CHƯƠNG 20: GẤM HOA CHE KÍN VẾT NHƠ / ĐÀN AI VỪA GÃY ĐÃ NGỜ TIẾNG GIAN.
CHƯƠNG 20: GẤM HOA CHE KÍN VẾT NHƠ / ĐÀN AI VỪA GÃY ĐÃ NGỜ TIẾNG GIAN.
Người ngoài nhìn vào cứ ngỡ bà Hai đang phải chịu cảnh giam lỏng, đêm ngày ăn năn hối lỗi trong góc buồng u tối vì những việc ác mình đã gây ra. Thế nhưng, thực chất cuộc sống của bà ta vẫn mười phần sung sướng, chẳng mảy may hao hụt chút nào.
Trong căn buồng gấm vóc lộng lẫy, hơi ấm từ chậu than đỏ rực đặt dưới gầm giường tỏa lên ấm áp, xua đi cái lạnh buốt của gió đông ngoài cửa sổ. Bà Hai nằm nghiêng trên chiếc sập gụ êm ái, đôi mắt lấp lánh nhìn chăm chăm vào đống vòng vàng, nhẫn bạc lấp lánh đang cầm trên tay. Sắc mặt bà ta vẫn hồng hào, đẫm thịt, chẳng có một chút nào gọi là hao gầy hay hốc hác sau biến cố lớn vừa qua. Trên đầu bà, mái tóc đen nhánh được vấn gọn trong chiếc khăn nhung đen, cài ngang một cây trâm bạc chạm hình phượng, ánh lên dưới ánh nến mỗi khi bà cử động.
Lúc này, con sen hầu phòng đang quỳ dưới đất, hai tay bóp chân cho bà ta một cách nhẹ nhàng. Chợt, từ phía cánh cửa gỗ khép hờ, có bóng người dong dỏng cao lấp ló dòm vào. Bà Hai khẽ liếc mắt nhìn ra, lập tức phẩy tay, giọng sắc lẹm bảo đám con hầu:
"Lui ra ngoài hết đi, không có tiếng gọi của tao thì cấm đứa nào được bén mảng lại gần."
Đám con sen vội vàng cúi đầu bưng chậu nước bước ra, khép chặt cửa buồng lại.
Người vừa bước vào là thằng Tí. Gọi là "thằng" cho đúng phận đứa ở, chứ thực ra hắn đã ngoài hai mươi tuổi, vóc dáng cao lớn, đôi vai vạm vỡ thịt bắp nổi rõ sau lớp áo vải thô.
Bà Hai khẽ chống tay ngồi dậy, đôi mắt sắc lẻm nhìn gã trai trẻ hỏi nhỏ:
"Thế nào? Có tìm được con Đào không?”
Thằng Tí nhìn quanh một lượt, khẽ lắc đầu, vẻ mặt sợ sệt:
"Thưa bà... con đã cho người lục tung khắp các bến đò, ngõ ngách xung quanh nhưng vẫn không thấy tăm hơi đâu. Con Đào dường như đã biến mất tăm khỏi xứ này rồi ạ."
Nghe vậy, bà Hai sa sầm nét mặt, giận dữ gắt lên một tiếng:
"Một lũ ăn hại, nuôi tốn cơm! Có cái mạng mọn mà cũng tìm không ra!"
Bà ta bực dọc ném đống vòng vàng xuống nệm gấm, rồi hất hàm bảo thằng Tí:
"Thôi, không tìm được thì bỏ qua đi. Mày lại đây bóp chân cho bà."
Thằng Tí hơi chần chừ, liếc nhìn ra cửa buồng khép kín rồi mới chậm rãi bước tới, quỳ sụp dưới chân giường bà Hai, bắt đầu lấy đôi bàn tay to khỏe, thô ráp bóp nhẹ hai bắp chân đầy đặn cho bà ta.
Bà Hai lim dim mắt hưởng thụ hơi ấm từ bàn tay gã trai trẻ truyền qua vạt áo lụa, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười lạnh lùng, lẩm nhẩm:
"Mà thôi... cái thai mất rồi thì cũng coi như xong. Dù sao... tao cũng chẳng chắc chắn đứa trẻ đó có phải là giọt máu của ông Tường hay không."
Thằng Tí nghe vậy, bàn tay đang bóp chân khẽ khựng lại một nhịp đầy chột dạ, nhưng nhanh chóng lấy lại vẻ bình tĩnh, cúi đầu tiếp tục công việc.
Bà Hai thì thầm như đang tự nói với chính mình. Lần cuối cùng ông Tường ghé qua giường bà, tính ra đã từ rất lâu trước đó. Đến khi bà phát hiện mình có bầu thì cái thai thực chất đã được tròn ba tháng rồi. Để lấp liếm cái sự thật nhơ nhuốc ấy, bà đã cố tình bày ra trò ngất xỉu giữa ngày Tết mùng năm tháng năm, rồi bỏ ra một vạt bạc lớn mua chuộc lão thầy bốc thuốc trong làng, bắt lão phải nói với ông Tường rằng bà mới mang thai được hai tháng.
Vốn nghĩ mọi chuyện sẽ dễ dàng trôi qua êm thấm dưới lớp áo gấm che mắt thế gian. Thế nhưng người tính không bằng trời tính, cái thai trong bụng bà lại phát triển nhanh một cách bất thường, bụng bà to sù sụ lên như cái trống cái. Nếu cứ thế mà sinh ra, việc giải thích đứa trẻ sinh thiếu ngày thiếu tháng dẫu có người tin, nhưng lỡ như khuôn mặt đứa bé lớn lên mà chẳng có một nét nào giống ông Tường... thì cái nhà này sẽ là nơi chôn xác bà trước tiên.
Bà Hai siết chặt nắm tay, hai hàm răng nghiến chặt vào nhau, trong mắt ánh lên sự kiêu ngạo:
"Hừ! Bà đây đường đường là con gái của quan lý trưởng. Ông Tường có gan trời cũng chẳng dám làm gì bà!"
Bà thừa biết thế lực của cha mình tuy không lớn nhưng nắm mấu chốt kha khá vụ kiểm soát hàng hoá qua lại. Việc làm ăn buôn bán, những chuyến hàng vải vóc, lúa gạo thông suốt của ông Tường bấy lâu nay đều phải qua tay, nhờ cậy vào sự che chở của cha bà mới trót lọt nhanh chóng. Dẫu bà có phạm phải lỗi lầm lớn đến đâu, ông Tường cũng chỉ dám giơ cao đánh khẽ.
Tuy nhiên, việc bà hạ độc giết chết người vợ cả An Nhạc mười mấy năm trước dẫu sao cũng là việc tày trời, nếu bị phanh phui ra trước mặt người đời thì thế lực của cha bà cũng khó lòng che đậy hết. Cho nên, cái đêm giỗ hôm trước, khi con Đào lên cơn điên lao vào người bà, bà vốn dĩ có thừa khả năng để né tránh hoặc gọi người cản lại.
Nhưng bà đã chọn cách không tránh. Bà cố ý để bản thân ngã xuống, tiện thể mượn cái cớ ấy để rũ bỏ cái thai đầy rẫy hiểm họa trong bụng. Như thế, ông Tường vừa dấy lên lòng thương xót, vừa mang ơn nghĩa với đứa con đã mất, mà những kẻ khác trong phủ dẫu biết chuyện thuốc độc cũng chẳng thể làm gì được bà khi bà đã chịu "hình phạt" đau đớn nhất là mất đi khúc ruột của mình.
Bà Hai khẽ cười nhạt, đôi mắt lấp lánh sự tinh quái:
"Quyền giữ hòm chìa khóa mất rồi thì sau này kiếm lại mấy hồi. Dù sao tao cũng đã đẻ được cho nhà này hai đứa con là thằng Thế với con Châu, chứ đâu như mấy mụ vợ kia... rặt một lũ điếc, tịt ngòi cả đời không ra nổi mụn con!"
Bà Hai khẽ thở dài, dời tầm mắt khỏi đống vàng bạc quý giá, bàn tay múp míp đeo vòng ngọc khẽ siết chặt lấy mép chăn gấm:
"Chỉ tiếc, tao không tìm ra được con mụ nào đã dám bỏ mấy thứ kia vào dưới gầm giường bà..."
Giọng bà ta bỗng chốc chùng xuống, rít qua kẽ răng đầy vẻ oán hận. Cái hốc đất dưới viên gạch ấy, dẫu có lục tung ký ức bà cũng không nhớ mình từng chôn đồ ở đó bao giờ. Lọ thạch tín năm xưa bà dùng để hạ độc bà Cả đúng là loại này, nhưng bà đã sớm cho người ném xuống sông phi tang từ lâu. Còn cái hình nhân thế mạng quấn chỉ đen găm kim rỉ sét kia, bà lại càng không hề hay biết.
Rõ ràng, có kẻ đã âm thầm thu thập hoặc làm giả những thứ đó, đợi đúng ngày giỗ của bà cả An Nhạc để đào sẵn cái hố chôn sống bà.
Bà Hai vỗ mạnh vào vai thằng Tí, gặng hỏi với giọng đầy cay cú:
"Tìm ra bằng được con Đào cho tao, một con hầu thấp mon, mà có thể leo lên giường ông Tường, còn thuận lợi mang thai. Nói không có ai chống lưng, làm sao mà tin được…"
Thằng Tí vừa ra sức bóp bắp chân cho bà Hai, vừa run rẩy cúi đầu, mồ hôi càng rịn ra trên trán. Bà Hai nheo mắt nhìn về phía ngọn nến đang chập chờn trước gió đông. Đầu óc bà ta bắt đầu lướt qua từng gương mặt quen thuộc trong phủ họ Trần. Là mụ Ba lẳng lơ, hay mụ Tư miệng nam mô bụng một bồ dao găm?
Dù là ai, đám đó dám đấu với bà.
Nghĩ đến đây, bà ta đẩy mạnh chân thằng Tí ra, bật ngồi dậy trên sập gụ, gương mặt hồng hào bỗng chốc trở nên vặn vẹo, tàn nhẫn:
"Mày nghe đây, thằng Tí. Tiếp tục cho người ngầm dò hỏi tin tức của con Đào. Đừng tìm ở các bến đò gần đây nữa, tìm ngược lên mạn ngược, hoặc mấy làng chài hẻo lánh phía dưới. Chỉ cần tóm được nó, tao sẽ khiến nó phải hối hận vì đã sinh ra trên đời này!"
Bà ta siết chặt chiếc trâm cài tóc bằng bạc trong tay, cười lạnh một tiếng đầy uất hận, báo hiệu sóng gió lại sắp nổi lên.
Sống ở cái chốn giàu sang, vàng thau lẫn lộn này... nếu đầu óc không biết ranh ma, tính toán, thì làm sao mà giữ mạng sống sót được đến ngày hôm nay?
Dạo này, chẳng hiểu vì cớ sự gì mà sinh khí của ông Tường ngày một sa sút rõ rệt. Gương mặt vị gia trưởng phủ họ Trần lúc nào cũng xám xịt, hai bên thái dương cứ chốc chốc lại giật lên từng hồi nhức nhối như có hàng ngàn cây kim châm vào đại não. Ông bỗng đâm ra sợ tiếng ồn, sợ ánh nắng hanh hao của ngày đông.
Kỳ lạ thay, cứ mỗi lần cơn đau ập đến hành hạ, ông Tường lại tìm sang buồng bà Tư. Căn buồng của bà Tư đơn sơ hơn hẳn so với các buồng khác trong phủ: không treo gấm vóc lòe loẹt, chỉ có một tấm rèm vải nâu sồng ngăn đôi gian ngoài và gian thờ Phật nhỏ đặt sát vách, nơi khói trầm hương quyện lẫn với mùi nến sáp tỏa ra dìu dịu. Chỉ cần ngồi lặng yên dưới bóng tối của gian thờ Phật, nghe tiếng gõ mõ cốc... cốc... đều đặn và tiếng tụng kinh Địa Tạng trầm buồn, thều thào của người vợ Tư, thì đầu óc ông mới dịu đi được đôi chút.
Hôm nay, ông Tường đang ngồi ngự trên chiếc sập gụ, lật giở mấy cuốn sổ sách thu chi của các cửa hàng ngoài phố. Thế nhưng, mới lướt qua được vài trang, những con số mực tàu bỗng nhòe đi, nhảy múa lộn xộn trước mắt ông. Một luồng khí lạnh chạy dọc sống lưng khiến ông thấy sống mũi cay xè, lồng ngực nằng nặc nôn nao một cảm giác vô cùng là lạ, khó tả.
Bà Tư lặng lẽ đứng sau lưng chồng từ lúc nào. Đôi bàn tay gầy guốc, lành lạnh của bà nhẹ nhàng đặt lên đầu ông, mười ngón tay thon dài rải đều, bắt đầu chậm rãi day ấn vào những huyệt đạo hai bên thái dương. Bà vừa bóp đầu cho chồng, miệng vừa lẩm nhẩm niệm Phật không ngớt:
"Nam mô a di đà Phật... Mình ráng thả lỏng người ra, đừng nghĩ ngợi việc sổ sách chi tiêu nhiều quá mà tổn hại tâm can..."
Giữa lúc không gian đang chìm trong sự u tịch, tĩnh lặng, cánh cửa gỗ khẽ kẹt mở. Tiếng guốc mộc thanh mảnh nện xuống nền gạch nghe lộc cộc vui tai phá tan bầu không khí ảm đạm.
Bà Ba trong bộ áo ngũ thân bằng lụa điều đỏ thắm, tà áo thướt tha, sực nức mùi phấn sáp phương Tây đon đả bước vào. Mái tóc bà búi cao cài trâm ngọc, đôi vòng vàng chạm khắc hoa văn cầu kỳ đeo kín cả hai cổ tay, mỗi bước đi lại va vào nhau kêu leng keng. Trông thấy bộ dạng mệt mỏi của ông Tường và cảnh bà Tư đang bóp đầu cho chồng, bà Ba không hề khó chịu, trái lại còn nũng nịu sán lại gần, ngồi ghé sát vào mép sập gụ, vạt áo lụa điều xòe rộng phủ lên cả góc chăn gấm, cất giọng ngọt lịm như mật rót vào tai:
"Ơ kìa mình ơi! Trông mình mệt mỏi, xám ngoét thế kia em nhìn mà xót hết cả ruột gan. Thôi, dẹp ba cái sổ sách khô khan ấy đi mình ạ. Mình có muốn nghe hát không? Để em hát em gảy đàn cho mình nghe giải sầu nhé. Hồi trước, mình chẳng mê mẩn nhất cái giọng oanh vàng của em mỗi đêm là gì..."
Nói đoạn, chẳng đợi ông Tường đồng ý, bà Ba đã đứng dậy đi thẳng tới góc phòng gấm. Bà thản nhiên nhấc cây đàn nhị gỗ mun bọc da trăn vốn được treo phủ bụi trên vách tường xuống.
Bà Ba ngồi vắt vẻo, đặt bầu đàn lên đùi, một tay giữ dọc đàn, tay kia cầm cây vĩ khẽ vuốt nhẹ vào hai sợi dây tơ.
Két... rền...
Tiếng dây đàn ma sát vang lên một âm thanh bén ngót, thê lương nhưng lại có một sức hút mê người. Bà Ba khẽ đưa nôi theo nhịp gót chân, tà áo lụa điều khẽ lay động theo từng cử chỉ, đôi mắt lúng liếng liếc nhìn ông Tường, rồi bắt đầu khẽ kéo lên một bài hát trầm bổng, réo rắt. Giọng hát của bà cất lên nhịp nhàng, lơ lửng giữa làn khói trầm hương ngột ngạt:
“Nửa đời tìm kiếm mái chèo đa đoan
Nghìn dặm tơ vàng ai người biết gỡ ?
À ơi, à ơi!
Ơ, đôi bờ bến nào là nhớ bến nào là quên
Ru em giấc trưa nắng vương yếm đào
Chiều còn xa lắm em ngồi đan nắng
Cho em, em heo may.”
(Lời bài hát Trầu Không - Hồng Duyên)
Kỳ lạ thay, tiếng đàn nhị réo rắt cùng giọng hát nỉ non của bà Ba vừa cất lên, cơn đau nhức nhối đang hành hạ trong đầu ông Tường bỗng chốc dịu xuống một cách thần kỳ.
Mặt ông Tường từ xám ngoét dần dần giãn ra, hai mắt ông lim dim nửa nhắm nửa mở, đầu ngoẹo sang một bên tựa hờ vào vách sập gụ. Bản mặt nhăn nhó, uy nghiêm của vị gia trưởng thường ngày phút chốc biến mất sạch sẽ, thay vào đó là một gương mặt đê mê, ngây dại và đầy vẻ thỏa mãn.
Ông Tường nằm tận hưởng tiếng đàn réo rắt, miệng lẩm bẩm trong cơn mơ màng:
"Hay... hát hay lắm... kéo tiếp đi... kéo nữa đi mình..."
Trong khi bà Ba vẫn say sưa kéo đàn, khóe môi đỏ thắm khẽ cong lên một nụ cười tươi, thì ở phía sau lưng ông Tường, đôi bàn tay gầy guộc của bà Tư vẫn đều đặn bóp đầu cho chồng.
Dưới mái ngói thâm nghiêm rêu phong ấy, quyền lực và phú quý hóa ra chỉ là những ảo ảnh lộng lẫy che đậy những linh hồn đã thối rữa từ bên trong. Càng giãy giụa tranh giành chút hư vinh, người ta lại càng tự tay thắt chặt thêm sợi dây thòng lọng quanh cổ mình. Để rồi đến cuối cùng, thứ họ đoạt được chẳng phải là hạnh phúc, mà chỉ là một nấm mồ gấm vóc lộng lẫy cho chính linh hồn mình mà thôi.