Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
(Tình trai) Ánh Ngọc Quyện Khói Sương.

CHƯƠNG 21: THUYỀN QUYÊN RẼ SÓNG TRÙNG DƯƠNG / TRẢ THẦY CHỮ NGHĨA ĐOẠN ĐƯỜNG PHÂN LY.

CHƯƠNG 21: THUYỀN QUYÊN RẼ SÓNG TRÙNG DƯƠNG / TRẢ THẦY CHỮ NGHĨA ĐOẠN ĐƯỜNG PHÂN LY. 

 

Từ dạo trời chuyển sang đông, không rõ vì cớ sự gì mà bệnh tình của cô Hai Lam Châu cứ ngày một trở nặng. Ban đầu chỉ là những cơn ho khan rả rích mỗi đêm, người lớn trong nhà cứ ngỡ con trẻ cảm gió thông thường, sắc vài thang thuốc bổ phế là khỏi. Nào ngờ, tiếng ho ấy mỗi lúc một dày thêm, kéo dài lê thê từ canh một đến tận canh ba, có đêm cô bé ho đến sặc sụa, cả người run lên bần bật, mồ hôi vã ra ướt đẫm gối chăn.

 

Bà vú già túc trực bên giường bệnh, đêm nào cũng phải thức trắng canh chừng, lòng như lửa đốt mà chẳng biết phải làm sao.

 

Đỉnh điểm là vào một sáng sương mù giăng kín sân gạch, khi Lam Châu đang cố gượng dậy súc miệng, cô bé bỗng lên một cơn ho dữ dội, cả người gập xuống, hai tay ôm chặt lấy ngực. Bà vú vội vàng chạy lại đỡ, thì chợt thấy một vệt đỏ tươi rịn ra nơi khóe môi con bé, nhỏ tong tong xuống vạt áo lụa trắng.

 

Máu.

 

Bà vú hoảng hồn, buông rơi cả chậu nước, giọng lạc hẳn đi, gào toáng lên gọi người:

 

"Ối giời ơi! Cô Hai... cô Hai thổ huyết rồi! Mau... mau đi mời thầy lang!"

 

Cả gian nhà ngang chớp mắt náo loạn cả lên. Lam Châu nằm bẹp trên giường, sắc mặt trắng bệch như tờ giấy bản, đôi môi tái nhợt run lên, đôi mắt vốn dĩ trong veo lanh lợi giờ đây lờ đờ, mệt mỏi nhìn trân trân lên trần nhà, hơi thở khò khè đứt quãng.

 

Ông Tường được tin dữ, vội vàng bỏ dở buổi tiếp khách ngoài phòng khách, tất tả chạy vào. Nhìn con gái nằm thoi thóp trên giường bệnh, khóe môi còn vương vệt máu chưa kịp lau sạch, lòng người cha bỗng chốc đau thắt lại, hai tay ông run lên bần bật.

 

Thầy lang giỏi nhất vùng được mời đến, bắt mạch hồi lâu, nét mặt cứ dần dần trầm xuống, cuối cùng thở dài lắc đầu:

 

"Bẩm ông lớn... bệnh tình của cô Hai đây không phải chuyện đơn giản. Mạch tượng suy nhược, sợ là chứng lao phổi đã ăn sâu vào bên trong từ lâu mà không ai hay biết. Tôi kê cho vài thang thuốc bổ phế, dưỡng âm, may ra cầm cự được phần nào, nhưng... về lâu về dài, e rằng thuốc thang trong xứ ta khó lòng trị dứt tận gốc được."

 

Câu nói của thầy lang như một nhát dao cứa thẳng vào lòng ông Tường. Ông đứng lặng người bên giường bệnh, nhìn đứa con gái bé bỏng đang thiêm thiếp ngủ vì kiệt sức, trong lòng ngổn ngang trăm mối lo âu.

 

Giữa lúc gia đạo đang chìm trong u ám vì bệnh tình của Lam Châu, thì việc làm ăn buôn bán của ông Tường ngoài phố lại bất ngờ khấm khá hẳn lên.

 

Mấy chuyến hàng vải vóc, lúa gạo chở đi các tỉnh đợt vừa rồi đều trót lọt, lời lãi kha khá. Cái tiệm buôn ngoài phố huyện của ông cũng nhờ đó mà đông khách hẳn, thương lái các nơi nghe tiếng lại tìm đến giao dịch, làm quen.

 

Trong số khách khứa lui tới, có một người khách thương tên Bá Vinh, quê gốc mạn Hải Phòng, chuyên buôn bán tơ lụa và có làm ăn qua lại với mấy hãng buôn của người Pháp. Ông Bá Vinh này tuổi tác xấp xỉ ông Tường, dáng người phong lưu, ăn nói lịch thiệp, lại rất sành sỏi chuyện đời. Hai người vốn đã quen biết nhau từ vài năm trước qua vài chuyến áp tải hàng, dần dà lại trở nên thân thiết, coi nhau như tri kỷ mỗi khi có dịp gặp gỡ, trà rượu hàn huyên.

 

Ông Bá Vinh vốn dĩ đã góa vợ từ lâu, trong nhà chỉ có độc một cô con gái tên Bá Ánh Nguyệt, năm nay đã mười sáu tuổi, hơn Lam Châu hai tuổi, sàn sàn tuổi với Lam Điền. Nghe đâu vì thương con gái độc nhất, ông Bá Vinh không quản tốn kém, cho con theo học chữ Pháp, chữ Quốc Ngữ từ bé, tính cách cô Ánh Nguyệt vì thế cũng phóng khoáng, cởi mở hơn hẳn đám trẻ giàu có cùng trang lứa trong vùng.

 

Một buổi chiều, ông Tường mời ông Bá Vinh về nhà dùng cơm để bàn thêm chuyện làm ăn. Trong bữa rượu, thấy vẻ mặt bạn mình cứ trầm ngâm, u uất khác hẳn ngày thường, ông Bá Vinh bèn gạn hỏi. Ông Tường thở dài, đem chuyện bệnh tình của Lam Châu ra kể, giọng nói không giấu nổi vẻ bất lực, xót xa.

 

Nghe xong, ông Bá Vinh trầm ngâm hồi lâu, rồi chậm rãi lên tiếng:

 

"Bệnh phổi này, thuốc Đông y ta tuy có thể cầm cự, dưỡng bệnh, nhưng nói thật với ông, khó lòng trị dứt gốc được. Tôi có quen biết vài người bạn làm ăn bên Pháp, trong đó có cả nhiều bác sĩ giỏi chuyên trị bệnh phổi, y thuật rất tốt. Hay là... ông cho cháu Châu sang bên đó một chuyến, vừa chữa bệnh, vừa nhân tiện học hỏi thêm văn hóa, chữ nghĩa phương Tây, biết đâu lại mở mang được tầm mắt, có ích cho đời sau này?"

 

Ông Tường nghe vậy, trong lòng vừa mừng vừa lo. Mừng vì thấy còn một tia hy vọng cứu chữa cho con gái, nhưng lại lo lắng đường sá xa xôi vạn dặm, một thân con gái nhỏ tuổi lại mang bệnh trong người, biết có chịu đựng nổi hay không.

 

Thấy ông Tường còn do dự, bà Tư đang ngồi hầu rượu bên cạnh khẽ lên tiếng, giọng nói nhỏ nhẹ nhưng lại có sức nặng lạ thường:

 

"Mình à, em nghĩ... con Châu số mệnh vốn dĩ mỏng manh từ nhỏ, lại nhằm đúng vào cái vận hạn xung khắc năm nay. Hay là mình cho cháu đi xa một chuyến, vừa để tránh vận rủi, vừa chữa bệnh, biết đâu lại hợp mệnh, tai qua nạn khỏi."

 

Câu nói ấy như gãi đúng chỗ ngứa trong lòng ông Tường. Vốn dĩ ông cũng là người tin vào chuyện phong thủy, số mệnh, nghe bà Tư nói vậy lại càng thêm phần tin tưởng, gật đầu lia lịa.

 

Ông Bá Vinh thấy bạn mình đã có ý xuôi, bèn nói thêm vào:

 

"Ông yên tâm, con Ánh Nguyệt nhà tôi cũng đang chuẩn bị sang bên đó học thêm ít năm nữa. Có nó đi cùng, chăm sóc, làm bạn với cháu Châu dọc đường cũng đỡ tủi thân, ông khỏi phải lo lắng nhiều."

 

Ông Tường nghe vậy thì yên tâm phần nào, nhưng lòng vẫn còn chút vướng bận. Một cô con gái nhỏ tuổi, lại đang mang bệnh trong người, đi xa vạn dặm không có người thân thích bên cạnh, dẫu có bạn bè đi cùng cũng khó tránh khỏi những lúc trái gió trở trời, ốm đau bất trắc.

 

Đêm hôm đó, sau khi tiễn khách về, ông Tường ngồi trầm ngâm mãi trong phòng, ánh đèn dầu hắt lên gương mặt đầy nếp nhăn lo âu. Ông cho gọi Lam Điền đến.

 

Cậu Cả bước vào, thấy cha mình ngồi thẫn thờ bên án thư, trong lòng không khỏi thắc mắc. Ông Tường nhìn con trai một lúc lâu, rồi mới chậm rãi lên tiếng, giọng nói mang theo vẻ nặng nề hiếm thấy:

 

"Mày ... có biết chuyện em Châu sắp phải sang Tây chữa bệnh không?"

 

Lam Điền gật đầu, trả lời cộc lốc, nét mặt cũng trở nên nghiêm túc:

 

"Tôi có nghe qua rồi."

 

Ông Tường tuy khó chịu với cái giọng điệu này của cậu, nhưng đành bất lực bởi hiện tại còn có chuyện đang cần nhờ vả. Ông thở dài một hơi thật dài, đôi mắt nhìn xa xăm ra khoảng sân tối:

 

"Em mày tuổi còn nhỏ, bệnh tật lại nặng, một thân một mình sang xứ người xa lạ, tao thực sự không yên lòng chút nào. Thầy tướng số từng phán mày là con trưởng, mệnh cách vượng, có thể gánh đỡ phần nào vận hạn, tai ương cho các em trong nhà..."

 

Ông ngừng lại một chút, ánh mắt nhìn thẳng vào con trai, giọng nói vừa mang tính dò hỏi, vừa như đã sẵn quyết định:

 

"Tao muốn mày... theo em Châu sang bên đó một chuyến. Một là để chăm sóc, bầu bạn cho em con đỡ tủi thân nơi đất khách quê người lúc ốm đau bệnh tật. Ở đó, nhà họ Trần vẫn sẽ lo cho mày chu toàn, ăn ở học hành đều không cần nói đến."

 

Nghe những lời đầy toan tính thốt ra từ miệng người cha ruột thịt, khóe môi Lam Điền khẽ nhếch lên. Dưới ánh đèn dầu tù mù lắt lay, một nụ cười trào phúng hiện rõ trên gương mặt còn non nớt.

 

Cậu Cả ngước đôi mắt đen láy, sâu thẳm hệt như mặt nước hồ súng đêm đông nhìn thẳng vào ông Tường. Cậu khẽ hếch giọng, thanh âm mang theo sự mỉa mai:

 

"Cha nghĩ... những gì hiện tại cha nói, tôi còn nghe lọt tai chữ nào sao? Tôi chưa quậy banh cái phủ này lên đã là may lắm rồi, giờ cha còn muốn tôi đi theo ý cha?"

 

Rầm!

 

Ông Tường tức giận đập mạnh tay xuống bàn, làm nghiên mực bằng ngọc bích nảy lên bần bật. Lão trừng mắt, gân xanh nổi hằn trên trán:

 

"Thằng nghịch tử! Mày ăn lụa mặc gấm của họ Trần, uống nước mười mấy năm ở cái đất này, nay em mày thập tử nhất sinh, mày còn dở cái giọng đó ra à? Cốt nhục tình thâm, đạo làm anh bảo mày trơ mắt ếch ra nhìn em mày chết hay sao?”

 

Lam Điền không hề chớp mắt, cũng chẳng hề run sợ trước cơn thịnh nộ của cha. Cậu chậm rãi đứng thẳng người dậy, vạt áo rũ xuống phẳng phiu, dứt khoát đáp:

 

"Được thôi. Nếu cha đã muốn tôi đi, thì tôi đi. Nhưng... tôi có một điều kiện."

 

Ông Tường nheo mắt, ánh nhìn đầy dò xét xoáy vào đứa con trai bỗng dưng trở nên gai góc, khó dò. Lão gằn giọng:

 

"Nói đi!"

 

Lam Điền hít một hơi thật sâu. Không khí lạnh buốt của đêm đông tràn vào lồng ngực, buốt đến tận tâm can. Cậu rành rọt thốt lên từng chữ:

 

"Tôi muốn làm lễ giải trừ quan hệ thầy trò với thầy Vũ. Từ nay, thầy ấy không còn là thầy của tôi nữa."

 

Nghe đến đây, đôi lông mày rậm của ông Tường lập tức nhíu chặt lại thành một đường thẳng.

 

Sống ở cái thời buổi giao thời này, dẫu chữ Tây có bắt đầu tràn vào, nhưng cái nếp Nho giáo ngàn năm vẫn ăn sâu bén rễ. Đạo lý "Quân - Sư - Phụ", vị trí của người thầy có khi còn được đặt trang trọng đứng trên cả người cha ruột. Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy. Trò mà tự ý chối bỏ thầy chẳng khác nào phường phường vô ơn bạc nghĩa, bị cả xã hội nhổ nước bọt khinh khi.

 

Ông Tường hừ lạnh một tiếng, vung tay hất văng chung trà cạn trên bàn xuống đất. Tiếng sứ vỡ loảng xoảng vỡ nát giữa đêm đông tĩnh mịch, lão cất giọng oang oang đầy thị uy:

 

"Mày hồ đồ! Đạo làm người, 'Quân - Sư - Phụ' rành rành ra đó. Nhà họ Trần này dẫu có mạt vận cũng không thể dung túng cho cái thói phản thầy bạt nghĩa để thiên hạ nhổ nước bọt bêu rếu được!"

 

Lão nheo đôi mắt ranh mãnh, gằn từng chữ rành rọt:

 

"Xưa nay, muốn cắt đứt ân tình đạo lý này, quy củ chỉ hiếm khi cho phép. Một, là học trò đã học hết chữ của thầy, tự thấy mình đủ lông đủ cánh để xuất sư. Hai, là người thầy phạm tội tày đình, bại hoại luân thường. Ba, là học trò phản nghịch, bị chính tay người thầy ruồng bỏ, trục xuất khỏi sư môn."

 

Ông Tường bước tới một bước, áp sát Lam Điền, ánh mắt sắc lẹm đầy trào phúng lướt qua gương mặt nhợt nhạt của cậu Cả. Lão cười khẩy:

 

"Thế nào? Thầy Vũ xưa nay thanh cao đức độ, tội tày đình chắc chắn là không có. Mày không muốn chịu cái tiếng nhơ phản nghịch bị trục xuất, vậy... mày cảm thấy mày học cạn chữ thầy rồi?"

 

Câu hỏi vút lên sắc lẹm như dao, mang theo cả sự khinh miệt của một người cha vốn chưa từng đánh giá cao năng lực của cậu.

Lam Điền đứng lặng như tượng. Gió bấc thốc qua khe cửa gõ lạch cạch, thổi tung vạt áo của cậu. Sâu trong đáy mắt đen láy ấy dường như có hàng vạn lớp sóng ngầm đang cuộn trào, nhưng rồi lại nhanh chóng bị đè nén xuống thành một mặt hồ tĩnh lặng.

 

“Dẫu sao sang Tây cũng học thứ mới, tiếp thu văn minh mới của người ta..." Lam Điền khẽ ngước mắt, giọng nói bình thản đến lạ lùng: "Chữ nghĩa thánh hiền của thầy Vũ, dẫu học chưa cạn, nhưng sang bên kia đại dương rồi cũng chẳng còn dùng tới được nữa. Chi bằng giải trừ sớm một ngày, để thầy rảnh rang nhận học trò khác xứng đáng hơn, không phải bận lòng vì đứa học trò viễn xứ này nữa."

 

Ông Tường ngẩn người ra một thoáng trước lý lẽ sắc bén và thái độ dứt khoát của con trai. Lão khẽ hừ một tiếng trong cổ họng, thu lại nét mặt giận dữ, phẩy tay áo gằn giọng:

 

"Được! Đã thế thì mày tự vác mặt đi mà hỏi ý thầy Vũ thì hơn. Nếu thầy ấy tự miệng gật đầu đồng ý, thì ngày mai tao lập tức cho người biện lễ, cúng cáo gia tiên để giải trừ!"

 

Bóng ông Tường khuất dần sau dãy hành lang tối mịt. Trong phòng, chỉ còn lại ngọn đèn dầu lắt lay chực tắt, soi rõ cái bóng đơn độc của Lam Điền in dài trên vách tường loang lổ.

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px