Con quỷ em ngược duyên ngược số
Chương 16
- Miền giữa hả? Thực ra miền giữa tôi không có rành cho lắm. Giọng nói thì mỗi nơi một kiểu, nhưng phương ngữ thì có một vài cái chung mà tôi thấy suốt từ Thanh Hóa, Nghệ An vô tận Quảng Nam, Đà Nẵng (Bắc Trung Bộ và Trung Trung Bộ) rất giống nhau nên liệt kê cho nó nghe tóm tắt như vầy: Nếu hai miền trong ngoài mà hỏi “Cái gì vậy?”, “Cái gì thế?” thì miền giữa lại hỏi “Cái chi rứa?”. Tương tự, bên í/bên đấy của miền ngoài, bên bển của miền trong thì miền giữa chơi bên nớ; ngoài ra còn bên tê tức là bên kia, bên ni tức là bên đây hoặc bên này, bên tê tề là bên kia kìa. Mà từ ni cũng dùng để nói về thì hiện tại nữa, như: bữa ni (tùy ngữ cảnh có thể hiểu là hiện giờ, dạo này, hồi nay, ngày hôm nay), thời ni (thời nay, ngày nay; nhưng tôi thấy người ta dùng từ thời chừ/giừ [thời buổi bây giờ] nhiều hơn). Hoặc miền ngoài miền trong mà hỏi “Sao lại thế này nhở?”, “Sao lại vầy được ta?” thì miền giữa chơi câu “Răng lại ra ri hè?”. Ri là thế này, vầy (có lẽ do nói lướt hai từ rứa ni mà ra vậy chăng?); còn răng là sao; trong khi hè là một dạng từ tình thái, không phải cái hiên nhà hay mùa hạ. Rồi, tiếp nữa. Nếu miền trong miền ngoài mà hỏi “Đi đâu đó?”, “Đi đâu đấy?” thì miền giữa lại hỏi “Đi mô nớ/đó?”. Mô là đâu, cũng là nào, như câu “Chỗ ni chỗ mô ri bây?” (Chỗ này là chỗ nào đây chúng mày?). Hay câu “Em có biết gì đâu nè/nào” của hai miền trong ngoài thì miền giữa lại nói “Em có biết chi mô mồ/nờ/nạ”. Trong đó, mô mồ là một cách lặp từ biến đổi âm điệu hơi bị hay, nghe rất xuôi và mượt, như cặp từ tê tề cũng na ná vậy, ngoài ra nó còn có ở trường hợp của từ ni nữa. Ví dụ khi bạn thân gọi nhau “Cún ây! Lại đây tao bảo cái này này!”, “Ê quỷ! Qua biểu này nè!” của miền ngoài và miền trong thì miền giữa sẽ nói “Ới mi ơi! Tới tau nói cho nghe cái ni nì!”, hơi bị nhẹ nhàng tình cảm, ờ, nhất là tụi con gái Huế với Quảng Trị mà nói câu này nghe dễ thương cực kỳ luôn. À, ở miền giữa gọi xưng mi - tau tức là mày - tao của toàn dân á anh em nghe. Đặc biệt, ở miền giữa khi gọi một cô gái trẻ, một người phụ nữ ít tuổi hơn ba mình hoặc chị em gái trong hàng thân thích của ba thì sẽ dùng tiếng o, nó chính là tiếng cô ở hai miền còn lại. “O ơi! Khi mô o vô trong nớ thì báo con biết với o ới!”; rồi thì “Hấy! O ni cũng là giáo viên à? Rứa thì ta cứ kêu bằng ‘cô’ cho nó tôn sư trọng đạo bà con hỉ!”; hay như bài thơ của cụ Tố Hữu mà quỷ em nó vừa đọc cho tôi, trỏng có nói về hình ảnh đẹp của một nữ dân quân Hà Tĩnh thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, tay cầm súng áp giải tù binh phi công trong Chiến dịch Sấm Rền của địch: “O du kích nhỏ giương cao súng Đó, đại loại vậy. Mà tôi nói thiệt là cái tiếng o này nghe nó nhẹ nhàng dễ thương gì đâu. Tôi còn nhớ mấy đứa bạn miền giữa của tôi ra ngoải học á, lúc tụi nó nói chuyện với người miền ngoài thì vẫn gọi bằng cô bình thường, nhưng hễ gặp người cùng quê miền Trung với nhau là chuyển sang gọi bằng o nghe rất ngọt. Tụi nó bảo gọi vậy cho nó thân thương, gần gũi. Ừm, tôi công nhận tụi nó nói không có sai, bởi ngay đến tôi là người ngoài cuộc nhưng khi nghe tụi nó xưng hô với người cùng miền với nhau như vậy, cảm giác đó nó cũng lan tỏa sang người tôi luôn kìa. Ngoài tiếng o độc đáo thì miền giữa còn một từ nữa - hắn, hai miền trong ngoài gọi là nó. “Hắn đi thi mà quên mang thẻ sinh viên rồi. Lúc trưa tau bảo đeo luôn trên người mà không chịu nghe. Đúng là cái thằng trốc tru!” - câu này của thằng bạn người Nghệ An học chung lớp đại học với tôi nè. Trốc tru là đầu trâu á mấy ông; ý nói cứng đầu, cố chấp, ngang bướng quá thể đó. Ờ, nhưng mà nghe không có nặng nề chút xíu nào hết, ngược lại tôi còn thấy nó hài thiệt sự, nghĩ đúng mắc cười. Lại có một từ tôi thấy ở miền giữa mà người miền trong cũng xài, đó là từ mần. “Bi chừ mà không mần ruộng thì biết mần chi nữa mô” (Bây giờ mà không làm ruộng thì biết làm gì nữa đâu), “Chứ mình đau mần răng?” (Chứ trong người ốm/bệnh làm sao?), “O Uyển bữa ni ra trường mần cán bộ rồi hỉ?” (Cô Uyển giờ ra trường làm cán bộ rồi nhỉ?). Nhưng cách dùng nó giữa khu vực Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ có hơi khác nhau chút xíu. Cụ thể, theo tôi được biết thì ở Đông Nam Bộ, người ta thường mượn phong cách dân giã thôn quê của từ mần này để tếu táo hài hước với nhau thôi, như kiểu “Cái gã đó suốt ngày lui tới mần trò để cưa cẩm con Diễm, riết tao hổng có thấy gã lo mần ăn gì trơn trọi”, chứ bình thường từ làm vẫn được nói phổ biến; ngược lại, ở Tây Nam Bộ người ta dùng nó trong mọi trường hợp luôn, như: mần thịt con gà, đi mần mướn, mần vườn mần ruộng, gả con gái đi mần dâu,... Hay như từ chi tức là gì hoặc cái gì, miền trong và miền giữa đều có y hệt. Nhưng tôi thấy người miền trong lại dùng từ chi này để ám chỉ cho cụm từ làm gì nhiều hơn: “Ủa tự nhiên hỏi chi?”, “Thôi thôi! Đừng có nhắc tới nó chi cho mệt!” hay “Mày kêu mày ghét nó mà giờ còn lết cái xác qua đây chi mậy?”. Riêng trường hợp câu hỏi “Chi đó?”, tùy ngữ cảnh có thể hiểu là “Tính làm cái gì đó?” hoặc “Cái gì đó?”, và câu trả lời “Chi đâu” cũng tùy ngữ cảnh mà có thể hiểu là “Đâu có làm gì đâu” hoặc “Có gì đâu”. Này có lẽ vì thói quen nói lướt, lược bớt câu từ nên nó mới ra như vậy. Rồi, tiếp. Ngoài từ mần và chi ở trên, cả từ rày mà tôi nói lúc đầu thì còn có mấy từ như bồng, chớ, vô, kêu, tụi, bây (chúng mày), nom, dòm, coi,... là tôi thấy hai miền trong và giữa chung cách nói tương tự, thậm chí việc gộp chung thanh “hỏi” với thanh “ngã” cũng y chang luôn. Này hẳn vì hầu hết tổ tiên người Kinh mình ở Nam Bộ đều từ Trung Bộ theo chân các đời chúa Nguyễn vào khai hoang mở đất xứ Đàng Trong cho nên nó mới như vậy. Thành thử, không có gì lạ khi tôi thấy lớp từ xưng hô trong họ hàng của miền trong và miền giữa nhìn chung nó cũng giống nhau luôn: Nếu miền ngoài gọi bác để chỉ anh chị của cha mẹ mình thì miền giữa và miền trong chỉ kêu bác cho anh và chị dâu (họ hàng hoặc ruột thịt) của cha thôi, chứ em gái hay chị của cha đều kêu bằng cô hoặc o hết, còn lại anh chị hay em của mẹ cũng đều kêu bằng dì hoặc cậu. Thêm nữa, nếu miền ngoài gọi chồng của cô hoặc của dì là chú thì miền giữa và miền trong lại kêu bằng dượng. Ở ngoải, dượng là tiếng gọi cha kế, cha ghẻ; Chỉ có một khác biệt chút xíu là mấy đứa bạn người Thanh Hóa của tôi, tụi nó bảo ở quê vẫn còn dùng tiếng già để kêu chị ruột của mẹ, còn chị em họ hàng của mẹ thì kêu bằng dì. Nghe xong, tôi mới biết tại sao lại có cụm danh từ “con dì con già” để chỉ mối quan hệ họ hàng giữa hai người là con của hai chị em gái với nhau ớ nghe (như sau này con của quỷ em tôi với con của bé Chép thì gọi là anh chị em con dì con già). Nó cũng như quan hệ họ hàng “con cô con cậu”, “con chú con bác” vậy đó (tôi với nhỏ em nhà cô dượng là anh em con cô con cậu, mà với thằng Khoai và con Bắp nhà chú thím tôi hay ông Bo nhà bác hai thì là anh em con chú con bác). Điều này chứng tỏ cách xưng hô họ hàng của miền trong và miền giữa vẫn còn giữ gìn truyền thống từ đời tổ tiên mình đó chứ. Riêng miền ngoài thì tôi không biết tại sao và từ khi nào lại thay đổi, làm hai trong ba cụm danh từ trên nếu muốn áp dụng cho miền ngoài thì phải là “con bác gái con cậu” và “con dì con bác gái”, xong còn phải thêm “con cô con bác trai” nữa thì nó mới đủ cho ba chiều quan hệ họ hàng; Mà ở trển mới là tiếng hô của mình với người trên, còn về tiếng xưng thì miền trong và miền giữa thường xưng con với người lớn tuổi cho dù không phải ba mẹ mình; trong khi miền ngoài chỉ dùng tiếng con để xưng với bố mẹ hoặc khi cầu khấn với thần linh thôi, với những người lớn tuổi khác thì xưng cháu (nhưng có vẻ như cách xưng con đang được du nhập và dần trở nên phổ biến thì phải). Rồi, giờ lại nói về... ờ, tình thái từ đi ha. Nhớ hồi ở chơi nhà thằng bạn học chung đại học người Huế, tôi hay nghe người ta dùng mấy từ như nghe, hè, hỉ, hí, khá là ít. Người ở những nơi khác còn có mấy từ hầy, hẩy, nà, nạ, nợ,... Tôi không thực sự rành, nên lại nhắc nó nếu muốn biết thì phải trực tiếp nghe hoặc nói chuyện với người địa phương nhiều mới hiểu hết được; chứ kiến thức của tôi hạn chế lắm, không có đủ cho nó học hiểu. - À dạ. Vậy mai mốt nếu có dịp ra Huế chơi, để em đích thân trải nghiệm coi như nào hén. - Ừm. Tùm lum một hồi thì tôi chỉ nhớ được cơ bản có nhiêu đó à, trong khi thực tế nó còn nhiều lắm, kể đây không xuể. Miền giữa tôi không rành nên không nói, chứ tính ra tôi ít nhiều đã bị trộn lẫn từ ngữ của hai miền còn lại rồi á mấy ông. Thành thử trong lời kể của tôi, mấy ông sẽ thường xuyên bắt gặp tôi dùng xen cả từ ngữ miền ngoài. Tôi biết chớ, nhưng cái đó tôi nghĩ không quan trọng. Vì tương lai khi truyền thông và mạng xã hội phát triển rộng rãi thì phương ngữ ba miền rồi sẽ hòa nhập vào nhau hết thôi, cỡ lứa 2000 trở đi có lẽ sẽ không còn ai phân biệt nữa, đó cũng là một điều rất có lợi khi mà nó giúp tăng thêm vốn từ cho mọi người giao tiếp đa dạng, còn thu hẹp khoảng cách văn hóa vùng miền để anh em mình xích lại gần nhau hơn. Duy chỉ có giọng nói đặc trưng của mỗi miền thì tôi vẫn phân biệt rạch ròi. Khi ở Hà Nội, tôi sẽ nói giọng Bắc; khi vào Sài Gòn, tôi lại nói giọng Nam của quê tôi; còn giọng Huế hay mấy nơi khác ở miền giữa thì tôi chịu, khó quá, tôi không học theo được. Và chỉ mất chừng một tháng nghiêm túc tập luyện thì tôi đã nói được giọng gần như người Hà Nội, bằng cách thường xuyên đọc to rõ ràng những cuốn truyện hay một văn bản bất kỳ mà tôi thấy được bằng giọng Hà Nội nhân lúc rảnh rỗi cho quen. Dĩ nhiên không ai đòi hỏi tôi khi ở ngoải thì phải nói giọng miền ngoài, tôi cũng không phải người có hoàn cảnh vì giọng quê quá khó nghe nên phải luyện nói một giọng phổ thông hơn để tìm kiếm cơ hội học tập và việc làm ở những thành phố lớn (như mấy anh em Nghệ An, Quảng Nam hay Phú Yên, Bình Định); mà đơn giản là tôi thích như vậy để trau dồi kỹ năng cho đa dạng, cho mình có nhiều trải nghiệm thú vị hơn thôi. Trùng hợp sao tôi cũng giống cô út tôi điểm đó, hai cô cháu đều nói được giọng của cả hai miền. Đang nói chuyện với dượng và con nhỏ em thì rõ là giọng Hà Nội, đùng cái quay qua nói chuyện với nhau liền chơi giọng Sài Gòn; làm cho dượng với nhỏ em thời gian đầu cứ lác mắt dòm hai cô cháu luôn chớ. Nghĩ đúng hài gì đâu. Tới đây, để tôi bàn sơ qua về giọng địa phương theo vùng miền một chút. Với đại diện mỗi miền là Hà Nội và Sài Gòn thôi nghe, bởi hai thành phố này được lấy làm chuẩn phương ngữ Nam Bộ và Bắc Bộ. Riêng tôi thì tôi thấy giọng miền trong đa số phát âm bị lệch so với tiêu chuẩn quốc tế hơn, ừm, cái này tôi công nhận: Ví dụ như phụ âm kép qu, âm vị theo IPA là /kw/, miền trong đồng nhất nó với /hw/ (khi phụ âm đầu h đi với âm đệm u hoặc o trong những vần uyêt, uênh, uynh, uych, uy, uơ, uê, uân, uyên, oăng, oang, oan, oa, oai, oay, oanh, oach, oăc, oe, oen) để cùng phát âm chung là /w/; Rồi phụ âm đầu kh, trong một số trường hợp khi đi với các vần cũng có âm đệm u hoặc o thì bị phát âm thành ph và lược bỏ luôn âm đệm như phẻ phắn (khỏe khoắn), phái chí (khoái chí), đêm phia (đêm khuya). Cái này hổng biết có liên quan gì tới tiếng Quảng Đông từ thời người Hoa chạy nạn Mãn Thanh xin làm dân chúa Nguyễn hay không; bởi tôi từng nghe người Quảng Đông phát âm tên của danh tướng Phàn Khoái phò tá Lưu Bang là “Phàn Phai” rồi (Việt bính: Faan4 Faai3), y hệt thổ âm miền Nam vậy; hoặc có thể nó được thừa kế phần nào đó từ chính người Kinh ở Bắc Trung Bộ luôn, như tiếng vùng quê của thằng bạn người Thanh Hóa của tôi thì khỏe khoắn bị phát âm là “khẻ khắn”; Lại một trường hợp khác, như vần chính tả là in, inh, âm vị lần lượt là /in/, /ïŋ/; miền trong gom vào phát âm chung thành /ɨn/ (là âm vị của vần ưn). Rõ ràng i là nguyên âm gốc của vần, mà rồi đánh vần xong lại biến i - /i/ thành ư - /ɨ/ được mới hay. Và đó là một sai lệch không thể chối cãi; Hay vần chính tả anh - /ajŋ/ cũng chung hoàn cảnh tương tự vậy, miền trong phát âm thành /an/ (ăn). Nếu vần chính tả là ăn thì miền trong lại phát âm thành /aŋ/ (ăng). Còn nhiều cái nữa, như âu - /əw/ thành /aw/ (au), au thành /a:w/ (ao), at - /a:t/ thành /a:k/ (ac), an - /a:n/ thành /a:ŋ/ (ang), ân - /ən/ thành /əŋ/ (âng), en - /ɛn/ thành /ɛŋ/ (eng), ên - /en/ thành /ə:n/ (ơn), ương - /ɨəŋ/ thành /ɨ:ŋ/ (ưưng, ư phát âm gấp đôi do ơ bị “ư hóa”)... Túm lại: tất cả những vần tôi vừa kể, sau khi ghép vần thì mặt chữ vẫn giữ nguyên nhưng đánh vần xong thì âm vị lại thay đổi. Cái này là do cách phát âm sai của miền trong mà ra. Và hệ quả của việc này thể hiện rõ ở mấy điểm: Nhiều người miền trong hay bị viết sai chính tả kiểu như lãng mạn, bứt phá, tá hỏa thì viết thành lãng mạng, bức phá, tá quả (do theo quán tính, lầm tưởng rằng phát âm sao thì chính tả viết vậy); lâng lâng, lác đác, liu riu viết sai thành lân lân, lát đát, liêu riêu (do hoang mang với chính lối phát âm sai lệch của vùng miền, nên tự cho rằng khi phát âm âng, ác, iu thì chính tả hẳn nhiên phải là vần ân, vần át, vần iêu); Hay thỉnh thoảng mọi người sẽ bắt gặp đâu đó trên Facebook, weblog mấy từ bị viết sai kiểu như: chiên gia, nhiều chiện, đi xa một chiến, dô (vô) diên, xiên suốt. Ấy là do vần uyên khi đi với các phụ âm đầu d, ch, x đều bị đồng nhất với vần iên và iêng để cùng phát âm là /i:ŋ/ (iing, i phát âm gấp đôi vì ê bị “i hóa”); rồi theo thói quen cứ nghĩ phát âm sao thì viết vậy nên mới ghi mặt chữ thế thôi chớ hổng có để ý gì tới chính tả; Ngoài ra còn có một trường hợp liên quan tới tên của dì tôi - Huyên. Là Huyên chứ không phải lỗi thiếu dấu của Huyền (huyên là một loài cỏ, hoa nở rất đẹp, còn gọi là cỏ vong ưu, tức quên sầu, ở Việt Nam nhiều nơi gọi là cây kim châm, tương truyền mỗi khi ăn vào thì quên đi sầu muộn, đặt tên để mong con gái mình mang tới cho mọi người cảm giác an lành; còn huyền là nhạc khí có dây dùng để gảy, đặt tên với mong muốn con gái mình mang tới cho đời niềm vui an lạc; ý là huyên nó cũng có ý nghĩa hẳn hoi chứ không phải thích đặt tên cho kêu, cho lạ). Khó đỡ ở chỗ vì cái tên Huyên này thuộc dạng hiếm nên khi nghe qua ai cũng đinh ninh nó là Quyên (quyên - /kwiən1/ và huyên - /hwiən1/ đều bị phát âm sai thành /wi:ŋ1/ [wiing]), bởi vậy tên của dì trong giấy tờ sổ sách rất hay bị viết lộn; Rồi tên của quỷ em tôi nữa. Nguyệt tức là trăng, mà trăng hay trăn thì đều phát âm như nhau hết; nên nó hay bị bạn bè trêu chọc là con trăn, cuối cùng biến thành biệt danh Nguyệt Bà Chằn vì trăn - chằn ít nhiều có sự liên tưởng. |
0 |