Chương 14: Chữ tình vốn không ràng buộc.
"Chữ tình vốn không ràng buộc, chỉ là lòng người tự nguyện nặng mang. Nợ đời vốn nặng, nợ người lại càng sâu. Người đến đời tôi như mây ghé núi. Tôi giữ người trong dạ, chỉ cầu người bình an..." *** Trời phía đông đã thôi cái màu xám đục, loang loáng nhạt dần như tro nguội. Một vệt sáng mỏng mảnh len qua rặng tre cuối làng, chầm chậm đẩy lùi màn đêm còn lẩn khuất. Mặt trời chưa chịu ló, mới chỉ nhúc nhích nhô lên, đỏ hỏn, lúng liếng như con gà mới nở, còn e dè, còn ngại ngần nhìn xuống cõi người lổn nhổn buồn vui. Giờ này, trời chưa sáng hẳn mà cũng chẳng còn là đêm tối. Là cái giờ đất trời giao nhau, người giàu say sưa, còn người nghèo thì hay tỉnh. Men theo vệt sáng lờ lợ ấy, Nhài Thanh lững thững đi. Chân nọ bước nối chân kia, lúc dừng, lúc khom người cúi xuống, đôi mắt liếc ngó tứ phía. Ruột gan cồn cào vì cái thân con Huê, nhưng Thanh tự biết việc này mà vội, mà hấp tấp, khác nào tự làm rối tay. Nhanh quá hóa vụng, gấp quá thường hỏng. Chi bằng cứ chậm rãi mà lần, bình tâm mà xét, có khi lại nên việc. Đi một vòng, rốt cuộc cũng tới cuối vườn. Cuối vườn là cái bãi rác gom từ đời nào, cũng chẳng biết có từ khi nào. Không phải bãi rác chi cho ra hồn, chỉ là một khoảng đất thấp lè tè, rơm rạ mục chất thành từng lớp, củi khô gãy gập chồng chéo. Mấy bao tải rách há miệng nằm phơi, vài mảnh vải sờn bạc màu. Mùi ẩm mốc, hôi hám ngai ngái bốc lên, quen thuộc tới mức Thanh chẳng buồn nhăn mặt. Sống lâu với cái nghèo, mũi cũng học được cách chịu đựng. Với cả chê làm gì, khi mà "rác" trong mắt người là dư dả, lại là vàng của kẻ thiếu thốn. Dân làng mà hay, rơm củi đầy đống thế kia, khéo chen chân chẳng lọt. Nhài Thanh đứng tần ngần nhìn đống rơm rạ, củi khô trước mặt. Ngần ấy thứ, nếu chịu khó gom gánh lên chợ huyện, khéo cũng đổi được mấy đồng lẻ. Tuy không nhiều, nhưng cũng đủ được mấy bát cháo loãng. Hay là lấy rơm này lót xuống, rải lá na lên trên rồi vào việc. Lấy gì, làm gì cho nhuyễn cho dập? Thì lấy chân dậm chứ sao, vừa nhanh vừa đỡ mất công. Thanh ưng bụng, nghĩ cũng xuôi xuôi. Nhài Thanh thở hắt ra một hơi dài. Xuôi cái gì? Tự dối mình cũng thấy ngớ ngẩn. "Hừm…" "Giời ạ, cái con Huê… sao mình phải hầu phải hạ nó đến thế này không biết!" Than thì than vậy, nhưng suy nghĩ và hành động lại trái ngược. Lời nói quay một nẻo, ý nghĩ đi một đường. Thanh đưa chân lên, đá đánh "bụp" một cái vào đống rơm cho bõ tức. "Rách việc… á a ui!" Nhài Thanh rú lên, tay ôm lấy chân, nhảy cẫng lên một cái: "Chân vàng chân ngọc của dở ơi..." Chân nào vàng ngọc cho cam. Toàn sẹo cũ với vết chai chồng vết chai. Nhưng quen mồm thì cứ kêu thế cho đỡ tủi thân. Thanh cúi xuống, vừa xoa vừa lầm bầm: "Thứ chi mà cứng như đá… Đúng là đời, cái mềm thì hiếm, cái cứng thì thừa. Tổ cha cái giống bạc phúc! Bố tổ cái số long đong!" Thanh cúi người xuống, bới bới đống rơm đã nát bươm vì mưa nắng dầm dề. Rơm lẫn đất tơi ra dưới tay, mùi ngai ngái bốc lên. Sờ soạng một hồi, ngón tay Thanh đụng trúng thứ gì đó cứng ngắc, to to. Theo cảm nhận, nom không phải cục đá thường thấy. "Đây rồi. Bắt được rồi nhớ…" Dở cười khành khạch: "Cái thứ chi kỳ cục, làm chân dở đau thấy mồ." Thanh siết tay, nắm cho chắc rồi giật mạnh. Rơm bay tứ tung, đất cát rơi lả tả. Vật kia lộ nguyên hình, nằm chỏng chở trên tay dở. Thanh nheo mắt nhìn. Là gỗ. Nhưng… gỗ gì tào lao vậy trời? Đây không giống khúc củi khô gãy gập kia. Nó là một đoạn thân cây nhỏ, bị đẽo đẽo khoét khoét dở dang. Bên trong rỗng, lòng gỗ sần sùi, nham nhở, chỗ sâu hoắm chỗ cạn cợt, chẳng ra hồn gì. Nhài Thanh đưa tay chọt thử vô cái chỗ rỗng. Gỗ còn chắc, thớ vẫn liền lạc, chưa mục, cũng chẳng nứt, chỉ là hình thù xấu xí, quá thô kệch. Thứ này dùng để làm gì, ống thổi, đồ đựng, hay đồ cúng bái? Mà thôi, nhìn cái kiểu làm dở hơi vầy, chắc cũng chưa kịp nghĩ ra dùng vô việc gì thì đã chán rồi quăng. Cơ mà, cái này chí ít vẫn còn dùng được, cớ sao lại có người nỡ vứt đi. Đã vậy... Nhài Thanh nở một nụ cười. Con dở này xin đem về làm của riêng, tiện lấy làm vật đựng để giã lá na. Thanh thở phì ra một hơi, nghe cái bụng nhẹ hều vì trút được gánh nhỏ trên vai. Cuối cùng cũng đặt xuống được một món lỉnh kỉnh chẳng đáng bao nhiêu mà mang hoài cũng mỏi. Vậy là xong. Còn cái đồ để giã thì khỏi cần bận tâm. Đá thì đầy ngoài bờ, đất thì dưới chân lúc nào cũng có. Chọn, lựa bừa cái là được. Sạch sẽ chi cho lắm, đời này mấy khi lựa được thứ vừa ý. Có cái mà xài đã là hên rồi, bày đặt kén, bày đặt kỹ làm gì cho cực thân. Thanh đứng yên, tự dưng bật cười một chặp, cười xong mới quay lưng về lều. Bước chân vừa chạm ngưỡng, ánh mắt lại không tự chủ mà nhìn tới con Huê trước tiên. Trước sau như một, khi đi như nào khi về vẫn thế. Thân xác đặt đâu thì đặt yên chỗ nấy, dở cảm tưởng... con bé này còn không thèm nhúc nhích người. Coi bộ lười nhác lắm. Nhài Thanh hừ khẽ một tiếng. Cô chống một tay lên hông, cất cao giọng nói: "Ráng thêm một chút nữa. Sướng nhớ, được dở chăm đến thế là cùng." Nói xong, Thanh liếc quanh cái lều một lượt. Mắt rà từ vách nọ sang vách kia, dò dẫm từng khe lá, từng kẽ nứa, từng khoảng hở nhỏ đến mức mắt nhìn khó thấy nhưng da thịt thì nhận ra rất rành. Dạo một vòng, mắt Thanh dừng ngay cửa lều. Cô trầm tư, hơi quay người nhìn cái Huê. Bần thần một lúc, Thanh mới chậm rãi bước tới, không nói không rằng, nhanh gọn ngồi bệt xuống ngay mép cửa. Cô quay lưng ra ngoài, gập người lại vừa đủ, hai vai khép vào, sống lưng cũng hạ thấp, thân người án ngang miệng gió. Vừa mới ngồi xuống thôi... lông mày Thanh đã giật khẽ. Gió đập thẳng vào lưng, cái lạnh thấm sâu, đi dọc theo xương sống, rịn vào từng thớ thịt. Chắc do cái lều dựng đúng vào chỗ gió quẩn, bốn bề cây cối vây quanh, ngọn nào ngọn nấy đón gió rồi hắt ngược lại, thành ra hơi lạnh cứ dồn cả vào đây. Lúc nãy đứng ngoài bãi rác, gió tuy có thổi nhưng không rúc sâu, vì thế thân người vẫn còn chịu được. Vào tới chỗ này rồi mới thấy, gió thổi buốt ghê gớm. Nhưng ngồi ở đây thì đỡ được chút gió tạt vào trong, che được cho cái Thị Huê. Nhài Thanh mím mím môi, lạnh thì có lạnh, nhưng vẫn chịu được... chịu tốt. "Gió dập ngoài song mặc gió dập, Lưng này khép lại, gió phải vòng." Nhài Thanh thọc cả hai tay vào túi áo, moi ra nắm lá na hái từ canh tàn. Lá còn ngậm sương, chạm tay vào thấy mát rười rượi. Cô đặt cả nắm lá vào cái thân gỗ rỗng trước mặt, xếp lại cho gọn gàng, rồi cúi xuống nhặt bừa cục đá to nằm lăn lóc dưới đất. Tay làm không lúng túng, động tác đâu ra đấy, con dở coi vậy mà quen việc, chứ đâu có vụng. Xong xuôi, Thanh cúi xuống nhìn cái áo mình đang mặc. Tấm áo cũ, gấu sờn, thân bạc màu, ấy mà vẫn là thứ lành lặn nhất trong đám đồ dở có. Dở lận nhẹ mép vải, môi liền bĩu ra một chút. Tiếc là phải. Cả người chỉ có mỗi tấm áo coi được, giữ từ bữa nọ sang bữa kia, giờ mà xé đi một mảnh to, ruột gan sao khỏi xót. Mà làm vậy, cũng chẳng khác nào tự tay cắt bớt cái ấm của mình. Nhưng cứ hễ nghĩ tới cái Huê, nhớ tới cái mặt, cái thân nằm trên kia, lời lẽ cũng theo đó mà tắt. Thôi thì nhắm mắt mà làm, của chẳng là bao, công thì đổ đầy thúng. Thanh đưa tay lên, túm lấy vạt áo ở chỗ gấu, các ngón tay siết chặt một lúc rồi không ngần ngại kéo mạnh xuống. Vải rách toạc ra, kéo thành một đường dài. Phần dưới chiếc áo theo đó hở ra, vạt còn vạt đứt, trông xộc xệch hẳn. Cái dáng áo vốn đã nghèo nàn nay lại càng phơi rõ cảnh bần hàn của con dở. "Áo rách còn kia mặc áo rách, Người đau nằm đó gió chẳng chờ!" Mảnh vải xổ xuống, nằm gọn trong tay. Thanh chẳng buồn ngoái đầu. Đã xé rồi thì giờ hối hận cũng chẳng kịp. Để vải trong lòng, phủi phủi vài cái, cô liền đặt viên đá vào giữa, gập lại cho kín rồi xoắn dần từng vòng. Hai bàn tay làm nối nhau, vòng nọ ăn vào vòng kia, kín đến mức không còn chỗ cho hở. Xoắn xong, Thanh buộc lại cẩn thận. Chỉ trong ít phút, cục đá đã nằm gọn trong lớp vải. "Lỡ tay xé vải, lỡ tay buộc đá mất rồi." Con dở tự dưng buông ra một câu nghe thừa thãi, lạ lùng làm sao. Đúng thực, trong tâm nó đã biết rồi cơ mà. Cớ sao lại còn nói vậy? Đầu óc lúc nào cũng ngơ ngơ ngẩn ngẩn. Nhài Thanh cúi đầu, đoạn lại ngẩng lên liếc nhìn Huê một cái. Khoé miệng cô nhếch thành nụ cười hềnh hệch. Vải đã rời khỏi áo thì đành đem dùng cho hết việc, hối hận cũng chẳng được gì. Mà hối hận ư? Nhài Thanh cắn môi, hơi híp mắt. Không phải hối hận, cũng không hề hối hận. Chẳng biết nói sao, chỉ thấy trong lòng nó lạ lắm. Một tay bám chặt vào thân gỗ sần sùi, một tay cầm cục đá quấn vải chặt. Thanh nhấc tay lên, người hơi chồm về trước, sức dồn hết vào cánh tay. Ngay lúc định giáng cục đá ấy xuống, Thanh chợt khựng lại. "Cha bố nó…" Cô lầm bầm. "Chưa rửa." Nào đã rửa lá na đâu! Thanh chưa rửa thật chứ chẳng đùa. Liếc nhìn xuống đám lá, một ý nghĩ quen thuộc liền trồi lên rất nhanh. Bẩn tí thì có làm sao? Cô lăn lộn với bùn đất, ăn uống thiếu thốn, có phải ngày nào cũng sạch sẽ tinh tươm đâu. Nhài Thanh hừ tiếng mũi: "Ăn bẩn sống lâu, ăn cứt trâu bất tử." Nói rồi, cô toan thả tay. Ấy mà, cái đôi mắt phản chủ lại cứ liếc liếc về phía giường tre. Con dở không nỡ để ngọc hoen nhan, một phen lấm bụi, trăm năm khó trong. Thanh tặc lưỡi, thở hắt ra một tiếng. Tự dưng nay cô lại văn vẻ quá cơ. "Rách việc. Quá rách việc. Đúng là của nợ." Thanh rề rà, chống tay đứng dậy. Ăn ở, nằm lê tại cái làng này đủ lâu nên bước chân đặt tới đâu, đất thổ chỗ nào cứng chỗ nào mềm, lối nào khô ráo, bờ nào dễ trượt, cô đều nắm được cả. Tìm chỗ có nước, việc đó quá đơn giản với Thanh. Làng Đông Tụ nằm gọn giữa hai con sông lớn, một con men theo bãi bồi phía ngoài, một con áp sát ruộng sâu phía trong. Hai dòng nước uốn quanh, khép làng lại như hai cánh tay vừa che chở vừa ràng buộc. Đến vụ hạn hay đúng tháng gió, nước sông có khi rút cạn, đáy phơi ra lấm bùn nứt nẻ. Còn dạo này trời đất chưa đến nỗi, mưa nắng điều hoà, nước vẫn còn chảy, không dồi dào mà cũng chẳng kiệt. Nước ấy người làng không dùng nấu nướng, chỉ quen để giặt giũ, rửa ráy, gặp hôm may mắn thì bắt được con cá lạc dòng, hay thỉnh thoảng tranh thủ mò mẫm bắt con cua. Thanh vươn người một cái, xương cốt kêu răng rắc. Cả đêm cô chẳng chợp được giấc nào cho ra hồn. Giúp con bé Huê qua được cơn này, bớt sốt, hết mê thì Thanh cũng xin chạy. Chứ dính dáng thêm chỉ tổ sinh việc, mệt thân mà chẳng được gì. Quả nhiên, thân con dở thì hợp với thân cái dở, chớ đèo bòng việc nghĩa chỉ thành lạc loài. Con bé Huê coi cũng chỉ được mỗi nước lọt mắt, chớ tích sự thì đếm hoài cũng chẳng đầy một đốt tay. Trong bụng Nhài Thanh đã lăm le một tiếng cười cợt khinh khỉnh. "..." Huê mù mà. Ý nghĩ trồi lên, nụ cười còn chưa đậm đã tắt ngúm. Khoé môi hơi cong trở lên cứng ngắc, chẳng biết lên giữ hay hạ. Đậu xanh nhà dở chưa kịp nở mầm đã lo chê đậu người ta lép. Chê người ta thì lanh lắm, tới lúc đặt mình vô cảnh thì mới thấy cái hơn hớt vụn vặt của mình đáng đánh! Đúng cái tật hay nhìn xa, mà sợ nhìn gần. Người ta dở một, mình dở hai. Người ta thiếu một đường, mình thiếu cả nẻo. Thôi, biết vậy là đủ. Thanh đưa tay lên che ngang mắt mình, đoạn... nhấc chân bước thử. Một bước còn đỡ. Hai bước đã ngập ngừng. Ba bước thì chân tay bắt đầu rối. Con dở đi được tới bước thứ năm thì khựng lại. Đường tới đó đã cạn. Thanh buông tay xuống, phồng má lên rồi thở ra một hơi ngắn ngủn. Lo tới nước này rồi thì bày đặt ngẫm ngợi chi cho mệt. Đã lỡ thò tay vô thì làm cho trót. Giúp nó một bận cho xong chuyện, đỡ lưng chừng ngứa ngáy. Chớ nửa chừng nửa đoạn thì coi còn dở hơn. Thật ra, Thanh cũng chẳng thèm tự nâng mình lên làm gì. Khôn ngoan gì đâu mà bày đặt chọn lựa. Chẳng qua, cứ để thế thì tội nó... Ừ. Tội nó lắm. Xót nó lắm... Thế nên không được càm ràm, không được lẩm bẩm than nữa! -Hết chương 14- |
0 |