Phần 1: Túc - Chương 1: Túc duyên - Sông Tiêu Tương, đôi bờ chung nhịp
“Má đồng tiền tủm tỉm
Mắt bồ câu long lanh
Nón quai thao tròng trành
Áo dài the tha thướt
Kìa là chị hai đi trẩy hội
Kìa là anh ba đi trẩy hội
Tưng bừng làng trên xóm dưới
Xôn xao một ngày xuân…”
(Trẩy Hội Xuân)
Trấn Kinh Bắc vừa bước qua những ngày Tết xông xênh, tháng Giêng mới chớm chạm ngõ mà hơi xuân đã nồng nàn trên từng nhành xoan, kẽ lá. Hai bên bờ sông Tiêu Tương, nắng mới chưa kịp làm ráo những giọt mưa bụi mỏng manh như tơ trời, nhưng không gian đã sực nức mùi nhang trầm và vị phù sa tươi mới. Làng Diềm, làng Bị cùng mở hội xuân. Tiếng trống hội thùng thình giục giã, len lỏi qua những rặng tre xanh, đánh thức cả một vùng quan họ. Dưới bến nước, những con thuyền thúng mộc mạc trôi lững lờ, chở theo những tà áo tứ thân nhuộm màu nâu sồng, màu cánh gián, dập dềnh trên sóng nước như những cánh hoa rơi. Dọc những con đường làng lát gạch nghiêng, mùi rơm rạ quyện với mùi nồm ẩm của cơn mưa hôm qua, mùi khói bếp xôn xao. Hội làng Diềm, làng Bị không chỉ có tiếng hát, mà còn có tiếng cười giòn tan bên sới vật, tiếng lách cách của những ván cờ người và cả cái tĩnh lặng thành kính trong phủ thờ.
Nắng tháng Giêng đổ xuống sân gạch bát tràng một màu vàng mật ngọt lịm. Ngoài kia, tiếng trống hội làng Diềm, làng Bị đã bắt đầu thúc liên hồi, hòa cùng tiếng loa giục giã phía triền đê, nhưng trong gian nhà ngói ba gian, không gian dường như lắng lại trong cái nếp tươm tất hằng ngày.
Thắm khom lưng, đôi tay thoăn thoắt đưa nhịp chổi tre, quét tước từ đầu hè cho đến tận mé sân. Tiếng chổi lách cách trên nền gạch như nhịp phách chậm của một làn điệu cổ. Xong xuôi, cô lại tẩn mẩn thấm ướt vạt khăn nâu, cúi đầu lau đi lau lại chiếc phản gỗ lim của thày u. Những thớ gỗ già được Thắm chăm chút bỗng trở nên bóng mượt, ánh lên cái sắc đen thâm trầm của thời gian, sẵn sàng đón khách sau buổi lễ rước.
Lúc này, mặt trời đã lên cao bằng con sào, nắng xói qua kẽ lá rọi thẳng xuống những hạt bụi lờ lững trong không trung. Cu Sinh thì đã được thày nuông chiều cho đi xem lễ rước từ khi sương còn chưa kịp tan trên mái rạ. Có lẽ giờ này, nó đang chen chúc giữa đám trẻ con trong làng, mắt xoe tròn nhìn những tàn lọng, cờ sới rực rỡ bồng bềnh trên bến sông Tiêu Tương. Thày cũng muốn cho con trai biết cái lề lối gia phong, cái lộng lẫy của hội làng quê mình nên cứ thế dắt tay nó đi giữa dòng người xúng xính áo cơm.
Trong gian bếp thâm thấp bên chái nhà, u vẫn thế, chẳng màng đến cái náo nhiệt ngoài kia. U lầm lũi, dáng hình hao gầy in lên bức tường ám khói, tẩn mẩn canh chừng vò nước chè đang sôi sùng sục trên bếp củi rơm. Mùi chè tươi quyện với mùi khói ngai ngái tạo nên một làn hương ấm sực, phủ lên lòng người cái cảm giác bình yên đến lạ lùng.
Giữa lúc Thắm còn đang mải miết với những thớ gỗ lim bóng loáng, bỗng một luồng âm thanh lanh lảnh như tiếng khánh bạc từ ngoài cổng gạch dội vào, xua tan cái tĩnh mịch của gian nhà ngói ba gian. Đó là tiếng của Mầu – cô bạn thân thiết phía xóm đình. Mầu chưa thấy người đã thấy tiếng. Cô hiện ra nơi ngưỡng cửa, rực rỡ trong tà áo tứ thân mớ ba mớ bảy, chiếc nón quai thao thắt dải lụa hồng lủng lẳng bên cánh tay, gương mặt rạng rỡ như đóa hoa đào vừa nở rộ:
- Chị bạn mình ơi! Chị còn tẩn mẩn cái phản gỗ ấy làm gì nữa? Ngoài đê người ta đã rước kiệu qua rồi, tiếng trống cái thúc vang cả một vùng sông Tiêu Tương đấy. Mau mau lên, ta đi hội cho sớm kẻo lỡ mất canh hát giao duyên trên bến sông, người ta trẩy hội đông như nêm cối rồi kìa!
Thắm giật mình, đôi tay đang cầm vạt khăn lau bỗng khựng lại. Nghe tiếng hội, lòng cô cũng xốn xang như có ai đánh nhịp.Thắm khẽ vuốt lại mái tóc mai cho tươm tất, rồi quay nhìn về phía gian bếp, nơi làn khói rơm vàng vẫn đang quyện lấy dáng hình lặng lẽ của u. Cô rón rén, bước chân khép nép đi về phía chái bếp ám mùi khói ngai ngái nhưng ấm sực. Đứng bên bậu cửa, Thắm vòng tay trước ngực, đầu hơi cúi, giọng nói nhỏ nhẹ như hơi gió thoảng:
- Thưa u, con đã thu xếp xong cửa nẻo, phản gỗ cũng đã lau bóng mượt, vò nước trà xanh con cũng đã ủ nóng cho thày. Giờ này hội làng Diềm, làng Bị đã mở, chị Mầu sang gọi, con xin phép u cho con được theo bạn đi xem lễ, xem hội một chập. Con đi rồi sẽ về ngay để kịp lo cơm nước buổi trưa cho cả nhà ạ.
U Thắm lúc này mới dừng tay thổi lửa, ngẩng đầu nhìn con gái. Ánh mắt người già bao dung mà cũng đầy nghiêm cẩn. U khẽ gật đầu, sửa lại chiếc khăn mỏ quạ trên đầu Thắm rồi dặn dò bằng chất giọng trầm đục:
- Ừ, Cái khăn mỏ quạ con thắt phải nằm chính giữa trán, đừng lệch kẻo người ta cười cho là không có gia giáo. Nhà cửa tươm tất thế là tốt rồi. Con đi hội thì giữ lấy cái kẽ, đừng mải vui mà quên lời thày u dặn. Đi cho biết cái lề lối quê mình, rồi về sớm cho thày u yên lòng nhé.
Thắm vâng lời u, khẽ khàng bước vào gian buồng trong. Cô trút bỏ chiếc áo nâu sồng mộc mạc hằng ngày, cẩn thận mở chiếc rương gỗ nhỏ, lấy ra bộ áo mớ ba mớ bảy vẫn còn thơm mùi hương nhu và lá bưởi.
Thắm mặc chiếc yếm đào đỏ rực bên trong, rồi lần lượt khoác thêm những lớp áo lụa mỏng tang: lớp màu mỡ gà thanh tân, lớp màu cánh sen thắm thiết, và ngoài cùng là chiếc áo ngũ thân màu nâu điều nền nã. Cô khéo léo thắt chiếc thắt lưng màu xanh thiên lý, để đôi dải lụa rủ xuống mềm mại như dòng Tiêu Tương mùa nước cạn. Soi mình trong chiếc gương đồng cũ, Thắm khẽ vuốt lại vành khăn mỏ quạ đen nhánh, sao cho ôm khít lấy khuôn mặt trái xoan thanh tú. Lúc bấy giờ, trông Thắm chẳng khác nào một đóa hoa xuân vừa bừng nở giữa lòng Kinh Bắc.
Bước ra đến ngõ, Mầu đã đợi sẵn, tay vung vẩy chiếc nón quai thao che nghiêng nửa nụ cười tinh quái:
- Chà, chị tôi hôm nay xúng xính thế này, thảo nào các liền anh làng Bị cứ đứng ngồi không yên phía bến sông cho xem!
Thắm đỏ mặt, khẽ mắng yêu bạn một tiếng rồi cả hai dắt tay nhau hòa vào dòng người trẩy hội. Con đường làng lát gạch nghiêng hôm nay dường như ngắn lại bởi tiếng cười nói rộn rã. Càng đi về phía đình làng, mùi nhang trầm quyện với mùi nhựa mới của cây cỏ càng nồng nàn.
Tiếng trống hội "thùng thình... thùng thình" dội vào lồng ngực Thắm những nhịp đập rộn ràng. Từ xa, dòng sông Tiêu Tương đã hiện ra như một dải lụa mềm mang theo những con thuyền thúng lững lờ trôi. Trên thuyền, những tà áo tứ thân lấp lánh dưới nắng xuân, và đâu đó, tiếng đàn bầu, đàn nguyệt bắt đầu dạo khúc dạt dào.
Tiếng trống hội vừa dứt một nhịp dồn, cũng là lúc những con thuyền thúng bắt đầu lững lờ trôi ra giữa dòng. Bọn quan họ nam làng Diềm trong bộ áo thụng đen, tay cầm ô lục soạn, gương mặt thanh tú, hào hoa cất lời chào nền nã. Đáp lại là những tà áo mớ ba mớ bảy rực rỡ của các liền chị làng Bị. Những câu hát "La rằng", "Hừ la" vang lên lúc bổng lúc trầm, khi thiết tha như lời tự sự, khi dạt dào như sóng nước mùa xuân. Cả một khúc sông bỗng chốc trở nên sóng sánh, không chỉ vì nắng trưa rọi xuống, mà còn vì cái tình của người quan họ đang lan tỏa trong không gian.
Giữa lúc Thắm còn đang mải mê dõi theo một nhịp hò đối đáp vừa dứt, Mầu khẽ huých tay bạn, đôi mắt sắc sảo láu lỉnh nheo lại, tay chỉ về phía một chiếc thuyền đang từ từ tiến vào vị trí trung tâm của hội hát. Mầu nói, giọng lanh lảnh nhưng vẫn đủ để chỉ hai người nghe thấy:
- Kìa, chị nhìn xem! Kia chẳng phải là bọn quan họ nhà ông Trùm làng mình đó sao? Toàn những tay hát có hạng, lề lối nhất vùng. Thày em bảo riêng về khoản giọng "vang, rền, nền, nảy" thì khắp cái phủ Từ Sơn này khó ai bì kịp. Anh Hai, anh Ba nhà ấy hôm nay diện áo ngũ thân, khăn xếp mới, trông phong lưu, lịch lãm quá chừng, chị nhỉ!
Mầu dừng lại một nhịp lấy hơi, rồi lại vung nón quai thao chỉ sang phía mạn thuyền đối diện, nơi có những dải thắt lưng màu hoa hiên đang bay lất phất trong gió:
- Còn bên các chị kia là bọn quan họ nữ nhà bà Trùm làng bên đó chị. Các chị ấy nức tiếng là khéo nết, lại có tay têm trầu cánh phượng khéo đến độ hoa cũng phải hờn. Chị nghe kìa, chị Hai bên ấy vừa cất giọng "La rằng" mà nghe vang rền như tiếng khánh bạc, đến con oanh trên cành cũng phải ngẩn ngơ mà lắng đợi.
Thắm vẫn còn đang ngẩn ngơ dõi theo những dải thắt lưng màu hoa hiên bay lấp phất bên bến sông, thì Mầu đã sốt sắng nắm lấy dải yếm của bạn, kéo đi:
- Chị ơi, ta mau chân lên chút nữa! Quý bọn bên nhà chị Cả chắc đang trông ngóng chị em mình lắm rồi. Hội đã vào đám rộn ràng thế kia, mình chậm chân chút nữa là lỡ mất canh hát khai xuân, phí cả công luyện giọng bấy lâu nay chị ạ!
Hai thân hình mảnh mai trong tà áo ngũ thân sải bước nhanh trên con đường lát gạch nghiêng dẫn thẳng vào xóm trong. Khi vừa chạm chân đến ngưỡng cửa Nhà Chứa, nơi hội tụ của những tâm hồn tri âm tri kỷ,Thắm đã thấy chị Hai đang đứng tựa cửa lồng đèn, gương mặt vừa mừng vừa trách. Vừa thấy bóng hai người, chị Hai Sấn đã đon đả bước ra, nắm lấy tay Thắm:
- Chị Ba đến rồi đấy ư? Làm các em cứ đứng ngồi không yên, cứ ngỡ chị bận việc cấy hái mà lỡ hẹn xuân này. Mau vào trong thôi chị, mâm trầu cánh phượng đã têm sẵn, các quan viên họ bên làng Diềm cũng đã tề tựu đông đủ cả, chỉ đợi chị khai giọng là vào hội thôi.
Trong gian nhà cổ thơm mùi gỗ và khói hương, không khí đang xôn xao bỗng chùng xuống một nhịp. Bên phía phản gỗ dành cho các liền anh làng Diềm, một người trai dáng vẻ thư sinh, vận áo thụng đen chỉnh tề, khẽ đứng dậy, vòng tay cúi chào đầy lễ độ. Anh chậm rãi lên tiếng, giọng vang mà ấm, đậm chất trai vùng quan họ:
- Thưa quý bọn cùng các chị Hai, độ này tiết trời xuân vẫn còn vương chút mưa phùn gió bấc se lạnh. Chẳng hay anh Ba nhà em đương bận chút việc mọn nơi bến sông chưa kịp về hội ngộ. Kính mong các chị thong thả xơi miếng trầu xanh, nhấm chút cau cay cho đượm môi thơm, xin tạm xá cho mà nán lại đôi lát đợi anh ấy về cùng chung vui canh hát.
Anh nhẹ nhàng nâng khay trầu men lam, trên đặt những miếng trầu têm cánh phượng đỏ thắm, khẽ cúi đầu mời mọc:
- Thưa các chị, miếng trầu này là tấm tình của anh em chúng em. Mong các người rộng lòng xá quá cho sự chậm trễ của anh Ba. Kính mời các chị xơi tạm miếng trầu xanh cho đỏ môi nồng, nhấm chút cau khô cho đượm môi thơm. Các chị có nhận cho, thì lòng anh em chúng em mới được hả dạ, mới dám cất lời ca cho trọn vẹn canh hát này.
Thắm khẽ liếc nhìn khay trầu, lòng bỗng dấy lên một sự tò mò lạ lùng. "Việc riêng nơi bến sông" của anh Ba là gì mà lại khiến một người vốn nổi tiếng là lề lối như anh phải chậm bước giữa hội xuân? Trong cái tĩnh lặng của gian nhà chứa, tiếng trống hội ngoài xa vẫn vọng về, nôn nao và đầy bí ẩn.
Cánh cửa gỗ lim vừa khép hờ bỗng đẩy nhẹ, một bóng người cao lớn, vững chãi bước vào, mang theo cả luồng gió xuân nồng nàn mùi nhang trầm. Thắm khẽ ngước mắt lên rồi bỗng chốc ngẩn ngơ. Chàng trai ấy vận chiếc áo tấc màu xanh vỏ đậu nền nã, vạt áo dài chạm gối phẳng phiu, mái tóc được vấn gọn gàng trong vành khăn xếp đen nhức, tôn lên gương mặt thanh tú với đôi mắt sáng như sao sa. Cái cốt cách lịch thiệp, phong lưu của một liền anh vùng quan họ toát ra từ mỗi nhịp bước, khiến không gian trong nhà chứa bỗng chốc như bừng sáng.
Chàng tiến vào giữa gian nhà, vòng tay cúi chào đầy cung kính, giọng nói vang lên ấm áp, truyền cảm:
- Dạ, em xin kính chào các quan viên họ, kính chào các chị Hai, chị Ba cùng toàn thể quý người ạ! Người xưa vẫn bảo: "Cá lội dưới sông em còn đợi, chim bay trên trời em còn chờ", tấm lòng của quý người bao la như bến nước Tiêu Tương, vậy mà hôm nay em lại mạo muội lỗi hẹn, để các người phải ngóng tin nhạn bấy lâu. Thật là vạn lần đắc tội! Chẳng giấu gì các người, em vừa rảo bước từ lễ dâng hương tạ Tổ bên đình, nay mới kịp sang đây để có lời tạ lỗi cùng quý bọn, mong các chị xá quá cho cái lỗi trễ tràng này.
Các liền chị làng Diềm mới nhẹ nhàng thưa:
- Kìa anh Ba! Anh nói thế thì chị em chúng em biết thưa lại thế nào cho phải. Chúng em chỉ sợ "đợi người người chẳng thấy đâu", chứ nếu vì việc thờ phụng Tổ nghề mà anh trễ bước, thì chúng em có đợi đến tàn canh cũng thấy xứng lòng. Nay anh đã sang, xin mời anh nhấp chén trà sen cho lại giọng, rồi chị em mình cùng vào canh cho thỏa nỗi mong chờ
Chị Hai Sấn lúc này mới khẽ đặt miếng trầu xuống khay, đôi mắt lúng liếng nhìn Anh Ba,mà giận lẫy:
- Anh Ba nói thế nghe sao cho đành lòng chị em chúng em? Chị em chúng em ở đây trông đứng trông ngồi, ngóng tin nhạn đến mỏi mắt, nhấp cạn mấy tuần trà, miếng trầu cánh phượng cũng đã nhạt vôi mà chẳng thấy bóng chim tăm cá nơi đâu. Nay anh đã sang, câu chữ lại khéo léo, văn hoa thế kia, liệu anh có "vốn liếng" câu hát nào đủ tình, đủ nghĩa để làm chị em chúng em nguôi ngoai nỗi hờn này hay không đây?
Chàng trai khẽ mỉm cười, cái nhìn lướt qua Thắm khiến cô thắt lòng lại một nhịp, rồi anh đáp lời đầy ý nhị:
- Dạ, chị Hai dạy phải lắm ạ. Cái lỗi trễ tràng của em, kể ra thì thật khó mà lấy lời ca tiếng hát nào cho vừa lòng quý người. Để tạ lỗi, em xin được rót một câu hát tạ ‘Ngồi tựa mạn thuyền’làm cái lễ mọn gửi tới các chị. Sau đó, em xin được cùng anh Hai nhà em bện giọng, hòa nhịp để dệt nên những làn điệu vang, rền nhất, bồi hoàn lại tấm lòng vàng ngọc mà quý bọn đã dành cho anh em chúng em trong hội xuân này.
Tiếng đàn nguyệt vừa dạo lên một khúc lả lướt, Anh Ba khẽ hắng giọng, rồi luồng âm thanh ấy vút lên, trong trẻo mà đầy uy lực. Đó không chỉ là hát, mà là cả một bầu tâm sự được chưng cất từ nắng xuân và gió sông Tiêu Tương. Giọng Anh Ba vang như tiếng khánh đồng, rền tựa tiếng sấm xa lúc giao mùa, rồi lại nền nã, nảy hạt như những viên ngọc trai lăn trên đĩa sứ. Từng chữ "i", chữ "í", chữ "a" đệm lót được anh trau chuốt, luyến láy mượt mà đến độ người nghe ngỡ như có một dải lụa mềm đang ve vuốt bên tai.
Thắm ngồi đó, đôi tay đang cầm vành nón quai thao bỗng buông lỏng, đôi mắt đen láy ngẩn ngơ nhìn theo từng cử chỉ của người trai làng Diềm. Trong phút chốc, vạn vật xung quanh như tan biến hết, chỉ còn lại luồng âm thanh mê hoặc ấy. Cái giọng hát ấy không dừng lại ở thính giác, mà dường như đang nhảy múa trong tim Thắm, gieo vào lòng cô những nhịp đập xốn xang chưa từng có. Mỗi nốt cao vút lên làm lòng cô thắt lại, mỗi quãng trầm xuống lại khiến cô thấy bồi hồi như chính mình đang lạc bước nơi bến sông vắng, đợi chờ một người trong vô vọng. Thắm đắm đuối, hơi thở khẽ khàng như sợ làm vỡ tan cái không gian huyền diệu này. Cô chợt nhận ra, dẫu có lau bao nhiêu phản gỗ, quét bao nhiêu gian nhà, thì cũng không thể xóa đi được sự rạo rực mà tiếng hát ấy vừa khơi dậy trong tâm hồn vốn dĩ vẫn luôn lặng lẽ của mình.
Giọng chàng vút lên, mở đầu bằng những tiếng đệm lót bay bổng, khiến cả gian nhà chứa bỗng chốc lặng phắc:
" Ngồi rằng là ngồi tựa í ơ có mấy mạ ới ơ thuyền.
là ngôi tựa có a mạn thuyền.
trăng í in là in mặt nước í ơ cũng có a càng nhìn là càng nhìn non nước càng xinh. hử hứ lá hôi hừ."
Tiếng hát của Anh Ba không chỉ dừng lại ở đôi tai, mà dường như đang len lỏi vào từng thớ gỗ lim của chiếc phản, thấm vào từng hơi thở của Thắm. Chàng hát mà như đang tự tình, chữ "i" ngân dài, vang vọng và rền rĩ như tiếng sóng vỗ nhẹ vào mạn thuyền thúng giữa đêm trăng. Khi đến câu:
“tay rằng là tay dạo í ơ có mấy cung ới ơ ơ đàn là tay dạo có năm cung đàn
ấy mấy đôi là đôi í tay em”
Giọng chàng bỗng chùng xuống, da diết và đầy u ẩn, khiến Thắm cảm thấy như chính mình đang là người ngồi tựa mạn thuyền đêm rằm ấy, lòng mang nặng một nỗi niềm tương tư chẳng thể thốt thành lời. Từng nhịp nảy hạt trong cổ họng Anh Ba điêu luyện đến mức người nghe ngỡ như có những viên ngọc thực sự đang nhảy múa, gieo vào lòng người những xao động khôn nguôi.
Thắm ngồi đó, bàn tay khẽ bấu chặt vào vành nón quai thao. Cô nhận ra, Anh Ba không chỉ hát bài hát của tiền nhân, mà chàng đang dùng lời ca ấy để gửi gắm cái tình "lỡ nhịp" của mình. Ánh mắt chàng thi thoảng lại dừng lại nơi Thắm, khiến trái tim cô gái trẻ vốn dĩ chỉ quen với việc nhà cửa, cấy hái bỗng chốc bừng tỉnh, rạo rực một niềm khát khao về cái "tình" của người quan họ.
“Nghiêng soi bóng nước,
càng nhìn lại càng xinh.
Nhớ em đến hẹn lại lên,
sương khuya áo em lạnh thêm
Trăng soi nét duyên càng duyên,
hôm qua ngồi tựa mạn thuyền.
Nghiêng soi bóng nước,
càng nhìn..... xinh càng xinh”
(Con nhận tìm duyên)