Phần 1: Túc - Chương 3: Túc Duyên - Sóng gợn đôi bờ, lòng còn vương bóng
Lóng lánh là lóng lánh ơi,
Mắt người lóng lánh như sao trên trời.
Lúng liếng là lúng liếng ơi,
Miệng người cười lúng liếng có đôi đồng tiền.
Tôi với người muốn kết nhân duyên.
Phú đi tìm quý bạn tiên chơi bời,
Tôi với người muốn kết nhân duyên.
(Lúng liếng)
Tiếng gà vừa gáy sang canh, sương muối còn giăng màn trắng xóa trên những tàu lá chuối bên bờ Tiêu Tương, Thắm đã khẽ khàng trở mình thức giấc. Nàng quấn lại dải yếm đào, khoác vội chiếc áo cánh mỏng rồi quẩy đôi thùng gỗ ra sông xách nước về cho thày u rửa mặt. Cái lạnh từ mặt đất ẩm ướt thấm qua đôi bàn chân trần, nhưng lòng Thắm lại đang ấm sực bởi dư âm của canh hát hội tuần trước. Tiếng sênh phách của người làng Bị cứ quẩn quanh đâu đây, lúc rền rĩ, khi da diết, vương vít mãi không rời.
Bến sông mờ ảo trong ánh hừng đông chưa kịp tỏ. Thắm đặt đôi thùng xuống phiến đá nhẵn thín, định bụng múc gàu nước đầu tiên cho thật trong. Nhưng vừa cúi người, nàng bỗng khựng lại. Ở bờ bên kia, thấp thoáng trong rặng tre ngà, một bóng hình quen thuộc đang tần ngần bên con thuyền thúng cũ. Là anh Ba Kỳ của làng Bị.
Anh không ngủ, hay cũng như nàng, đang chở cả một khối tình chung sau đêm "người ngoan đối diện người ngoan"? Kỳ lúi húi dùng chiếc sào tre dài khều những dải lục bình tím lững lờ trôi bám vào mạn thuyền. Từng nhát sào đưa đi dứt khoát nhưng đôi mắt anh cứ chốc chốc lại ngước nhìn sang phía bến làng Diềm.
Thực ra, Kỳ khều bèo chỉ là cái cớ để "đợi" một bóng hình. Biết Thắm hay ra sông sớm từ lời dò hỏi anh Tư Chấp, anh đã thao thức cả tuần nay, đổi qua mấy lượt canh giờ mới mong có ngày tương ngộ. Chiếc sào trong tay anh khua khoắng dòng nước, làm vỡ tan những mảng sương mù đang đậu trên mặt sóng.
Thắm đứng lặng đi trên bến. Nàng vờ như không thấy, cúi xuống nghiêng gàu múc nước. Tiếng nước xao động "ùm... ụp..." giữa không gian tĩnh mịch nghe rõ mồn một như nhịp đập rộn ràng trong lồng ngực.
Văn Kỳ khẽ hắng giọng. Tiếng anh vang trên mặt sông, trầm mặc mà ấm áp như tiếng chuông chùa đổ giữa sớm mai:
- Chị Ba làng Diềm đấy phỏng?
Thắm ngừng tay múc nước, quay sang hỏi:
- Dạ, không biết bên đầu đó...là anh Ba chăng?
- Khéo quá, chị làng Diềm nhà mình hôm nay lại dậy sớm thế này. Chị ơi, sương sớm còn đang vương đầy mặt cỏ, nước sông thì lạnh buốt, chị coi chừng kẻo sương thấm vai lạnh áo, ảnh hưởng đến giọng hát canh tới đấy nhé.
Thắm dừng tay, vành nón quai thao che nửa khuôn mặt nhưng không giấu nổi đôi gò má đang ửng hồng. Nàng đáp lại, giọng thanh tao như tiếng khánh bạc:
- Khéo mà anh lại lo xa cho em. Nước sông lạnh thật đấy, nhưng lòng người nhà nông vốn đã được tôi luyện qua bao mùa sương muối rồi. Anh kìa, thân là con trai trưởng mà cũng chẳng quản ngại khó khăn, dậy từ lúc trời còn chưa rạng để gỡ bèo khều nước. Em chỉ lo sương sớm làm nhòa mắt người, nhìn đường chẳng rõ, nhỡ chân một chút thì biết cậy nhờ vào ai giữa bến sông vắng này?
Kỳ ngẩn người. Chiếc sào tre trong tay bỗng chốc trở nên nặng trịch. Câu nói của nàng mộc mạc thế thôi mà sao nghe như có kim châm vào chỗ thầm kín nhất của nỗi tương tư. Anh nhìn theo cánh hoa lục bình vừa bị mình đẩy ra giữa dòng, đang lững lờ trôi về phía hạ lưu – lênh đênh và không định hướng. Anh gặng hỏi, giọng run run vì xúc động:
- Chị Ba nói phải. Gặp được nhau lúc này, âu cũng là cái duyên trời định để anh em mình được giãi bày đôi câu. Từ hồi tan hội đến nay, lòng tôi cứ băn khoăn mãi... dẫu biết hai làng mình đã kết nghĩa anh em, nhưng cái tình trọng cái tài, cái nết của chị làm tôi cứ vương vấn không yên. Chẳng hay chị Ba tên gọi là chi? Thày u nhà ở chỗ nào? Để khi nào có dịp sang làng Diềm hát hội, tôi xin phép được ghé qua cửa nhà, thưa gửi một câu chào với hai cụ cho đúng đạo anh em quan họ, chị có bằng lòng không?
- Mà cũng chẳng hay, chị em mình so giọng trên sân đình đã là hàng Ba tâm đầu ý hợp. Chẳng hay về tới cửa nhà, trong hàng chi thứ, chị là phận mấy để tôi biết đường thưa gửi với thày u cho đúng đạo, kẻo cứ gọi "chị Ba" mãi thì sợ lỗi với bậc bề trên trong nhà người?
Thắm khẽ cúi đầu, dấu đi gò má đỏ ửng trong màn sương sớm, thanh âm nhỏ nhẹ mà rành rọt:
- Dạ, anh đã có lời hỏi thì em cũng xin mạo muội thưa thật. Tên tục của em là Thắm. Thày em là cụ Trân, cũng là người trọng nếp nhà, trọng câu ca tiếng hát. Ở hội thì em là chị Ba, nhưng về dưới mái hiên nhà, em cũng chỉ là đứa con gái nhỏ mọn của thày u. Được anh Ba quan tâm hỏi han thế này, lòng em thực sự thấy cảm kích vô cùng. Em đã chẳng giấu gì anh, thì cũng xin mạo muội được biết quý danh của anh Ba là chi? Để khi canh hát tan, hay lúc tình cờ tương phùng giữa bến sông vắng thế này, em còn biết đường thưa gửi cho tiện bề, kẻo cứ gọi mãi danh hiệu "anh Ba" thì e là hơi xa cách quá.
Kỳ dừng tay khua bèo đáp:
- Dạ, bẩm chị Thắm... Thày u đặt tên cho tôi là Kỳ. Chữ "Kỳ" trong kỳ tài, kỳ ngộ, hay cũng có thể hiểu là một sự lạ lùng, hiếm gặp của nhân duyên. Tôi vốn chỉ là gã sĩ tử mải mê kinh sử, tưởng rằng tâm trí này đã gửi cả vào cửa Khổng sân Trình. Thế mà chẳng hiểu sao, từ lúc gặp được sắc thắm của chị làng Diềm, tôi mới thấy cái tên của mình thực đúng là một sự kỳ ngộ định mệnh. Chị Thắm ạ, tên người nghe nồng nàn như sắc hoa đào buổi sớm, còn tôi chỉ là kẻ lữ hành tình cờ được dừng chân bên bến xuân này. Biết được tên người, lòng tôi như trút được gánh nặng băn khoăn bấy lâu. Từ nay, dẫu có cách trở hai dòng Tiêu Tương dẫu lề lối kết chạ có nghiêm cẩn đến đâu, thì trong tâm khảm này, đã được tôi trân trọng ghi tạc, còn sâu đậm hơn cả những dòng chữ thánh hiền trên trang giấy hằng đêm.
Thắm lặng đi, đôi tay vẫn vịn vào gàu nước nhưng tâm trí đã theo lời nói của Kỳ mà bay bổng tận đẩu đâu. Nàng khẽ mỉm cười, nụ cười kín đáo giấu sau làn sương nhưng lại rạng rỡ hơn cả ánh bình minh đang sắp sửa ló rạng:
– Anh Ba thật khéo mượn chữ nghĩa cửa Khổng sân Trình để trêu ghẹo thân gái quê mùa. Tên em dẫu mang sắc đỏ, thì cũng chỉ là cái đỏ mộc mạc của nhành hoa xoan, hoa gạo ven đê, sao dám sánh mình với hai chữ "kỳ ngộ" cao sang mà anh vừa trao tặng. Nhưng anh ơi...
Nàng ngập ngừng, ánh mắt nhìn sâu vào dòng nước Tiêu Tương đang bắt đầu ánh lên những tia sáng đầu ngày. Tiếng thở dài nhẹ như mây khói:
- Ngậm ngùi thay cái chữ kết chạ, chúng mình đã mang trầu cau cho thành hoàng làng, nó như sợi dây vô hình buộc chặt lấy bước chân đôi ta. Anh em mình quý nhau ở cái nết, yêu nhau ở câu ca, nhưng lề luật ngàn đời của làng quan họ đã định sẵn một ranh giới không thể bước qua. Anh gọi tên em, em thưa tên anh, nghe cứ ngỡ là tri kỷ, mà thực ra lại là nỗi đau của hai kẻ "lỗi hẹn" với lề lối. Em chỉ sợ chút xao lòng này sẽ làm vấy bẩn cái thanh cao của đạo anh em, làm hổ thẹn với bao đời tiền nhân đã dày công gìn giữ.
Văn Kỳ buông chiếc sào tre, để mặc con thuyền thúng xoay nhẹ trên dòng nước. Ánh nhìn của anh kiên định mà tha thiết, xuyên qua màn sương vẫn chưa tan hết:
- Kìa người, xin đừng để nỗi lo lề lối làm vẩn đục lòng mình. Tình anh em Quan họ ta vốn dĩ cao khiết, lấy tiếng hát làm nhịp cầu, lấy cung cách làm thước đo. Chị đừng sợ lỗi đạo, bởi tôi yêu cái tài, cái đức của người chứ chẳng phải sự chiếm hữu tầm thường. Dù mai này hai làng vẫn giữ lời thề kết chạ, dù mình chẳng thể chung đôi dưới một mái nhà, thì tên người vẫn sẽ là dòng chữ đẹp nhất tôi viết lên trang giấy, là động lực để gã sĩ tử này không thấy đơn độc giữa chốn cửa Khổng sân Trình.
Ánh dương bừng lên từ phía chân trời, dát vàng lên rặng tre ngà và làm tan đi lớp sương muối trên tàu lá chuối. Thắm vội vã quẩy đôi thùng nước lên vai, sức nặng của nước dường như cũng không nặng bằng nỗi niềm đang mang nặng trong tim. Nàng bước lên bờ, đôi chân trần bấm vào đất ẩm, quay đầu nhìn lại phía con thuyền thúng đang nhỏ dần:
– Kìa anh, nắng đã hửng lên bên kia sông rồi, em chẳng thể nán lại thêm được nữa. Xin gửi lại bến sông này nỗi lòng vương vấn, hẹn gặp lại anh Ba vào mùa hội tới. Khi ấy, dẫu lề lối kết chạ có nghiêm cẩn, đôi ta vẫn sẽ là những "người ngoan" đối diện soi bóng tri kỷ vào nhau, mượn câu ca tiếng hát để nối lại sợi dây duyên tình còn đang dắt díu.
Bóng Thắm nhỏ dần sau lũy tre xanh, chỉ còn lại tiếng nước trong thùng gỗ lắc nhẹ "sóng sánh, sóng sánh" như nhịp lòng người ở lại. Văn Kỳ đứng lặng bên mạn thuyền, tay vẫn cầm chiếc sào nhưng tâm trí đã gửi theo gánh nước của người con gái làng Diềm. Dòng Tiêu Tương vẫn trôi, lặng lẽ và bền bỉ, chở theo một mối tình vừa chớm nở giữa ranh giới của lề lối và sự rung động chân thành.
.......
Văn Kỳ đứng đó cho đến khi mặt trời đã lên cao bằng con sào, xua tan hẳn lớp sương mù cuối cùng trên mặt sóng. Anh cúi xuống, nhặt một cánh hoa lục bình tím ngắt vừa bị nhát sào đánh rơi, đặt khẽ khàng lên mạn thuyền thúng. Những dải lục bình ấy, vốn dĩ anh định khều đi cho thoáng bến, giờ đây bỗng trở thành những nhân chứng thầm lặng cho một buổi tương phùng.
Anh quay trở về nhà, nơi những chồng sách kinh điển đang chờ đợi. Nhưng lạ thay, khi đặt bút xuống tàu giấy bản, thay vì những dòng chữ về đạo làm người hay lẽ hưng vong, đầu ngọn bút lại cứ vô thức vẽ nên những nét thanh mảnh của một vành nón quai thao, một dải yếm đào ẩn hiện trong sương. Văn Kỳ thở dài, tự cười chính mình. Hóa ra, cái "kỳ ngộ" này lại là bài thi khó nhất mà gã sĩ tử như anh phải đối mặt: học cách giữ cho lòng bình thản khi trái tim đã lỡ nhịp vì một sắc làng Diềm.
Về phía Thắm, đôi chân trần của nàng bước đi thoăn thoắt trên con đường đê quen thuộc, nhưng tâm trí vẫn còn gửi lại bên bến đá Tiêu Tương. Về đến đầu ngõ, mùi khói bếp từ nhà ai đã bảng lảng quyện vào không khí, báo hiệu một ngày lao động mới bắt đầu.
Nàng nghiêng vai, trút đôi thùng nước vào chiếc chum sành trước hiên nhà. Tiếng nước đổ vào chum nghe giòn giã, vang vọng như tiếng sênh phách đêm hội, khiến nàng chợt giật mình. Cụ Trân từ trong nhà bước ra, tay cầm chiếc chổi tre, nhìn con gái rồi khẽ hỏi:
- Sao hôm nay con đi lâu thế? Nước sông sớm mai chắc lạnh lắm phỏng?
Thắm bối rối cúi đầu, vờ như đang bận chỉnh lại dải yếm:
- Dạ, tại hôm nay sương mù dày quá, con phải đợi nước lắng mới múc được gàu trong, thưa thày.
Cụ Trân không nói gì thêm, chỉ khẽ gật đầu rồi quay vào, nhưng đôi mắt già nua tinh tường của cụ dường như đã kịp thoáng thấy vệt đỏ lạ lùng trên gương mặt con gái. Thắm nhìn xuống dòng nước trong chum, thấy bóng mình lồng trong bóng những rặng tre xanh. Nàng khẽ đưa tay khoát nhẹ, làm tan đi cái hình ảnh ấy, như muốn tự nhắc nhở mình về ranh giới nghiêm cẩn của hai làng kết chạ.
Nắng đã vàng rực trên những cánh đồng Kinh Bắc. Dòng sông Tiêu Tương vẫn cứ trôi, xanh ngắt một màu chung thủy. Người ta bảo, nước sông Tiêu Tương không bao giờ cạn, cũng như cái tình của người Quan họ không bao giờ vơi. Dẫu mai này lề lối có ngăn bước chân, dẫu trầu cau chẳng thể đưa lối sang sông, thì ở hai đầu bến đợi, vẫn có một người sĩ tử miệt mài bên trang sách và một người con gái tần ngần bên gánh nước sớm mai.
Họ yêu nhau bằng cái tình anh em cao khiết, một thứ tình cảm dắt díu giữa thực và mơ, giữa lề lối và khát vọng, để rồi mỗi mùa hội đến, họ lại mượn câu hát để nói hộ lòng nhau: "Người ơi, người ở đừng về..."
Lẻ loi chim nhạn sầu oanh,
Để em thơ thẩn năm canh đợi chờ.
Thương ai biết đến bao giờ,
Bao giờ họp mặt bao giờ sánh đôi.
(Tương phùng tương ngộ)