Tiếng Ếch Kêu Trong Lòng Giếng Cạn

Chương 6.2. Chuyến đi Bắc Ninh (2)

"Quý Ly phì cười. Tiếng cười của một người cổ đại hòa với tiếng cười của những người trẻ hiện đại, khoảng cách hơn sáu trăm năm cũng chỉ dài có thế."

Bánh xe đỗ lại, phanh rít một tiếng dài. Giọng chị hướng dẫn viên vang lên rành rọt:

– Kính thưa quý thầy cô và các em học sinh thân mến! Chúng ta đang dừng chân tại một trong những di tích linh thiêng và quan trọng bậc nhất vùng đất Kinh Bắc – Đền Đô, hay còn gọi là đền Lý Bát Đế. Đây là nơi thờ phụng tám vị hoàng đế triều Lý – vương triều đã đưa nước ta vào thời đại độc lập, thịnh trị kéo dài suốt hơn hai thế kỷ từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII.

Châu đứng trước cổng Ngũ Long Môn, cổng ấy là cánh cổng đầu tiên mở lối vào chốn tôn nghiêm thờ tám vị chân long triều Lý. Ba gian cổng rộng chừng sáu mươi thước vuông gỗ lim, thức gỗ từng được chọn làm xà nóc kinh thành, mang trong mình cả ngàn mùa sương gió đất rừng. Mái cổng lợp ngói mũi hài, gian chính giữa là trọng môn, nơi cánh cổng lớn khép mở trang nghiêm: mặt ngoài chạm rồng uốn lượn, khí thế cuồn cuộn. Trên xà nóc, rồng lại hiện ra trong mây. Giữa trung tâm là một hình rồng đắp nổi trấn giữ như thần long trấn trạch, canh giữ linh khí của cả một triều đại. Hai bên bậc tam cấp là đôi rồng đá chầu, thân uốn vươn như đang chuyển động, miệng há rộng phun mây, mắt long lanh thần quang, từng vảy chạm khắc tinh xảo đến rợn ngợp. Những con rồng ấy không chỉ là vật trang trí, chúng còn là biểu tượng của quyền lực, hộ pháp, và linh khí vương triều.

Đứng trên cái bậc tam cấp ấy, chị hướng dẫn viên cầm loa hăng say, tiếp tục lặp lại điều mà ban nãy Lợi từng giảng. Thấy thế, Châu cúi đầu, ghé vào tai Quý Ly thì thào:

– Thằng Lợi có khiếu làm hướng dẫn viên du lịch ghê.

Quý Ly cũng gật gù, tủm tỉm:

– Đúng thật.

– Kính thưa quý thầy cô và các bạn học sinh, chúng ta đang đứng trước một trong những công trình tiêu biểu và linh thiêng nhất của quần thể Đền Đô – Ngũ Long Môn, hay còn gọi là “Năm cửa rồng”. Đây không chỉ là cổng chính dẫn vào nội thành của Đền Đô, mà còn là biểu tượng của khí thiêng nhà Lý. Hai bên cổng là hai pho tượng đá, dân gian thường gọi là “Cấm vệ quân”. Đó là những hình nhân mang dáng dấp dũng mãnh, oai vệ, tượng trưng cho lực lượng bảo vệ nhà vua. Phía trên là bức hoành phi đề bốn chữ Hán “Lý Triều Bát Đế”, tức là “Tám vị Hoàng đế triều Lý”. Đây là lời khẳng định đầy tự hào về một triều đại huy hoàng, với tám đời vua, trị vì đất nước suốt 216 năm trong cảnh thái bình thịnh trị.

– Vượt qua Ngũ Long Môn, chúng ta sẽ bước vào Sân Rồng, nơi từng diễn ra các lễ nghi quan trọng, cũng là nơi đón ánh nắng đầu tiên mỗi buổi sớm, tượng trưng cho ánh sáng chính đạo. Phía tay phải của quý vị là miếu thờ Thổ thần – vị thần cai quản vùng đất thiêng này, và bên cạnh đó là Giếng Ngọc, nơi mà theo truyền thuyết, từng soi bóng những vị vua đầu triều Lý khi trở về bái tổ.

– Tiếp theo, xin mời quý vị theo chân tôi tiến vào bên trong khu nội thành, nơi đặt bài vị và tượng thờ tám vị hoàng đế nhà Lý. Trên đường đi, chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng thêm những công trình kiến trúc đặc sắc như Phương Đình, Nhà Tiền Tế,…

Trong cái nắng hanh hanh đầu Hạ, cái nắng vừa kịp đuổi cho sạch sành sanh sự ẩm rít của tiết nồm, nhưng chưa đủ nung chín đầu tóc người ta như cái nóng tháng Sáu, đoàn học trò xếp thành một hàng dài. Theo chân giọng nói lôi cuốn của hướng dẫn viên, chúng bước qua Ngũ Long Môn. Những bức tượng rồng chầu, sấu phục, voi phục đứng nghiêm như trông giữ một cõi linh thiêng. Mùi gỗ lim, khói trầm và hương sen cứ chực đưa người ta vào một cảm giác hoài niệm cổ xưa.

Giọng chị hướng dẫn viên vút cao: chị kể chuyện Lý Thái Tổ dời đô, nói về bia đá của Phùng Khắc Khoan, chỉ tay vào hoành phi “Bát Diệp Trùng Quang” mà như vén màn cho học trò thấy rõ ràng tám ngọn đuốc vương triều từng soi sáng một thời kỳ độc lập huy hoàng. Lũ trẻ ngẩn ngơ. Có đứa còn lặng lẽ lau mắt, sụt sùi.

Bước khỏi điện thờ, Châu nhớ sực:

– Ơ, sao hôm nay không thấy anh hỏi gì hết vậy?

Quý Ly nói:

– Em há đã quên ta là người thời nào? Khu di tích này tuy đã được tu chỉnh, thêm thắt không ít vật dụng tân thời, song vẫn còn lưu giữ phần lớn dáng dấp cổ xưa. Ta ngẫm, trong chốn này, kẻ thấu hiểu lối kiến trúc ấy nhất hẳn chính là ta.

Châu ngơ ngác gật đầu, cậu nhận ra, chẳng biết từ bao giờ Quý Ly đã biết dùng rất nhiều từ hiện đại.

Chiều đổ lửa, mặt trời chao nghiêng trên mái ngói rêu phong, cả đoàn rời khỏi làng tranh Đông Hồ vào ba giờ chiều, đúng độ rát da rát thịt nhất. Nắng nung như người ta thổi ống bễ, các cô con gái có chiếc áo sơ mi buộc quanh eo thì tháo ra, trùm kín người mình, nhưng nhất định không chịu buộc mái tóc dài được ép thẳng và tỉa thưa. Mấy cậu con trai thì kệ thây nó, phơi da rám đen cũng chẳng hề gì. Tuổi hoa niên ồn ào, nhiều sức trẻ, cái nực nội của mùa Hè cũng chẳng thể khiến đám học trò kiệt sức lâu, nhất là khi trên xe có điều hòa và nước mát.

Tầm này, bọn học sinh đã tỉnh táo hơn ban sáng và cũng thấm cái không khí náo nức của cuộc du hí, thế là chiếc xe rộn ràng hơn hẳn. Thậm chí, có cậu chàng đứng phắt dậy giữa xe, giơ tay vỗ nhịp, hát lên một đoạn tình ca trẻ ranh: “Mắt nai ơi xin đừng đi nhé em. Mắt nai ơi xin đừng xa cách tôi…” khiến cả xe cười vang, tiếng cười của lũ trẻ tuổi mười bảy xé tan cái nghiêm tĩnh còn vương lại từ những gian điện thờ. Rồi chẳng ai bảo ai, cả đám đồng thanh hòa nhịp: “Mắt nai ơi xin đừng đi chá cha. Hát vang lên ô là la chá cha.”

Trong bầu không khí sôi nổi căng đầy sức trẻ đó, thằng Lợi bình phẩm như một ông già hủ lậu:

– Đến Bắc Ninh không nghe quan họ thì thôi, lại đi nghe thứ nhạc nhố nhăng!

Nhưng cũng chẳng ai giận nó, cả xe cười phá lên khiến cu cậu càng thêm cơn tức.

Ở cuối xe, Châu cũng nhún nhảy theo điệu nhạc. Quý Ly rỉ tai cậu:

– Nhạc nhẽo tân thời nhức óc quá.

Châu nhìn y khinh bỉ:

– Anh là họ hàng với thằng Lợi à?

Quý Ly phì cười. Tiếng cười của một người cổ đại hòa với tiếng cười của những người trẻ hiện đại, khoảng cách hơn sáu trăm năm cũng chỉ dài có thế.

0

Bình luận

Thiết lập văn bản

Chọn font chữ

Nội dung sẽ hiển thị như thế này