng ngẫm việc ăn đói mặc rét của lê dân. Thi cử thì chuộng chữ nghĩa cổ lệ, không xét mưu trị dân, khiến nước nhà hình thịnh mà cốt suy, lễ đủ mà trị loạn, thế thì lấy gì mà giữ xã tắc dài lâu? – Anh nói cái gì lùng bùng thế… – Châu đánh một cái ngáp dài, định gục xuống bàn. Nhưng khi thấy vẻ chăm chăm trên gương mặt Quý Ly, Châu bặm môi, bước vào nhà tắm rửa mặt cho tỉnh táo rồi trở ra, ngồi thẳng lưng vào ghế. – Em tỉnh rồi. Mình học tiếp đi. Nhưng anh liệu mà xài từ cho hiện đại đấy nhé. Nghe vậy, Quý Ly gật đầu, y chắp tay sau lưng: – Em thấy đấy, các học quan trong nước phần nhiều sùng lời Chu Tử, thấy sách Bắc thì cúi đầu, thấy lời dị thì gạt bỏ. Sĩ tử học theo, thành ra tự khinh mình, tự ràng buộc trí. Đó không phải là học Nho, mà là làm nô lệ của Nho. Chu Hy là người Tống, viết sách cho đời Tống. Đại Việt ta sống nơi ruộng nước, làng mạc, phong tục khác hẳn, há có thể rập y lời Tống mà trị nước mình? Lời Chu Hy hợp với Tống, nhưng không hợp với Đại Việt. Phép lễ, phép học của phương Bắc có cái hay, nhưng không thể rập khuôn. Học mà không biết biến, là học làm nô lệ. Phong tục nước Nam khác, đất đai khác, dân khí khác. Sao lại lấy áo người mà mặc cho mình, không chật thì rách? Quý Ly chắp tay sau lưng, nhìn ánh trăng vằng vặc mà cầm lòng chẳng đặng lý giải say sưa. Bởi mê say quá mà lâu sau y mới nhận thấy một sự im lặng kỳ lạ. Y quay lưng lại, quả nhiên, Châu đã gục đầu xuống bàn. Thằng bé tì má vào cánh tay, nước dãi chảy ướt cả trang vở, hình như cậu còn đang lớ mớ nói gì đó. Quý Ly khom lưng, cúi sát vào mặt đồng hồ, lẩm nhẩm các vạch đen. Sau nhiều ngày ở đây, y đã dần quen với việc xem giờ, tốc độ đếm tăng nhanh đáng kể. Cuối cùng y kết luận: – Một giờ hai mươi nhăm phút. Chà, mới đó mà đã canh tư. – Anh nói dễ hiểu hơn đi… anh nói gì khó hiểu quá à… – Châu cựa quậy. Thằng bé lại nói mớ, lần này giọng lớn hơn như đang nài nỉ, mè nheo. – Em muốn ta nói dễ hiểu hơn ư? Quý Ly nghiêng đầu nhìn Châu. Đúng lúc ấy, cơn gió từ cái quạt sắt thổi những lọn tóc xuân xanh bay phơ phất. Y cười, xoa đầu cậu. – Nếu dễ hiểu thì đã chẳng còn là thứ khiến người ta thao thức nữa. [1] Tức kèn, một trong các Đại nhạc thời Trần. |
0 |