Diễn đàn

PR sẵn trong lúc chờ duyệt truyện 😄

HydeHayden · · 1 trả lời 32
Tên truyện: Người Khâm Liệm Không Muốn Rước Quỷ Về Nhà Thể loại: BL, linh dị - Ba giờ sáng, phòng khâm liệm của Nhà tang lễ Phúc An lạnh tới mức hơi thở của Lê Hoài Anh đọng thành khói trên mép khẩu trang. Cái máy lạnh cũ trên tường chạy hết công suất từ chiều, cánh quạt thỉnh thoảng lại kêu lạch cạch. Cậu kéo cần đèn bàn xuống sát mặt người chết rồi mở hộp phấn. Bà cụ nằm trên bàn inox tên Nguyễn Thị Tư, tám mươi bảy tuổi, mất lúc chín giờ tối qua tại nhà riêng ở An Phú Tây. Con cháu đặt giờ nhập quan lúc năm giờ sáng. Lúc giao hồ sơ, cô con gái út dặn tới ba lần rằng má cô hồi sống thích làm đẹp, đi chợ cũng phải tô son. "Màu đó già quá con ơi." Hoài Anh không ngẩng lên. Hồn bà Tư ngồi vắt vẻo trên mép bàn, ngay cạnh hai bàn chân của chính bà, đong đưa đôi dép tổ ong trong không khí. Bà mặc bộ bà ba lụa màu hột gà, cái bộ con cháu đã ủi sẵn và treo trên móc ở góc phòng. Hồn người chết thường mặc thứ họ muốn được mặc nhất. "Màu này hợp với da bà mà," cậu nói, giọng nghèn nghẹt sau lớp khẩu trang. "Hợp gì mà hợp. Bà muốn màu đỏ cờ, cái thỏi trong túi xách của bà đó. Con Út nó nhét vô ngăn kéo tủ thờ rồi, con ra kêu nó đem vô." Hoài Anh đặt cây cọ xuống khay. Cậu nhìn đồng hồ treo tường, rồi nhìn khuôn mặt bà cụ dưới ánh đèn bàn. Da bà mỏng, chảy xệ hai bên gò má, má hóp sâu tới mức phải độn bông vào trong mới đánh phấn đều được. Cậu đã làm xong phần nền và phần mắt, chỉ còn đôi môi. "Bà ngồi yên đó, đừng có đụng vô cái gì." "Bà đụng được cái gì mà con dặn." Cậu tháo găng, rửa tay ở bồn inox, rồi đi ra hành lang. Phòng quàn số hai ở cuối dãy còn sáng đèn. Con rể và cô con gái út của bà Tư nằm co trên hai dãy ghế nhựa ghép lại, đắp chung một tấm khăn tắm. Hoài Anh đứng ở cửa hắng giọng hai lần thì cô Út mới mở mắt. "Dạ, chị cho em hỏi thỏi son của bác để ở đâu ạ?" Cô Út dụi mắt, ngồi dậy, tóc rối bù một bên. "Son gì em?" "Thỏi son màu đỏ trong túi xách của bác. Em nghĩ bác thích màu đó hơn." Cô nhìn cậu một lúc lâu, rồi lục cái túi nilon dưới gầm ghế. Thỏi son nằm trong một cái ví vải đã sờn, cùng với xâu chìa khóa và mấy tờ vé số ngày hôm qua. Cô đưa cho cậu bằng cả hai tay. "Sao em biết má chị xài màu này?" "Đoán thôi chị," Hoài Anh nói. "Nhìn bác, em đoán bác thích màu tươi." Cậu nói câu đó nhiều lần tới mức thuộc lòng. Người nhà nào nghe xong cũng gật đầu, vì họ cần tin rằng người khâm liệm cho má họ có con mắt tinh. Không ai muốn nghe sự thật rằng má họ đang ngồi trên bàn inox và chê thợ chọn màu. Khi cậu quay lại, hồn bà Tư vẫn ngồi chỗ cũ, cười móm mém. "Thấy chưa, bà nói có sai đâu." Hoài Anh mang găng mới, xoay đáy thỏi son lên. Màu đỏ cờ đã khô bớt ở đầu, cậu phải lấy cọ quẹt nhẹ cho mềm rồi mới tán lên môi được. Cậu tô viền trước, tô lòng môi sau, rồi dặm thêm một lớp phấn hồng rất mỏng lên hai gò má cho hợp với màu son. Khuôn mặt bà cụ ấm lên dưới ánh đèn. Hồn bà Tư cúi sát xuống ngắm mặt mình. Bà im một lúc lâu, lâu tới mức Hoài Anh tưởng bà đã đi. "Đẹp ha con," bà nói, giọng nhỏ hẳn lại. "Dạ, đẹp lắm bà." "Ông nhà bà mất hồi bảy lăm. Bữa đám ổng, bà tô đúng màu này. Bà muốn ổng nhận ra bà." Hoài Anh không nói gì. Cậu cầm cây lược thưa chải lại mái tóc bạc của bà cụ, búi gọn sau gáy, cài một cây trâm nhựa mà cô Út để trong túi đồ. Đây là phần cậu thích nhất trong nghề này. Người chết không cần ai nói chuyện với họ, họ chỉ cần được đẹp lần cuối. Bà ngoại cậu dạy cậu câu đó hồi cậu mười hai tuổi. Bà làm nghề khâm liệm bốn mươi năm ở chính căn phòng này, dưới thời ông chủ cũ, rồi tới thời chú An. Năm cậu hai mươi mốt tuổi, bà mất. Chính tay cậu khâm liệm cho bà, tô cho bà màu son nâu đất bà vẫn dùng mỗi dịp Tết. Hồn bà không ở lại. Bà đi ngay trong đêm, nhẹ hơn mọi người cậu từng tiễn, và cậu chưa bao giờ hiểu vì sao điều đó làm cậu buồn. Đèn tuýp trên trần nháy một cái. Hoài Anh ngẩng lên. Đèn trong phòng khâm liệm thay mới hồi Tết, chú An chửi cả tuần vì tiền điện. Nó nháy thêm hai lần nữa, rồi tắt hẳn. Chỉ còn cái đèn bàn trên tay cậu chiếu một vòng sáng vàng lên khuôn mặt bà Tư. Không khí trong phòng đổi khác. Hơi lạnh khô từ máy lạnh chích vào đầu ngón tay. Cái lạnh đang tràn vào từ hành lang thì đặc và nặng, đè xuống vai cậu như một tấm chăn ướt. Mùi cồn trên khay dụng cụ tự nhiên nhạt đi. Thay vào đó là mùi bùn sông, mùi nhang tàn để lâu ngày. "Trời đất ơi," hồn bà Tư thì thào. "Cái gì vậy con?" Hoài Anh chưa kịp trả lời thì bà đã biến mất. Bà biến mất nhanh tới mức đôi dép tổ ong còn lơ lửng trong không khí một giây rồi mới tan theo. Ngoài hành lang vang lên những tiếng động mà người sống không nghe được. Ông cụ đột quỵ ở phòng quàn số một chạy qua trước cửa bằng chân trần. Cô gái bị tai nạn giao thông nằm trong ngăn lạnh số bốn chạy theo sau, tay ôm chiếc mũ bảo hiểm vỡ. Đám hồn vãng lai hay đậu trên mái tôn nhà xe cũng bay tán loạn, lao qua tường, qua trần, chui vào mọi khe hở có thể chui được. Trong vòng nửa phút, Nhà tang lễ Phúc An không còn một hồn ma nào. Hoài Anh làm thợ khâm liệm gần bảy năm, thấy ma từ năm bảy tuổi. Cậu chưa từng thấy chuyện này. Cậu đặt cây lược xuống, chậm rãi quay đầu về phía cửa phòng lạnh. Một người đàn ông đứng ở đó. Hắn cao, cao hơn cậu một cái đầu, vai rộng choán gần hết khung cửa. Hắn mặc áo dài the đen chấm gối, vải mỏng tới mức nhìn thấy cả lớp áo lót trắng bên trong. Cùng với đó là quần lãnh trắng, chân đi giày hàm ếch. Tóc hắn búi sau gáy, khăn đóng trên đầu lệch hẳn sang một bên, mấy sợi tóc dài sổ ra lòa xòa trước trán. Mặt hắn góc cạnh, gò má cao, sống mũi thẳng, cằm vuông có một vết sẹo nhỏ. Nước da hắn tái nhợt, một màu cậu nhìn quen trên những xác chết trên bàn inox. Hắn đứng im, hai tay buông thõng, nhìn cậu chằm chằm. Hoài Anh hiểu ngay vì sao cả nhà tang lễ chạy sạch. Hồn ma bình thường giống một vệt khói, nhìn kỹ thì thấy được bức tường sau lưng họ. Người đàn ông này đặc như đá. Cái bóng của hắn đổ dài trên nền gạch, dù trong phòng chẳng có ngọn đèn nào chiếu về phía hắn. Không khí quanh người hắn gợn lên từng đợt, giống mặt đường nhựa lúc trưa nắng. Hắn là quỷ. Một con quỷ mạnh tới mức đám ma trong vòng ba con hẻm đánh hơi thấy là bỏ chạy. Hoài Anh làm điều duy nhất cậu biết làm khi gặp thứ không nên dây vào. Cậu quay lại với bà Tư, cầm cây chì kẻ mày lên, và giả mù. "Ngươi thấy ta, phải không?" Giọng hắn trầm, hơi khàn, mang âm điệu Nam Bộ cũ mà Hoài Anh chỉ nghe trong mấy bộ phim xưa ông ngoại hay coi. Chữ "ta" kéo dài một chút ở cuối. Hoài Anh kẻ một nét chân mày bên trái cho bà Tư. Tay cậu vững. Gần bảy năm làm nghề, tay cậu chưa từng run trước một cái xác nào, và cậu không định để nó run trước một con quỷ. "Ta hỏi ngươi đó." Hắn bước hẳn vào trong phòng khâm liệm. Giày hắn không phát ra tiếng nào trên nền gạch, nhưng mỗi bước hắn đi, nhiệt độ lại tụt xuống thêm một chút. Hoài Anh nghe tiếng nước đọng trong ống máy lạnh kêu lách tách, đông lại thành đá. Cậu kẻ nét chân mày bên phải. Con quỷ dừng lại ở cạnh bàn inox. Hắn nghiêng đầu, nhìn khuôn mặt bà Tư, rồi nhìn cậu. Rồi hắn làm một việc Hoài Anh không ngờ tới. Hắn vén vạt áo dài, leo lên bàn inox rồi ngồi chồm hổm xuống ngay trên đó, hai khuỷu tay chống lên đầu gối, cằm kê lên mu bàn tay. Khuôn mặt hắn cách mặt cậu chưa tới một gang tay. "Ngươi thấy ta," hắn nói, lần này là câu khẳng định. "Lúc ta bước vô, vai ngươi cứng lại. Ta đứng ngoài hành lang mười mấy phút rồi. Ngươi nói chuyện với con mẹ già đó, ta nghe hết." Hoài Anh lấy bông tẩy một vệt chì lem ở đuôi mày. "Ngươi chọn màu son giỏi lắm. Hồi xưa má ta cũng xài màu đỏ đó mỗi khi đi đám cưới." Cậu dặm lại phấn ở sống mũi. "Ngươi tên gì?" Cậu thoa một lớp sáp dưỡng mỏng lên đôi môi bà Tư cho son khỏi khô. Con quỷ không đi. Hắn cứ ngồi chồm hổm ở đó, nhìn cậu làm việc. Thỉnh thoảng hắn lại bình phẩm. Hắn chê phấn màu xám quá. Hắn khen cây trâm cài tóc đẹp. Hắn hỏi cái hộp màu trắng kêu ro ro trên tường là cái gì. Không ai trả lời, nên hắn tự kết luận nó là một loại lò ướp. Hoài Anh làm xong phần mặt rồi chuyển sang phần tay. Cậu lau từng ngón tay bà cụ bằng khăn ấm, cắt móng, giũa móng, thoa kem dưỡng. Con quỷ dời chỗ ngồi theo cậu, từ đầu bàn xuống giữa bàn, vẫn chồm hổm, vẫn kê cằm. "Ngươi làm nghề này lâu chưa?" Hoài Anh thay quần áo cho bà Tư. Cậu nâng vai bà lên, luồn tay áo bà ba qua cánh tay cứng đờ, gài từng hạt nút. Việc này cần hai người, nhưng ca đêm ở Phúc An chỉ có mình cậu. Cậu đã quen làm một mình. "Ta phụ ngươi một tay được không?" Đó là câu đầu tiên làm Hoài Anh suýt đáp lại. Cậu nghiến răng, nâng nốt bên vai còn lại, kéo vạt áo cho thẳng. Đồng hồ trên tường chỉ ba giờ bốn mươi. Con quỷ đã ngồi bên cạnh cậu bốn mươi phút. Suốt bốn mươi phút, hắn nói không ngừng, giọng đều đều, câu hỏi nối câu hỏi. Hắn nói như đã bị nhốt quá lâu, quên cả cách im lặng. Hắn hỏi cậu bao nhiêu tuổi, quê ở đâu, có vợ chưa. Hắn hỏi cái áo trắng cậu đang mặc làm bằng vải gì mà láng vậy. Hắn hỏi tại sao cậu đeo cái miếng vải che miệng, cậu bị bệnh gì hay sao. Hắn hỏi năm nay là năm gì. Cậu đang buộc dải vải trắng quanh cổ tay bà Tư thì hắn ghé sát lại, gần tới mức hơi lạnh từ người hắn phả lên má cậu. "Ngươi giả đui giỏi thiệt," hắn thì thầm. "Nhưng ta có cả đêm, cả năm, cả trăm năm nữa. Ta ngồi đây coi ngươi giả tới chừng nào." Hoài Anh buông dải vải ra. Cậu tháo khẩu trang, quay mặt sang, nhìn thẳng vào mắt con quỷ. Mắt hắn đen, đen đặc, không có ánh phản chiếu nào của ngọn đèn bàn. "Ông cố nội ơi, ông có im được một phút không? Ông ngồi sát cái mặt tôi bốn chục phút rồi đó. Muốn hù thì hù đi, muốn ăn thì ăn đi, chứ đừng có ngồi đó hỏi tôi có vợ chưa. Tôi đang làm việc!" Câu chửi vang trong phòng khâm liệm, âm thanh dội vào tường gạch men. Cậu nghe tim mình đập thình thịch trong lồng ngực. Cậu biết mình vừa làm một chuyện rất ngu ngốc. Con quỷ chớp mắt một cái, rồi hắn cười. Tiếng cười bật ra từ ngực hắn, lớn và rền vang, lan ra khắp căn phòng. Hắn ngửa đầu ra sau mà cười, cười tới mức khăn đóng rớt khỏi đầu và tan thành khói trước khi chạm đất. Ngoài hành lang, bóng đèn tuýp nổ đánh bốp một tiếng. Rồi bóng thứ hai, bóng thứ ba, nổ lần lượt dọc theo dãy hành lang cho tới tận phòng quàn số hai. Hoài Anh nghe tiếng cô Út hét lên, tiếng người con rể lật đật ngồi dậy hỏi chuyện gì vậy. Con quỷ vẫn cười. Hắn chống một tay xuống bàn cho khỏi ngã, tay kia ôm bụng. Khi hắn ngẩng lên nhìn cậu, mắt hắn ướt. "Trời đất," hắn nói, giọng vẫn còn rung vì cười. "Trời đất ơi, ngươi chửi ta." "Ông muốn tôi chửi thêm không?" "Muốn chớ, muốn lắm," hắn nói. "Ngươi biết bao lâu rồi mới có người chửi ta không?" Hoài Anh không biết. Cậu chỉ biết bóng đèn hành lang bể hết và chú An sẽ trừ lương cậu. Con quỷ trước mặt cậu thì đang cười như một đứa trẻ vừa được cho kẹo. "Gần một trăm tám chục năm," hắn tự trả lời, lần này giọng nhỏ lại. "Một trăm tám chục năm ta đi khắp cái xứ này. Ta nói với người sống, người sống không nghe. Ta nói với hồn ma, hồn ma chạy mất. Ngươi là đứa đầu tiên nhìn vô mặt ta mà nói chuyện." Hắn xuống khỏi bàn và đứng dậy. Hắn cao tới mức phải cúi đầu mới khỏi chạm cái đèn tuýp đã tắt trên trần. Hắn phủi vạt áo dài, mặc dù trên đó chẳng có hạt bụi nào, rồi chắp tay sau lưng. "Ta tên Huỳnh Phong," hắn nói. "Ta chỉ nhớ có cái tên đó. Còn ngươi tên gì?" Hoài Anh nhìn hắn rất lâu. Ngoài hành lang, cô Út đang gọi điện cho ai đó, giọng run run kể chuyện đèn nổ. Trên bàn inox, bà Tư nằm yên trong bộ bà ba màu hột gà, đôi môi đỏ cờ dưới ánh đèn bàn. Cậu kéo khẩu trang lên lại, cầm dải vải trắng lên, tiếp tục buộc cổ tay cho bà cụ. "Tôi đang làm việc," cậu nói. "Ông ra ngoài kia ngồi đi. Tôi làm xong rồi nói." Huỳnh Phong nhướng một bên mày. Bất ngờ thay, hắn làm theo. Hắn đi ra cửa, ngồi xuống bậc thềm phòng lạnh, quay lưng về phía cậu, chân duỗi dài ra hành lang tối om. Hoài Anh buộc xong dải vải. Cậu đứng nhìn tấm lưng áo dài đen ở cửa phòng, nghe tiếng máy lạnh kêu lạch cạch trở lại, và biết chắc một điều. Đêm nay sẽ còn kéo dài rất lâu.

1 trả lời

HydeHayden
Sao đoạn văn dính lại với nhau hết vậy trời huhu

Đăng nhập để tham gia thảo luận

Đăng nhập