Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
TỨ PHỦ TRỪ MA LỤC

Cơ duyên gặp gỡ

Tôi gặp nó vào một ngày mưa.

Đó là một ngày mưa rất dai. Không phải kiểu mưa ào xuống một trận rồi thôi, mà là thứ mưa phùn lẫn nước lạnh cứ rả rích từ sáng đến tối, đủ để người ta cảm thấy cả đất trời như đang ngâm mình trong một chậu nước khổng lồ.

Năm ấy tôi chín tuổi. Tôi không còn nhớ mình đã đi bao lâu, chỉ nhớ đôi guốc đã mất từ lúc nào, hai bàn chân lấm đầy bùn, áo quần ướt sũng dính sát vào người. Cái lạnh len từ ngoài da vào tận xương tôi đói đến mức lúc ấy nếu có ai bảo một nắm đất có thể ăn được, có lẽ tôi cũng sẽ cân nhắc.

Nhà tôi không còn nữa cha mẹ tôi không còn nữa những người từng gọi tôi bằng cái tên Trần Phong cũng chẳng còn ai.

Tôi khi ấy chưa hiểu chuyện gì đã xảy ra, người lớn nói với nhau bằng những câu nửa kín nửa hở, có người bảo nhà tôi gặp họa, có người nói đụng phải thứ không nên đụng, lại có người nhắc đến một cái tên mà sau này tôi mới biết là Nghịch Thiên Giáo.

Còn lúc đó, tôi chỉ biết một điều, tôi không còn nhà để về, tôi đi mãi cho đến khi nhìn thấy một mái ngói cũ nằm khuất sau những thân cây.

Ngôi chùa không lớn, cổng gỗ đã bạc màu, mái ngói phủ rêu, phía trước có một cây đa già đến mức rễ đã trồi lên khỏi mặt đất như những ngón tay khổng lồ.

Tôi đứng dưới mái hiên, nước từ tóc nhỏ xuống từng giọt, lúc ấy tôi nhìn thấy một thằng mặt búng ra chữ, cái nét toát ra vẻ thư sinh, và uyên bác của nó làm tôi khá chú ý.

Nó ngồi bó gối bên một cây cột, trên tay là một quyển sách cũ đã sờn gáy, áo nó cũng cũ chẳng kém gì áo tôi, nhưng ít nhất còn khô, nó đọc rất chăm chú, thỉnh thoảng dùng ngón tay lần theo từng dòng chữ, tôi nhìn nó một lúc rồi hỏi:

  • “Có ăn được không?”

Nó ngẩng đầu, nhìn tôi Rồi nhìn quyển sách trong tay.

  • “Không.”

Tôi hơi thất vọng.

  • “Không ăn được à?”

  • “Ừ.”

  • “Thế đọc làm gì?”

Nó im lặng một lúc, như thể đang cân nhắc xem tôi có phải một đứa ngốc thật hay chỉ đang đói quá nên đầu óc có vấn đề, cuối cùng nó đáp:

  • “Vì sách không chạy mất.”

Tôi không hiểu, sau này tôi mới biết đó là cách nói của nó. Nó luôn có thể nói một câu nghe rất bình thường, nhưng phải đến vài năm sau người khác mới nhận ra câu ấy chẳng bình thường chút nào, tôi ngồi xuống bên cạnh nó.

  • Tên gì?

  • Long! một tiếng đáp rất lạnh lùng rồi nó lại cắm mặt vào quyển sách.

Một lúc sau, bụng tôi kêu, rất to, Long nhìn tôi, nhìn cái bụng tôi rồi nhìn ra sân.

  • “Đợi.”

Nó đặt quyển sách xuống, chạy vào phía sau chùa, một lúc sau nó mang ra một củ khoai lang luộc đã nguội, nó đưa cho tôi, tôi nhận lấy.

  • “Còn mày?”

  • “Còn.”

  • “Nhiều không?”

  • “Nửa củ.”

Tôi nhìn củ khoai trong tay rồi nhìn Long.

  • “Thế sao cho tao?”

Nó nhún vai.

  • “Vì mày đói hơn.”

Tôi không nói gì nữa cắm cúi vào ăn vì đang rất đói Còn Long ngồi bên cạnh, tiếp tục đọc sách.

Đó là lần đầu tiên tôi gặp người anh em đã đi cùng mình gần như cả quãng đời sau đó.

Nếu phải nói về Long lúc ấy, tôi chỉ có thể nói nó là một đứa trẻ kỳ quặc nhưng nếu nói chính xác hơn, nó là một đứa trẻ biết quá nhiều thứ không cần thiết.

Nó biết chữ từ rất sớm biết đọc sách cổ, biết vài câu chữ Hán, biết phân biệt những loại cây mọc trong rừng, biết cây nào có thể nấu thành thuốc, cây nào đụng vào sẽ ngứa, cây nào có thể dùng để cầm máu.

Nó còn biết xem sao, biết hướng Đông Tây. Biết tên những vùng đất mà cả hai đứa chúng tôi còn chưa từng đặt chân đến, có lần tôi hỏi:

  • “Mày biết nhiều thế để làm gì?”

Long đáp:

  • “Để biết.”

  • “Biết rồi làm gì?”

  • “Nếu biết rồi mà vẫn hỏi câu ấy thì biết để làm gì?”

Tôi suy nghĩ rất lâu. Cãi nhau với Long thường khiến người ta đói nhanh hơn.

Ngôi chùa ấy có một ông lão. Tôi gọi ông là thầy. Long cũng gọi ông là thầy. Nhưng ngày đầu tiên gặp chúng tôi, thầy chẳng hỏi chúng tôi là ai, ông chỉ nhìn hai đứa một lúc lâu, rồi hỏi:

  • “Ăn chưa?”

Tôi đáp ngay:

  • “Chưa.”

Long và thầy cùng nhìn tôi sau đó ông quay vào trong.

  • “Vậy thì vào ăn.”

Thế là chúng tôi ở lại đơn giản đến mức sau này nghĩ lại tôi vẫn thấy lạ.

Không giấy tờ. Không hỏi quê quán. Không hỏi cha mẹ. Không hỏi vì sao hai đứa trẻ lại lang thang đến tận ngôi chùa hẻo lánh giữa rừng chỉ có một điều kiện, ở lại thì phải làm việc.

Quét sân, gánh nước, chẻ củi, nhổ cỏ, lợp mái, dọn bàn thờ.

Tôi từng nghi ngờ mình đã tìm nhầm chùa, người ta đi tu để học đạo, còn tôi vào đây hình như để học nghề phu hồ, Long thì không phàn nàn nó làm việc xong lại chui vào kho sách. Có hôm tôi vừa chẻ củi xong, người mỏi nhừ, nhìn sang thấy nó đang ngồi đọc dưới gốc cây, tôi hỏi:

  • “Long.”

  • “Hử?”

  • “Mày có thấy bất công không?”

  • “Có.”

  • “Thế sao không nói?”

  • “Nói với ai?”

  • “Tao.”

  • “Nói với mày thì có thay đổi được gì không?”

  • “...Không.”

  • “Vậy nói làm gì?”

Tôi nhìn nó, nó cúi xuống đọc tiếp, từ ngày đó tôi bắt đầu hiểu một điều. Long không phải người ít nói. Nó chỉ không thích nói những thứ mà nó cho là vô ích. Nhưng những lúc cần nói, nó có thể nói rất nhiều.

Nó đọc tất cả những gì tìm được trong chùa, sách thuốc, sách địa lý, sách lịch sử, những tập ghi chép cũ về lễ nghi, những mảnh giấy vàng đã ố màu, những cuốn sách mà tôi nhìn vào chỉ thấy toàn những nét ngoằn ngoèo như giun bò Long thì đọc được, có những đêm nó ngồi dưới ánh đèn dầu, vừa đọc vừa chép lại những câu chú, tôi hỏi:

  • “Đọc mấy thứ này làm gì?”

Nó nói:

  • “Thầy bảo chưa đến lúc học pháp.”

  • “Thế sao vẫn đọc?”

  • “Thầy cấm học pháp, chứ có cấm đọc đâu.”

Tôi thấy cũng có lý đó là Long, nếu có một khe cửa nhỏ bằng đúng một ngón tay, nó sẽ tìm cách nhét cả quyển sách vào đó.

Cũng nhờ đọc nhiều, nó biết những chuyện mà ngay cả thầy cũng không cần nói cho chúng tôi, nó biết người xưa chia thế giới linh thiêng thành những phủ nào, biết Mẫu Thượng Ngàn thuộc Nhạc Phủ, biết những câu chuyện về các vị Thánh, các Quan, các Chầu, biết Trần Triều có một hệ thống tín ngưỡng riêng gắn với những người đã khuất vì nước, vì dân nhưng nó chưa bao giờ coi những thứ ấy chỉ là chuyện kể, có lần tôi hỏi nó:

  • “Ma có thật không?”

Long không ngẩng đầu khỏi sách.

  • “Có.”

  • “Mày thấy chưa?”

  • “Chưa.”

  • “Thế sao biết?”

Nó khép sách lại.

  • “Chưa thấy không có nghĩa là không tồn tại.”

Tôi cười.

  • “Thế tao bảo dưới gầm giường có con ma thì sao?”

Long nhìn xuống gầm giường, tôi cũng nhìn theo hai đứa im lặng, một lúc sau Long nói:

  • “Nếu có thì mày ngủ ngoài.”

  • “Tại sao tao?”

  • “Vì mày hỏi.”

Tôi từ đó không bao giờ hỏi chuyện ma trước khi đi ngủ nữa, nhưng rồi tôi bắt đầu nhìn thấy chúng, ban đầu chỉ là những thứ rất nhỏ, một bóng người đứng dưới gốc cây vào lúc chiều muộn, một đốm sáng xanh lập lòe ngoài bìa rừng, một dấu chân ướt xuất hiện trên nền đá rồi biến mất, có lần tôi đang gánh nước từ giếng lên thì thấy dưới mặt nước có một khuôn mặt, tôi giật mình lùi lại chiếc gàu rơi xuống giếng.

  • “Phong.”

Tôi quay lại. Long đứng sau lưng.

  • “Mày làm rơi gàu rồi.”

  • “Tao biết.”

  • “Thế sao còn đứng đó?”

  • “Tao vừa thấy người.”

Long bước đến bên giếng nó nhìn xuống, một lúc sau nó nói:

  • “Không có gì.”

Tôi nhìn nó.

  • “Mày không thấy à?”

  • “Không.”

  • “Thế sao tao thấy?”

Long im lặng nó không cười tôi, cũng không bảo tôi tưởng tượng, chỉ đưa tay kéo tôi ra khỏi miệng giếng.

  • “Đừng nhìn lâu.”

  • “Tại sao?”

  • “Không biết.”

Tôi nhớ rất rõ câu ấy vì đó là lần đầu tiên tôi nhận ra Long cũng không biết hết mọi chuyện, sau này tôi mới hiểu, từ lúc ấy thầy đã bắt đầu để ý đến tôi. Những đêm tôi gặp ác mộng, ông thường đứng ngoài cửa tôi nhiều lần tỉnh giấc vì nghe tiếng nước không phải tiếng mưa mà là tiếng nước chảy ở một nơi rất xa, trong mơ tôi thường thấy một mặt nước đen kéo dài đến tận chân trời, có sương, có một người đứng giữa sương người ấy mặc trang phục cổ, đứng quay lưng về phía tôi, tôi muốn chạy đến nhưng chân không nhúc nhích được, mỗi lần tôi gọi người ấy đều quay đầu lại nhưng tôi chưa bao giờ nhìn rõ khuôn mặt. Chỉ thấy một ánh mắt nhìn thẳng vào mình rồi tỉnh dậy.

Lúc đầu tôi nghĩ đó chỉ là mộng cho đến năm tôi mười hai tuổi, thầy đặt trước mặt tôi một bát nước, ông bảo:

  • “Đặt tay lên.”

Tôi làm theo, nước lạnh rất lạnh.

Tôi ngồi im, Long đứng bên cạnh nó nhìn cái bát nước rồi nhìn tôi.

  • “Đừng làm đổ.”

  • “Tao biết.”

  • “Lần trước mày làm đổ.”

  • “Lần trước tay tao trơn.”

  • “Bát khô.”

  • “...Mày im đi.”

Thầy không để ý đến hai chúng tôi. Ông chỉ nói:

  • “Đừng cố dùng sức.”

Tôi nhắm mắt ban đầu chẳng có gì xảy ra, một lúc lâu sau đầu ngón tay tôi bắt đầu lạnh buốt rồi mặt nước rung lên một giọt nước từ trong bát từ từ tách khỏi mặt nước nó lơ lửng giữa không trung, tôi mở mắt Long cũng đứng sững giọt nước xoay một vòng rồi rơi xuống, thầy nhìn tôi rất lâu.

  • “Thoải Phủ.”

Tôi không hiểu Long thì hiểu nó lập tức quay sang tôi.

  • “Chúc mừng.”

  • “Chúc gì?”

  • “Mày có duyên với nước.”

Tôi nhìn nó.

  • “Thế còn mày?”

Long chưa kịp trả lời bởi ngay lúc ấy, từ ngoài sân vang lên một tiếng động “Rắc” một nhánh cây bật khỏi mặt đất, rồi một nhánh khác Long quay đầu mấy hạt giống nó vừa vô tình làm rơi xuống đất bắt đầu nảy mầm, chỉ trong chớp mắt những mầm cây nhỏ vươn lên khỏi lớp đất ẩm, Long đứng chết lặng, một hạt giống khác bật lên bay thẳng vào miệng nó, nó ho sặc sụa tôi bật cười.

  • “Đúng là có duyên với cây.”

Long vừa ho vừa nhìn tôi.

  • “Im.”

Nhưng cây vẫn mọc dây leo bò quanh chân nó những mầm non xanh mướt xuyên qua nền đất lan ra dưới hiên. Thầy nhìn cảnh ấy ánh mắt lần đầu tiên có chút ý cười.

  • “Nhạc Phủ.”

Long cúi xuống nhìn đám cây rồi nhìn tôi, tôi nhìn nó hai đứa im lặng vài giây, tôi nói:

  • “Thế là mày có nghề rồi.”

Long phủi hạt giống khỏi áo.

  • “Còn mày?”

  • “Tao?”

  • “Mày có nghề gì?”

Tôi nghĩ một lúc.

  • “Chắc nghề gánh nước.”

Long gật đầu.

  • “Cũng hợp.”

Tôi đạp nó một cái, nó tránh được nhưng tránh xong lại tự vấp phải cái rễ cây vừa mọc dưới chân ngã thẳng xuống sân tôi cười đến đau bụng, thầy quay lưng đi.

Tôi thề là lúc ấy tôi nhìn thấy vai ông rung lên nhưng những năm sau đó chúng tôi mới thực sự hiểu chuyện gì đã bắt đầu từ cái ngày ấy. Thầy dạy chúng tôi cách giữ tâm, cách nhận biết khí, cách đọc phù, cách phân biệt một nơi có âm khí với một nơi chỉ đơn giản là ẩm thấp, thầy không bao giờ dạy chúng tôi cách tiêu diệt trước, ông dạy cách quan sát, cách lắng nghe, cách hỏi có một lần tôi nóng ruột, hỏi:

  • “Nếu gặp ma thì đánh thế nào?”

Thầy nhìn tôi.

  • “Con biết nó là gì chưa?”

  • “Ma.”

  • “Vì sao thành ma?”

  • “Chết.”

  • “Người chết nào cũng thành ma?”

Tôi im, thầy nói:

  • “Không phải thứ gì chết rồi cũng muốn hại người.”

Ông nhìn ra sân.

  • “Có kẻ chỉ vì oán.”

  • “Có kẻ vì sợ.”

  • “Có kẻ vì chưa thể buông.”

  • “Có kẻ chỉ muốn người sống còn nhớ đến mình.”

Tôi nhớ câu nói ấy rất lâu, có lẽ cũng từ ngày đó tôi bắt đầu hiểu vì sao thầy chưa bao giờ gọi những thứ trong bóng tối là quỷ dữ một cách dễ dàng. Ông luôn muốn chúng tôi biết mình đang đối mặt với thứ gì trước khi nghĩ đến chuyện dùng pháp.

  • “Học pháp không phải để thành người trên người.”

Thầy từng nói với chúng tôi như vậy.

  • “Là để khi người khác không tự bảo vệ được mình, các ngươi có thể đứng ra.”

Tôi không hiểu hết câu ấy khi còn nhỏ đến năm mười tám tuổi tôi mới hiểu. Tôi và Long đã học tập và ở cùng nhau gần chín năm, Long vẫn đọc sách vẫn biết đủ thứ chuyện trên đời, vẫn có thể nói vanh vách nguồn gốc một loại bùa từ đâu, một bài thuốc dùng thế nào, một ngọn núi nằm ở tỉnh nào nhưng nếu bảo nó tự đi lấy nước thì tôi phải đi sau, không phải vì nó lười mà vì nó có thể đang đi rất bình thường rồi tự vấp vào một hòn đá không tồn tại, có lần nó vừa đọc sách vừa đi, đâm thẳng vào cột nhà.

Tôi hỏi:

  • “Cột làm gì mày?”

Nó xoa trán.

  • “Đứng không đúng chỗ.”

Tôi không biết nên khuyên cột hay khuyên nó còn tôi thì khác tôi quen với việc sử dụng linh lực hơn Thoải Phủ trong người tôi ngày càng rõ, nước nghe lời tôi hơn nhưng đôi khi, khi cầm những thanh tre của chiếc quạt tập luyện, tôi lại cảm thấy một thứ khí khác sắc lạnh.

Mang theo cảm giác sát phạt mà tôi không hiểu nó đến từ đâu, mỗi lần ấy những giấc mơ về mặt nước đen lại trở nên rõ hơn cho đến một đêm, tôi tỉnh giấc không có tiếng mưa, không có tiếng gió cả ngôi chùa im lặng. Tôi bước ra sân dưới ánh trăng, trên nền đá trước chính điện có một chiếc quạt giấy, tôi chưa từng thấy nó ở đó chiếc quạt cũ nan tre đen sẫm mặt quạt trắng ngà, trên đó gần như không có hoa văn, tôi cúi xuống nhặt ngay khi tay chạm vào cán quạt, nước từ những khe đá quanh sân bắt đầu trồi lên một dòng nước mảnh quấn quanh cổ tay tôi, tôi giật mình nước không lạnh nó giống như đang nhận ra tôi, phía sau vang lên tiếng bước chân tôi quay lại thầy đứng dưới hiên, lần đầu tiên trong đời tôi thấy ông nhìn một vật mà không giữ được vẻ bình thản, ông nhìn chiếc quạt rồi nhìn tôi.

  • “Cuối cùng…”

Ông nói rất khẽ.

  • “Nó cũng tìm đến con.”

Tôi chưa kịp hỏi thì phía sau vang lên một tiếng rầm. Long chạy từ trong phòng ra.

  • “Phong!”

Nó bước xuống bậc thềm và ngay lập tức trượt chân “Rầm”. Tôi quay sang Long nằm giữa sân nhưng lần này tôi không cười bởi từ dưới nền đất quanh nó, hàng trăm mầm cây đang trồi lên dây leo bò qua những phiến đá, cỏ mọc nhanh đến mức mắt thường cũng nhìn thấy Long chống tay ngồi dậy nhìn cảnh tượng xung quanh nó không nói gì, thầy bước đến giữa hai chúng tôi ông nhìn tôi, rồi nhìn Long.

  • “Đến lúc rồi.”

  • “Đến lúc gì ạ?”

  • “Đến lúc các ngươi biết mình là ai.”

Đêm ấy chúng tôi không ngủ. Sáng hôm sau, thầy gọi tôi vào chính điện ông đặt chiếc quạt lên bàn.

  • “Cầm lấy.”

Tôi đưa tay chiếc quạt nhẹ đến mức gần như không có trọng lượng nhưng ngay khi tôi mở nó ra trên mặt quạt hiện lên những đường hoa văn cổ, tôi nhìn chúng mà không hiểu, thầy chỉ nói:

  • “Đây là Quạt Lệnh.”

Tôi ngẩng đầu.

  • “Của ai?”

Ông không trả lời ngay, ngoài sân, Long đang thu dọn mấy quyển sách vào chiếc giỏ mây của nó, thầy nhìn tôi thật lâu.

  • “Có những chuyện con chưa cần biết ngay.”

Tôi nắm chặt cán quạt.

  • “Nhưng rồi sẽ biết?”

  • “Rồi sẽ biết.”

Tôi không hỏi thêm bởi tôi biết tính thầy những chuyện ông không muốn nói thì có hỏi đến tối cũng chỉ nhận được một câu trả lời khác. Chúng tôi rời chùa vào sáng hôm đó, tôi mang Quạt Lệnh bên người Long đeo chiếc giỏ mây đầy sách, thuốc và giấy phù, thầy đứng dưới mái hiên nhìn chúng tôi, tôi quay lại.

  • “Thầy.”

  • “Ừ.”

  • “Chúng con đi đâu?”

Thầy nhìn con đường phía trước.

  • “Đi nơi các con cần đến.”

Tôi gật đầu, đi được một đoạn Long hỏi:

  • “Có tiền không?”

  • “Không.”

  • “Nếu gặp người nhờ trừ tà?”

  • “Thì giúp.”

  • “Không lấy tiền?”

Tôi im lặng Long cũng im lặng, hai chúng tôi nhìn nhau tôi thở dài.

  • “Kiếm tiền trước.”

Long gật đầu.

  • “Tao cũng nghĩ vậy.”

Đó là mục tiêu đầu tiên của hai chúng tôi khi xuống núi, bảo quốc an dân là chuyện lớn, cứu người là chuyện cần làm nhưng bụng đói thì cũng chẳng tu được thành tiên. Chúng tôi đi chưa được bao lâu thì đến một thị trấn nhỏ ở đó người ta đang bàn tán về một chuyện kỳ lạ, có người mất tích không phải một người mà là ba người tất cả đều biến mất gần một ngôi miếu bỏ hoang ngoài bìa rừng, người dân nói nơi ấy đã không còn thờ phụng hơn hai mươi năm nhưng mấy đêm gần đây có người nghe thấy tiếng trống.

Tôi nhìn Long, nó không cười.

Lần đầu tiên từ lúc rời khỏi chùa, vẻ mặt nó trở nên nghiêm túc tôi đưa tay đặt lên cán Quạt Lệnh. Từ rất xa giữa tiếng người trong chợ, tôi tưởng như mình nghe thấy một tiếng trống khác.

Một tiếng.

Rồi thêm một tiếng nữa.

Gió từ phía ngôi miếu thổi tới mang theo mùi đất ẩm và một thứ mùi rất cũ, tôi không biết lúc ấy mình đang đi về phía một vụ mất tích hay đang đi về phía chính quá khứ của mình, chỉ biết rằng từ ngày hôm đó cuộc đời của tôi và Long không còn thuộc về ngôi chùa nhỏ trong rừng nữa.

 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px