Diễn đàn
Tôi không có mắt, không có tai. Tôi chỉ có vách gỗ ngả màu, có mái tôn bạc xám. Trong từng thớ gỗ của mình, thứ tôi giữ lại không phải trí nhớ, mà là dấu vết của thời gian - chỗ nào người ta đi qua nhiều, chỗ ấy sẽ mòn theo đúng hình dáng của họ.
Ngày đầu tiên họ dựng tôi lên, tôi chỉ là một khoảng trống thơm mùi gỗ mới. Một người đàn bà trẻ mang đến mùi hèm rượu, để nó ngấm dần vào đất nền. Một người đàn ông trẻ mang đến mùi mùn cưa, nhẹ hơn, chỉ một cơn gió thoáng qua là bay đi. Hai thứ mùi ấy cứ thế hòa vào nhau mỗi ngày, len vào từng thớ gỗ, từng góc nhỏ trong tôi, lâu đến mức tôi không phân biệt được đâu là mùi của người này, đâu là mùi của người kia.
Người ta gọi thứ mùi ấy là “nhà”.
Vài năm sau, họ mang đến cho tôi thêm hai nhịp thở nhỏ hơn, ồn ào hơn - một cô bé tên Sương và một cậu bé tên Nhã.
Mỗi sáng, khi cả xóm còn chìm trong sương, tôi nghe bà nhóm lửa: tay trái đẩy củi vào bếp, tay phải quẹt lửa. Chẳng bao lâu sau, tiếng nồi rượu đã sôi ùng ục, hơi nóng mang theo mùi hèm quen thuộc lan khắp gian bếp.
Rồi tiếng chân Sương chạy huỳnh huỵch , tiếng Nhã gọi với theo, giọng ngái ngủ:
“Chị ơi, đợi em!”
Bé Sương không bao giờ chạy nhanh thật sự. Nó luôn chậm một nhịp, đủ để Nhã túm được vạt áo, rồi giả vờ gạt tay ra, chạy tiếp. Luật chơi không ai dạy mà cả hai đều thuộc.
“Đừng chạy dô bếp, coi chừng bỏng đó nghe chưa!” Người đàn bà cao giọng.
Câu nói ấy, sáng nào tôi cũng nghe, quen đến nỗi nó thành một phần của cuộc sống như tiếng gà gáy, hay tiếng chổi quét sân xoẹt xoẹt vọng lại từ nhà hàng xóm.
Cách bếp rượu một quãng sân, người đàn ông mà Sương và Nhã gọi là ba dựng lên một cái chòi nhỏ chỉ đủ chỗ một cái bàn bào và vài tấm ván. Sáng nào cũng thế, ông dậy muộn hơn bà vài phút nhưng luôn rời khỏi tôi sớm nhất. Trước khi đi, dông đứng lại giữa sân, ngoái nhìn về phía bếp lửa của bà, rồi mới xách đồ nghề ra cổng và luôn dừng thêm một nhịp nữa, vì hai đứa nhỏ đã kịp lao ra ôm chân ông, đòi ông bế lên cao.
Những sáng mưa phùn, ông chỉ kịp xoa đầu hai đứa một cái thật nhanh rồi đi, sợ ván gỗ ướt. Những sáng ấy, sân nhà thiếu hẳn một tiếng cười.
Nhưng không chỉ có những ngày mưa.
Có hôm nọ, trời nắng gắt. Má Sương vẫn ngồi canh lửa, áo ướt đẫm mồ hôi. Sương và Nhã, năm tuổi và bốn tuổi, chơi nhảy ô ngoài sân.
“Thảy đi. Thảy chọn nhà đi.” - Sương quát to.
Nhã cười ré lên khi thảy trúng ô số hai. Hai đứa nhỏ còn đang vô tư cười giỡn thì đâu đó trong góc bếp rúng lên một tiếng nổ to, lửa từ đó cứ lan ra. Không phải một ngọn lửa bình thường - nó cuộn lên như một chiếc lưỡi dài, nuốt trọn góc hông tôi trong chớp mắt. Tôi thấy nó bò về phía má Sương, trong khi bà còn chưa kịp ngẩng đầu lên.
Tôi không có tay chân để vùng vẫy, hay để kéo bà ra. Không có miệng để la hét. Tôi chỉ đứng đó, cháy, và nhìn ngọn lửa dữ dội hơn từng giây. Tôi cảm thấy sợ, tôi sợ ngọn lửa đấy sẽ nuốt chửng lấy tôi. Nhưng những con người nhỏ bé bên trong tôi, nỗi sợ ấy đối với họ còn kinh khủng hơn gấp bội.
“Má ơi!” - tiếng Sương xé toạc sân nhà.
Nhã khóc òa lên.
Tiếng mấy người hàng xóm hô hào chạy sang, tiếng xô thùng va nhau, tiếng ai đó kêu vội:
“Lấy thêm nước!”
. . .
Một lát sau thì lửa cũng tắt, khung gỗ của tôi cũng không còn run lên bần bật nữa. Một góc hông tôi hóa than đen. Còn cánh tay phải của bà đỏ rực vì bỏng. Sương ôm lấy Nhã, không nói gì, chỉ ôm - như thể đó là cách duy nhất của một đứa trẻ năm tuổi có thể làm để bảo vệ em mình.
Bố Sương hớt hải chạy về, ông ngồi thụp xuống trước mặt bà, mắt ghim chặt vào cánh tay bà bị bỏng, nói vài câu trấn an rồi mới đứng dậy dựng lại chiếc ghế đổ, dọn chiếc nồi méo sang một bên. Sương và Nhã lẽo đẽo theo sau ông như hai cái đuôi nhỏ, đứa nhặt cái phễu, đứa ôm chân ba, không ai nói gì.
Tối đó, tiếng chày giã lá thuốc vang lên trong đêm, “cộc, cộc, cộc” như một lời hứa rằng ngày mai mọi thứ sẽ được làm lại.
Tình yêu của họ không nằm trong lời nói. Nó thể hiện qua tiếng búa mà ông gõ lên vách hông tôi, khi ông đóng thêm một cái kệ thấp để bà không phải giơ cao cánh tay còn đau. Trong bữa cơm, họ nhường nhau miếng ngon mà không đợi ai lên tiếng.
Giữa những âm thanh trầm lặng ấy, luôn có tiếng cười, tiếng cãi cự, tiếng chân chạy của Sương và Nhã.
Một dạo chiều tháng Sáu, trời oi đến lạ. Bà thu cơm rượu vào xô, ông hối hả gom ván sợ mưa tạt. Bận đến mức không ai để ý hai đứa nhỏ đang lúi húi ở góc hông tôi với một chén màu hạt điều.
Sương chấm ngón tay vẽ những đường ngoằn ngoèo, gọi đó là “con rồng”. Nhã đứng cạnh cười, rồi cũng thò tay in cả bàn tay bé xíu lên vách, giơ lên khoe những ngón tay đỏ cam.
Những vệt màu ấy thấm vào thớ gỗ tôi, nó ướt, dính, hăng nhẹ. Nhưng lạ, tôi không thấy khó chịu. Tôi cảm nhận được niềm vui trong nó, tôi mang nó lên mình với một sự tự hào nào đó nếu nói theo cách của con người.
Sấm nổ. Gió lớn ào tới. Mưa rơi lộp bộp trên mái tôn, dày dần.
“Chạy lẹ đi, ông Ù tới kìa!” - Sương giật tay em.
Hai đứa chạy vào nhà, dép văng ra ngoài không kịp nhặt, bỏ lại chén màu điều đổ nghiêng và bức “tranh rồng” dang dở.
Mưa quất ngang dọc, hắt vào vách vừa được “trang trí”. Có lẽ nước mưa sẽ cuốn trôi hết. Nhưng mủ hạt điều bám dai chỉ loang ra đôi chút ở mép, không biến mất.
Tạnh mưa, bà bước ra hiên, sững người trước khoảng vách loang lổ.
“Trời ơi, đứa nào bôi bẩn hết vách nhà đây hả? Sương, Nhã?”
Hai cái đầu nhỏ thò ra cửa, mặt xanh đỏ.
“Con rồng của con đó má!” Sương ưỡn ngực, giọng run run.
“Chị Sương vẽ á má.”
Nhã chỉ tay vào chị mình, như đang khai báo tội trạng.
Người đàn ông bước ra, nhìn vách một lúc, rồi bật cười - tiếng cười sảng khoái hiếm hoi. Ông xoa đầu hai đứa:
“Vẽ đẹp đó, để vậy đi, không cạo.”
Bà lườm ông một cái, không vui, nhưng rồi cũng chỉ lắc đầu, dắt hai đứa vào nhà lau tay lau chân.
Từ hôm đó, góc hông hiên mang thêm một vết tích mới - không phải vết bỏng, không phải vết chai, mà là hình con rồng phai màu cùng một bàn tay bé xíu in hằn bên cạnh. Những vết khác trên người tôi dần mờ đi theo mưa nắng. Duy vệt màu hạt điều ấy vẫn bướng bỉnh bám lại.
Thời gian cứ thế trôi đi. Tôi cũng chứng kiến Sương và Nhã lớn lên, không còn là những đứa trẻ ngây thơ vẽ rồng lên thân tôi như ngày xưa nữa. Nhiều lần tôi nhìn thấy chúng lén giặt cổ áo thật kỹ trước khi đến lớp, thì thầm ước nhà mình có mùi nước hoa như nhà bạn học. Tôi hiểu - tôi cũng từng ước mình có mùi gỗ mới thay vì mùi khói bếp đó.
Rồi một ngày của nhiều năm sau đó, Sương mang chiếc balo to, kéo lê vali ra cổng. Sương đứng lại ở đầu ngõ, ngoái nhìn khoảng vách còn in mờ hình con rồng một lúc lâu, rồi mới quay đi. Vài năm sau nữa cũng đến lượt Nhã, nhưng trước khi đi, nó kịp đưa tay chạm nhẹ lên dấu bàn tay bé xíu của mình trên vách.
Tôi vắng dần tiếng trẻ con. Ban đầu tôi không quen được sự yên lặng ấy. Nhưng rồi cũng quen, như người ta quen với mọi mất mát, một cách chậm rãi.
Ông bà giờ đã già, tóc bạc, lưng còng, nhưng vẫn giữ thói quen cũ: bà vẫn nhóm lửa mỗi sáng dù mẻ rượu giờ chỉ để dành Tết nhà dùng; ông vẫn ngồi bên xưởng, tay không còn đủ sức bào ván lớn, chỉ còn đẽo vài chiếc chong chóng tre, vài con thú gỗ nhỏ không rõ để làm gì, hay chỉ vì đôi tay không chịu ngơi nghỉ.
Đôi lúc tôi thấy ông đưa tay chạm lên hình con rồng đã phai, đứng lặng một lúc rồi mới quay vào. Không nói gì. Có lẽ ông đang nhớ một dạo chiều tháng Sáu rất xa.
Rồi một buổi chiều, tiếng bước chân lạ mà quen bước qua cổng - Sương, giờ đã lớn, dẫn theo một đứa trẻ chỉ cao đến đầu gối mình.
Đứa trẻ chạy khắp sân, sà vào bếp nơi má Sương đang lúi húi bên nồi rượu nhỏ, chun mũi:
“Mẹ ơi, sao nhà bà ngoại có mùi lạ vậy?”
Sương cười - nụ cười giống hệt nụ cười của ba Sương ngày xưa - bế con lại gần, nhìn sang khoảng bên hông hiên:
“Đó là mùi của nhà mình đó con. Hồi xưa mẹ với cậu Nhã từng vẽ con rồng ở chỗ đó đó.”
Đứa trẻ chạy đến áp bàn tay bé xíu lên dấu tay đã phai của cậu, so xem tay ai to hơn, rồi cười khanh khách.
“Sao mẹ không bị la vậy?”
Sương bật cười: “Mẹ có bị la chứ, nhưng ông ngoại nói để vậy, không cạo.”
Tôi ở yên đó, cảm nhận mùi hèm rượu và mùi mùn cưa vẫn còn đâu đó trong những thớ gỗ cũ, cùng hơi ấm của một bàn tay nhỏ vừa chạm lên vệt màu đã phai.
Tôi không biết mình còn đứng vững được bao nhiêu mùa mưa nữa. Mái tôn đã bạc, vách gỗ đã ngả màu, hình con rồng nơi hông hiên cũng chỉ còn vài đường đỏ cam mờ nhạt. Nhưng gian bếp vẫn còn một góc để nhóm lửa, và dấu bàn tay nhỏ năm nào vẫn còn đó. Hôm nay, bên cạnh “tranh rồng” lại có thêm một bàn tay khác.
Ngày trước, hai đứa trẻ từ nơi này lớn lên rồi rời đi. Bây giờ, một trong hai đã trở về, dẫn theo một đứa trẻ khác, để bàn tay bé xíu ấy chạm đúng vào nơi bàn tay mình từng chạm.
Mùi hèm rượu vẫn còn. Mùi mùn cưa vẫn còn. Có lẽ một ngày nào đó chúng cũng sẽ phai đi, như con rồng trên vách, như mọi dấu vết mà thời gian đã để lại trên người tôi.
Nhưng chừng nào vẫn còn người trở về, đứng giữa khoảng sân này và nhận ra mùi của tôi, thì chừng ấy, tôi vẫn còn là nhà.
_____ Hết_____
Đăng nhập để tham gia thảo luận
Đăng nhập