CHƯƠNG 25: KHÓI NHANG VƯƠNG MỐI CHƯA TƯỜNG / NGƯỜI ĐI ĐỂ LẠI NHỚ THƯƠNG KHÔNG LỜI.
CHƯƠNG 25: KHÓI NHANG VƯƠNG MỐI CHƯA TƯỜNG / NGƯỜI ĐI ĐỂ LẠI NHỚ THƯƠNG KHÔNG LỜI.
Từ ngày chiếc xe hơi nổ máy rời khỏi cổng, nhà họ Trần tự dưng vắng lặng hẳn. Cậu Cả đi rồi, trong nhà chẳng còn ai hay cãi ngang để ông Tường lôi ra làm chỗ trút giận nữa. Đáng lẽ nhà cửa phải êm ấm hơn, nhưng chẳng hiểu sao dạo này ông Tường lại hay cáu gắt, nóng nảy lạ lùng.
Có hôm ông giam mình trong buồng cả buổi, lúc bước ra hai mắt đã đỏ sọc. Chỉ một tiếng vỡ của cái chén đất, hay bà vú lỡ tay pha thau nước tắm hơi nguội, cũng đủ làm ông quát tháo ầm ĩ. Tiếng mắng chửi, tiếng roi mây quất xuống chiếu bôm bốp, xen lẫn tiếng khóc van xin của đám người ở thỉnh thoảng lại vọng ra, làm cả nhà lúc nào cũng nơm nớp sợ hãi.
Thế nhưng, trái ngược với ông Tường, phía nhà trong của các bà vợ lại êm ắng hơn hẳn. Chẳng còn tiếng đá thúng đụng nia, bởi người hay châm ngòi là bà Hai giờ đang bị nhốt kỹ trong buồng. Sau vụ việc vỡ lở, dù sau này ông có nới lỏng cho ra ngoài, cái uy của người làm mẹ cũng đã gãy rạp, chẳng còn ra oai hay bắt nạt được ai nữa. Bà Tư thì vẫn đều đều lần chuỗi hạt, hiền lành đứng ra trông coi sổ sách đâu vào đấy. Còn bà Ba cứ đủng đỉnh tỉa hoa, uống trà, xem chuyện lộn xộn trong nhà như gió thoảng qua tai.
Riêng Yên Vũ vẫn làm một thầy dạy chữ nhỏ yên phận. Sáng dạy học, chiều chép sách. Chuyện đòn roi hay lời qua tiếng lại của nhà chủ, chàng cứ giữ mắt điếc tai ngơ, chẳng mảy may để bụng.
Cho đến một buổi sáng sương mù còn chưa tan hết.
Cậu Ba Lam Thế ôm xấp giấy khép nép bước vào hiên. Đứa nhỏ cúi khoanh tay chào thầy, rồi vội vàng ngồi xuống chiếu hoa chuẩn bị mài mực viết chữ. Nhưng lúc cậu vừa bước qua, vạt áo quạt nhẹ một cái, mang theo một mùi hăng hắc xộc thẳng vào mũi Yên Vũ.
Đó không phải mùi nhang trầm quen thuộc hay vỏ bưởi. Nó ngai ngái, nồng nồng, lại ngòn ngọt.
Bàn tay đang lật sách của Yên Vũ hơi khựng lại. Chàng tuy không thạo nghề thuốc, nhưng ngày trước đi dạy học nay đây mai đó, cũng từng qua lại vài nhà quan lớn, nên thứ mùi này... chàng cũng loáng thoáng nhận ra. Nó không giống lá thuốc nam để tẩm bổ. Thế nhưng, ngay lúc này chàng lại chẳng thể nhớ ra ngay đây rốt cuộc là mùi gì. Yên Vũ khẽ chớp mắt, chậm rãi đặt cuốn sách xuống mặt bàn gỗ, vờ hỏi một câu bâng quơ với giọng nhẹ tênh:
"Cậu Ba... ban nãy cậu chạy đi đâu... mà trên người lại lây cái mùi thuốc gì nồng quá vậy?"
Lam Thế đang hì hục mài mực, nghe thầy hỏi liền ngẩng đầu lên, thật thà thưa:
"À, ban nãy con chạy sang buồng chị Châu tìm mấy cuốn tập... chắc vô tình dính phải ạ."
Thấy thầy Vũ hơi nhíu mày, đứa nhỏ chép miệng kể thêm:
"Buồng chị Châu dạo này để không, dì Tư sai mấy bà vú mang bếp lò sang đó, rồi đóng chặt cửa lại để sắc thuốc riêng cho cha. Lúc con lén đẩy cửa vào, thấy niêu thuốc đang sôi lục bục, khói xông đặc cả buồng nên áo mới bị ám mùi đấy ạ."
Khóe mắt Yên Vũ khẽ giật một cái, nhưng nét mặt vẫn êm ru như mặt nước.
Buồng của cô Châu đã trống, lại được bà Tư dùng để sắc thuốc riêng cho ông lớn? Yên Vũ khẽ chớp mắt, dời ánh nhìn ra rặng nhãn ngoài cửa sổ. Chuyện nhà họ Trần vốn chằng chịt như dây mây trong rừng, người ngoài như chàng lỡ tay va vào chỉ thêm phiền lụy.
Chàng nhẹ nhàng giở lại trang sách đang đọc dở, gạt chút tò mò vừa chực dâng lên xuống đáy mắt, giọng điệu lại trở về vẻ thong dong, bình thản thường ngày:
"Ừm, ra là vậy. Bên ấy sắc thuốc khói om nghi ngút, lần sau qua tìm đồ con nhớ cẩn thận củi lửa, kẻo lại ám mùi rồi sặc."
"Vâng ạ, con biết rồi." Lam Thế ngoan ngoãn gật đầu, tay vẫn hì hục mài nghiên mực đen bóng cho thật sánh.
Yên Vũ mỉm cười nhạt, cầm lấy cây bút lông gạt nhẹ trên thành nghiên, vệt mực đen đượm bám đều trên đầu lông:
"Được rồi, mài mực xong rồi thì ngồi thẳng lưng lên. Hôm nay ta học tiếp bài cũ, con đọc lại đoạn chữ hôm qua xem đã thuộc chưa."
Tiếng đọc bài râm ran của đứa trẻ lại vang lên đều đều. Làn sương đông ngoài sân vẫn đùng đục quấn lấy những hàng gạch Bát Tràng ẩm ướt. Mọi thứ trong phủ lại trở về vẻ êm đềm vốn có của nó, như thể thứ mùi lạ vương trên vạt áo cậu Ba ban nãy chỉ là một cơn gió thoảng qua, chẳng hề để lại chút gợn sóng nào trên mặt hồ tĩnh lặng.
Mãi cho đến tận một ngày nọ, bức màn mù mịt che giấu nguyên do đằng sau những cơn lôi đình, cáu gắt vô cớ của ông Tường suốt thời gian qua mới được hé lộ.
Hôm ấy, phủ họ Trần đột ngột sửa soạn cỗ bàn. Ông quản gia sang gian phòng riêng, cung kính mời thầy Vũ lên nhà lớn dự lễ, cốt yếu là để nhờ tay chữ đẹp của thầy viết tờ giấy khấn và nắn nót lại tên tuổi người đã khuất lên tấm bài gỗ thờ mới.
Trên đường đi theo ông quản gia, Yên Vũ trong lòng không khỏi có chút ngạc nhiên. Theo như những gì chàng biết trong suốt thời gian tá túc dạy học ở đây, ngoài người vợ cả đã mất từ lâu, nhà họ Trần đâu còn ai lớn tuổi mất? Hơn nữa, bầu không khí giỗ chạp trong phủ hôm nay kỳ lạ lắm. Nó không mang cái vẻ thành kính hay ngùi ngùi xót thương thường thấy, mà lại bao trùm một sự căng thẳng, ngột ngạt đến nghẹt thở. Đám người hầu bưng bê mâm bát đi lại rón rén, mặt mày tái mét như sợ chỉ lỡ thở mạnh một cái cũng đủ bị nọc ra đánh gãy chân.
Bước qua bực cửa gian nhà chính, khói hương trầm tỏa ra nghi ngút nhưng không giấu nổi sắc mặt đen như đáy nồi của ông Tường. Lão ngồi chễm chệ trên sập gụ, tay mân mê hai hòn óc chó, hàm răng thi thoảng lại nghiến vào nhau trèo trẹo. Các bà vợ cũng biết ý, không ai dám ho he nửa lời. Bà Hai sưng húp mắt ngồi thu lu một góc, bà Tư im lìm lần chuỗi hạt nhịp độ nhanh hơn thường ngày, còn bà Ba thì khẽ cúi gằm mặt, giấu đi ánh nhìn sâu xa dưới hàng mi dài.
Yên Vũ chắp tay vái chào ông lớn, rồi điềm tĩnh ngồi xuống trước chiếc bàn trà nhỏ đã bày sẵn giấy, bút lông và nghiên mực đang mài dở. Chàng vuốt phẳng nếp giấy, nhúng mực, rồi ngước lên chờ đợi.
Ông Tường hắng giọng một tiếng ồm ồm, chòm râu dê run lên, giọng điệu khô khốc, gằn từng chữ như thể phải nhổ ra một cái gai đang hóc trong cổ họng:
"Thầy Vũ, thầy nắn nót viết cho tôi mấy chữ. Tên cúng cơm là... Lam Thường."
Đầu bút của Yên Vũ khẽ chạm xuống mặt giấy, nét mực đen nhánh uyển chuyển đưa lượn. Đến lúc này, câu trả lời cho sự ngột ngạt bao trùm cả phủ mấy ngày qua rốt cuộc cũng tỏ tường.
Hóa ra, hôm nay là ngày giỗ của ông Lam Thường, em trai ruột thịt cùng cha cùng mẹ với ông Lam Tường.
Trong những câu chuyện phiếm nát vụn của đám vú già mà Yên Vũ đôi lần loáng thoáng nghe được, người em trai này vốn mang một thân phận vô cùng nhạy cảm. Quá khứ của ông Thường dường như là một vết sẹo cấm kỵ, một điều xấu hổ đối với cái nếp nhà vốn luôn rao giảng sự mẫu mực, nề nếp của họ Trần. Thế nên, ông Tường cực kỳ chán ghét người em trai này, ghét đến mức bao nhiêu năm qua không ai trong phủ dám mấp máy hai chữ "Lam Thường" trên môi.
Thế nhưng, luật lệ dòng họ ngàn đời vẫn vậy, anh em máu mủ dẫu có từ mặt nhau khi sống, thì lúc khuất núi, phận làm anh trưởng đứng đầu nhà vẫn phải cắn răng bày mâm cỗ cúng giỗ cho trọn đạo với tổ tiên.
Bởi vậy, cứ mỗi năm gần đến ngày giỗ của người em trai nhạy cảm ấy, trong lòng ông Tường lại như có lửa đốt. Cơn uất ức, bực dọc không có chỗ xả, thành ra lão mượn cớ mắng chửi, trút đòn roi lên đầu đám người ở trong nhà để vơi đi cái hậm hực.
Yên Vũ bình thản hạ bút hoàn thành nét chữ cuối cùng, thổi nhẹ cho ráo mực. Chàng lặng lẽ dâng tờ giấy khấn lên, khóe mắt khẽ lướt qua vẻ mặt chán chường, bực dọc của ông lớn họ Trần, trong lòng thầm thở dài.
Lễ cúng diễn ra trong một bầu không khí nặng nề khác thường. Gian nhà lớn hôm nay bày biện đủ mâm cao cỗ đầy gồm: xôi gấc đỏ au, gà luộc vàng ươm buộc chéo cánh, đĩa trầu cau têm cánh phượng, be rượu trắng đặt ngay ngắn trước bát hương,... nhưng chẳng ai trong phủ có lấy một chút háo hức của ngày giỗ chạp thường thấy. Khói hương trầm quyện với hơi sương lạnh lẽo còn sót lại từ ngoài sân, bò là là trên mặt đất, phủ một lớp mờ đục lên khắp gian thờ.
Ông Tường đứng trước hương án, tự tay thắp ba nén nhang, bàn tay cầm nhang khẽ run lên không rõ vì lạnh hay vì nỗi lòng dồn nén. Dạo gần đây, thân hình vốn dong dỏng cao, vẫn có da có thịt ngày trước của ông bỗng dưng gầy rộc hẳn đi, gò má hóp lại, hai hốc mắt thâm quầng như thiếu ngủ triền miên. Chiếc áo gấm ông khoác lên người rộng thùng thình hẳn ra so với dạo trước, cứ như thể mượn áo của ai khác mà mặc tạm vậy.
Đám hầu đứng lấp ló ngoài hiên, chẳng ai bảo ai đều cúi gằm đầu, không dám hó hé, chỉ có tiếng lầm rầm khấn vái của ông thầy cúng được mời từ làng bên vang lên đều đều, hòa lẫn với tiếng mõ gõ cốc cốc buồn tẻ.
Đến lúc rót rượu, tay ông Tường bỗng khẽ khựng lại giữa chừng, giọt rượu trắng sóng sánh trong chén sứ run rẩy chực trào ra ngoài. Lão đứng lặng người một lúc lâu trước bài vị mới, ánh mắt đục ngầu nhìn chằm chằm vào hai chữ vừa được Yên Vũ viết lên, không ai đoán được trong đầu lão lúc này đang cuộn lên những gì. Mãi một lúc sau, lão mới hắng giọng, giọng nói khàn đặc hẳn đi so với mọi ngày, ra lệnh cho lễ tiếp tục.
Buổi lễ kết thúc gọn lẹ hơn người ta tưởng, chẳng có tiếng khóc than kể lể như những đám giỗ bình thường, chỉ có một sự im lặng nặng trịch bao trùm khắp gian nhà lớn. Mãi cho đến khi ông Tường phất tay ra hiệu lui lễ, mọi người mới như trút được gánh nặng, lặng lẽ giải tán, mỗi người một hướng.
Yên Vũ thu dọn bút nghiên, chào ông lớn rồi từ tốn rời khỏi gian nhà chính, bước ra khoảng sân ngoài. Sương buổi sớm giờ đã tan bớt, chỉ còn giăng nhè nhẹ trên mặt hồ súng, nơi mấy đóa hoa tím phơn phớt còn e ấp khép cánh trong cái lạnh đầu mùa.
Chàng dừng chân bên bờ hồ, đứng lặng nhìn mặt nước phẳng lặng, thỉnh thoảng gợn lên vài vòng sóng nhỏ khi một chiếc lá khô rơi xuống. Không khí tang tóc, u uất còn vương lại trong lòng chàng từ buổi lễ ban nãy, cứ đè nặng lên ngực.
Rồi chẳng hiểu vì sao, giữa những suy nghĩ ngổn ngang, hình bóng thiếu niên với tà áo phẳng phiu, đôi mắt sáng chẳng chịu khuất phục trước uy quyền của cha mình, lại chợt hiện lên rõ mồn một trong tâm trí chàng.
Không biết bây giờ ở nơi xứ người, thiếu niên đó đang làm gì và sống như thế nào rồi?
Chàng nhớ tới cái vẻ ngây ngốc, hai tai đỏ gay của Lam Điền dưới mái hiên đêm hôm ấy. Nhớ cái dáng vẻ lí nhí chữa ngượng, rồi lại mừng rỡ như đứa trẻ vừa được người lớn dỗ dành.
"Anh... anh hứa rồi đấy nhé."
Tiếng "anh" gượng gạo, ngập ngừng mà tràn đầy si mê ấy dường như vẫn còn lẩn quất đâu đây, quyện vào tiếng gió của buổi chiều.
"Thầy Vũ đứng đây ngắm cá đấy à?"
Một giọng nói thong thả, đượm chút giễu cợt đột ngột vang lên từ phía bờ hồ bên kia, đúng lúc chàng thất thần không để ý có người đang đi tới.
Yên Vũ giật mình ngước mắt lên, thấy bà Ba đang đủng đỉnh bước tới. Bà khoác chiếc áo trần bông màu mận chín, tay cầm chiếc quạt trầm khẽ xòe ra che nửa mặt, ánh mắt không nhìn Yên Vũ mà liếc về phía gian nhà chính. Đó là nơi khói nhang cúng ông Lam Thường vẫn còn nghi ngút tỏa ra qua ô cửa vách.
Chàng nhanh chóng thu lại chút xao động trong mắt, chắp tay cúi đầu chào theo đúng lễ:
"Bẩm bà Ba. Tôi vừa xong việc chữ nghĩa trên nhà, ra đây đứng hóng chút gió cho thoáng đầu óc."
Bà Ba dừng lại sát mép ao đối diện Yên Vũ, khóe môi nhếch lên một nụ cười nhàn nhạt, giọng nói đều đều như đang trò chuyện với khoảng không:
"Hóng gió sao? Cái gió ở cái nhà này độc lắm, hóng nhiều chỉ e sinh bệnh. Thầy xem, người sống trong nhà thì mặt mày lúc nào cũng hầm hầm như đốm lửa, người chết thì cứ đến hẹn lại về đòi mâm cỗ. Đến cả cái hồ này..." Bà giơ chiếc quạt chỉ xuống mặt nước đục ngầu:"...nhìn qua thì phẳng lặng như gương, nhưng dưới đáy toàn bùn thối với rễ bèo đan chặt lấy nhau. Ai lỡ sẩy chân rớt xuống, có muốn ngoi lên cũng chẳng được."
Yên Vũ im lặng, không đáp lời. Chàng hiểu người phụ nữ này tuyệt đối không phải loại người rỗi hơi đi dạo mát để nói chuyện phiếm với một ông thầy đồ không liên quan như mình.
Bà Ba lượn ánh mắt sắc lẹm qua gương mặt điềm tĩnh của Yên Vũ, rồi khẽ buông một tiếng thở dài nhè nhẹ qua làn môi thoa son môi xí muội:
"Thằng Điền với con Châu đi đợt này... kể ra cũng là cái số may. Ít ra ra ngoài đó, chúng nó còn thở được cái không khí sạch sẽ."
Nói xong câu ấy, bà Ba chẳng chờ Yên Vũ trả lời, quay gót thong thả đi về phía dãy nhà trong. Dải lụa sau lưng bà đung đưa theo từng bước chân, để lại chàng đứng một mình giữa cái lạnh của buổi chiều muộn.
Yên Vũ đứng lặng người hồi lâu, không biết nên suy nghĩ thế nào cho phải.