Chương 1: Alarad
“Cháu đang nghĩ gì vậy?” Alphose hỏi khi quay trở lại cùng hai ổ bánh mì đen và hai chén súp bằng gỗ, khói bay lờ nhờ.
Alarad lấy một ổ bánh mì từ tay chú mình và bẻ ra ngay trên khói nóng. Những vụn bánh mì văng tá lả. Một số rơi xuống và trôi nổi trên mặt súp. Alarad thả khoanh vừa bẻ vào bát, khó chịu nhìn lớp vỏ cứng còng đang đánh vật với nước súp để mềm đi.
Mùa đông dài vừa trôi qua và để lại những khối bánh mì làm bằng đá hoa cương. Đôi khi Alarad nghĩ có thể đứng trên tường thành ném chúng thay vì dùng tên. Cái chết nào đau hơn? Bánh mì ném bể đầu hay tên xuyên sọ? Cậu khá tò mò.
“Trước đó cháu nghĩ về những đường kiếm.” Cậu nói, cố ra vẻ không quan tâm, còn lòng thì nhộn nhạo vì mong rằng chú sẽ thấy cậu trông trưởng thành hơn một chút. Rồi cậu dùng muỗng gõ cốc cốc vào khoanh bánh mì đen. “Hiện tại cháu nghĩ về đống bánh mì cứng như gạch nung còn dư dưới hầm lương thực.”
“Tận hưởng chút sự khắc nghiệt còn lại của mùa đông đi nhóc. Nghe nói năm nay hè sẽ dài hơn đông đấy.” Alphose mỉm cười, đôi mắt chú cong lên.
“Chú nghĩ sao về việc dùng bánh mì để ném vào đầu kẻ địch?”
“Ý tưởng thông minh. Chúng sẽ chết như thể bị thiêu sống và có thể trì hoãn dọn xác.”
Cậu từng bị Zael đùa pha một cốc nước muối uống, cậu hiểu ý chú mình.
Giữa họ chỉ còn lại tiếng bẻ bánh mì. Sự tĩnh lặng giữa cả hai luôn làm Alarad dễ chịu như cách mà một mối quan hệ giữa hai chú cháu nên có. Họ thường trao nhau sự tin cậy bên dưới những giá đuốc của lâu đài, các buổi tập kiếm hoặc tuần tra ngầm quanh vương đô.
Cậu nhai ngon lành khoanh bánh mì đen mềm nhũn. Nước súp được đầu bếp nấu loãng, còn bánh mì thì được phủ một lớp trắng tới mức người ta hiểu lầm nó làm từ muối chứ không phải từ lúa mạch đen.
Đúng rồi, nó làm từ muối chứ đâu phải lúa mì. Alarad cong cởn môi mỉa mai và mút ngón tay. Cậu nhớ lại mình từng cá cược với bạn bè liệu có phải người trong nhà bếp, bằng một loại ma thuật nào đó, biến hóa đống muối khổng lồ thành các món ăn mà không cần nguyên liệu hay không.
“Ta nhớ hôm qua cháu đánh thắng Công tước Hadeus.”
Alarad nhìn chú, một cảm giác kỳ quặc trỗi dậy.
“Cậu ta là con của Công tước Garfaro.” Alarad sửa lại và không thể ngăn bản thân mỉm cười.
Chú Alphose nhìn cậu, chớp mắt, sau đó lờ đi.
Cậu cầm muỗng khuấy nhẹ nước súp. Những viên thịt bên trong xoay mòng mòng. Mẩu bánh mì đen mà cậu vừa bẻ thay cho người anh em của nó – thứ cậu đã nuốt vào bụng – cùng đống vụn cháu chắt xoay theo vòng xoáy chén súp. “Cậu ta là tiểu công tước và không phải trưởng nam, trừ khi ba người anh trai của cậu ta được sắt thép ưu ái tặng cho một cái ôm, hoặc một cái vồ nồng nàn của biển cả khi đang đi tàu.” Alarad nhún vai, mắt nhìn chú mình. “Và Had Nhỏ sẽ một bước ngồi trên chiếc ngai lãnh chúa mà cậu ta khao khát.”
Alphose đảo mắt xung quanh sau câu nói của Alarad.
“Chú nhìn gì vậy?” Alarad hỏi.
“Những con chuột.” Ông đáp. “Lũ chuột luôn thính, Al à, và lời nói là con dao hai lưỡi đôi khi đâm ngược vào mình.”
Rồi đôi mắt ông giãn ra. Mặt trời đã đi được phân nửa buổi sáng. Giờ này đại sảnh vắng như thể sắp có chiến tranh. Alphose lấy bánh mì của mình và chấm vào nước, giờ đây không còn khói bốc lên nữa.
Alarad đảo mắt. Cách cậu và Alphose bốn dãy bàn là Denim Tay Dài và đám bạn xung quanh. Chúng đang hô hào đập bàn về việc tối nay ra nhà thổ dưới vương đô và tìm hơi ấm giữa đôi chân của các nàng điếm.
Chẳng còn nhóm lính gác nào khác ăn uống trong sảnh chung, vì phần lớn đã đi làm việc của họ.
Chú ấy đa nghi quá. Alarad nghĩ. Cậu nghe về cách Fah hô hào đã lấy trinh của Beth Thủ Tiết, một ả điếm nào đó, bằng chiếc lưỡi dẻo quẹo của hắn. Một câu chuyện mà hắn đã kể cả ngàn lần với giọng tự hào, như thể việc lấy trinh của một ả điếm là thành tựu còn lớn hơn cả những câu chuyện chinh phạt của Công Nương Xám.
“Hai mươi đồng bạc đấy, tụi mày tin không?” Fah cười phớ lớ. “Thay vì một đồng vàng, con nhỏ chỉ cần hai mươi đồng bạc. Thế là thanh gươm của tao nhuộm máu nó.”
Một gã buông câu đùa tục tĩu gì đó về thanh gươm chiến trường và thanh gươm trên giường, rồi gã khác hỏi Fah rằng có chắc hắn dùng gươm không hay chỉ là ngón út, khiến cả đám cười phá lên. Alarad thấy Alphose hơi nhíu mày. Cậu thắc mắc chú nhíu mày vì câu chuyện hay vì đám lính dân đen đấy quá ồn ào.
Khi Fah kể về cặp ngực đằng sau lớp vải satin rẻ tiền của Beth Thủ Tiết, giờ là Beth Mất Tiết, suy nghĩ của Alarad dần bay tới những khu nhà thổ trong các chuyến tuần du. Những cô gái xinh đẹp vẫy khăn trôi nổi trước mắt cậu. Gương mặt của họ không phải là những người phụ nữ, mà là một thiếu nữ tóc nâu đỏ và tàn nhang trên mặt. Dường như cả năm người họ đều được sinh cùng một tử cung nên mới giống nhau tới vậy.
Alarad cười khúc khích, đó là gương mặt của Sara.
Cậu chợt tự hỏi Sara đang ở đâu. Có lẽ đang bận làm bạn với đống quần áo gần giếng nước, hoặc đang lau chùi cửa sổ quanh các dãy hành lang ở khu tháp khách.
Nếu Alarad có thể chạm vào đôi môi mềm của nàng hoặc luồn tay xuống dưới nơi ấm nóng chưa bị xâm phạm nằm giữa đôi chân dạng ra...
“Vậy Had Suýt Công Tước cảm thấy sao về việc thua cháu?” Giọng Alphose cất lên giữa những suy nghĩ đen tối của cậu.
Alarad nhìn người chú râu ria rậm rạp. Bộ râu dài tới cổ chiếc áo chẽn ông đang mặc, khoác ngoài là áo da chống lạnh. Cậu cũng mặc tương tự chú mình.
Cậu giật mình nhận ra cái thứ bên dưới đã rục rịch tỉnh giấc. Nó căng lên và đòi hỏi. Cậu cảm thấy mặt mình nóng bừng, như bị ai đó cầm đuốc và dí thẳng vào mặt. Khúc gỗ dường như lấy từ cây muối. Nó khiến mặt cậu râm ran tới mức muốn đào một cái lỗ và chui xuống.
Cơn râm ran chạy từ má tới tận mang tai.
“Sao hả Al?”
Alarad khẽ giật mình. Hơi thở cậu dừng một nhịp.
“Dạ?” Cậu cố không lắp bắp, đôi mắt nhìn thẳng vào chú mình, rồi đảo chỗ khác. Hình ảnh Sara vẫn còn trong đầu cậu, nhưng đã mờ đi rất nhanh.
Cậu biết người chú hiệp sĩ đang cố tình bỏ qua gương mặt đỏ bừng và cái giật mình của cậu. “Ta hỏi Hadeus Garfaro, bạn của cháu, cảm thấy sao khi thua cháu?”
Cô gái trinh trắng với mái tóc nâu đỏ dễ thương biến mất, giờ chỉ còn là những hạt tàn nhang. Thay thế vào đó là Hadeus cùng cặp chân mày màu vàng và dày cui như tường thành.
“Tất nhiên cậu ta muốn phục thù cháu.” Cậu buồn bực, muốn dùng kiếm chém nát hình ảnh rùng rợn trong đầu đi. Thật trớ trêu khi nhờ nó mà thứ bên dưới cậu đã yên giấc, dù vẫn còn gì đó rạo rực ngay dưới rốn. “Hadeus thẳng tính và ngốc nghếch.”
Alarad lấy bánh mì ra và thấy nó đã ướt sũng, nhão nhoét như bãi bùn khiến cậu bĩu môi. “Tuy Had thua, nhưng hôm qua có ba lần cậu ta suýt đánh được cháu vì cháu để lộ sườn.”
Alarad bỏ bánh mì vào miệng. Vị ngọt của thịt và vị mặn từ bánh mì hòa vào súp, cùng với sự ấm áp khi cậu nuốt xuống. Ít nhất thì đôi bàn tay khéo léo cùng cái đầu của gã bếp trưởng là điều tốt nhất giữa cái tòa thành xám xịt này.
Đôi khi Alarad tưởng đây là một tấm bia mộ khổng lồ hơn là một vương đô sầm uất. Màu xám này thật buồn tẻ so với lâu đài mang màu trắng và vàng nhạt của gia tộc cậu.
Alphose nuốt xuống và gật đầu. “Đừng quên, kỹ thuật luôn quan trọng hơn lưỡi kiếm làm bằng gì. Cứ tiếp tục như thế, và cháu sẽ được phong Horr trước khi có con.”
Alarad lườm chú. “Ý chú là trước khi cháu mọc râu rậm như chú à? Sau mỗi bữa ăn đều phải lau sơ bộ râu của mình? Cháu đã vung kiếm giỏi hơn cả tuổi của cháu rồi, thưa horr.”
“Những người trẻ thường nóng lòng,” Ông thở dài. “Ngay cả khi những vết chai trên tay chúng chỉ là những nốt gồ ghề của đầu bếp, thay vì dấu tích của người cần kiếm.” Alphose nói, xắn viên thịt làm đôi và bỏ vào miệng nửa viên. Chú ấy đang chọc tức mình, Alarad biết. Alphose luôn làm vậy với cậu. Miệng lưỡi chú ta luôn bén tới mức Alarad tưởng tai mình có thể rỉ máu.
Ông vừa nhai, vừa đế thêm, khiến giọng hơi lạc ngôn, nhưng vẫn nghe ra được. “Mùi mà chúng quen thuộc nhất là mùi sữa mẹ thay vì mùi của bụi và mồ hôi khi luyện tập.”
Dường như có gì đó trong cậu vừa rực lên sau câu nói ấy. Có vẻ vị mặn của súp làm cậu cảm thấy sôi máu hơn bình thường. Nó biến hơi thở của cậu thành hơi thở của lò rèn nóng rực. “Cháu đã suýt trở thành quán quân cuộc đấu thương ngựa dành cho cận vệ vào năm ngoái.” Cậu vặc lại, cố để giọng mình trông trưởng thành chứ không ương ngạnh. “Chú nhớ chứ? Cuộc đấu thương tại tháp canh của Lãnh chúa Standell.” Một hiệp sĩ có đất. Alarad nhớ lại. Không phải một quý tộc. “Và cháu nghe Eliatt Farwand bảo rằng ông được phong làm hiệp sĩ lúc chỉ mới mười lăm, bằng tuổi cháu hiện tại.”
Đôi mắt của Alphose bình tĩnh nhìn cậu, như thể cậu là một thằng nhóc vừa tung hứng mấy trái bóng, vừa hô hào tìm những cái vỗ tay từ khán giả. “Cháu có tính luôn rằng thời điểm Eliatt được phong tước, đao kiếm và cung tên bay trên chiến trường như bão cát ngoài bờ biển không? Vua Xám Tiberyn đã chết trong trận chiến đó. Một sự mất mát cho Yastodel.” Giọng ông có gì đó buồn bã. Alarad nhớ rằng Alphose và Tiberyn đã trở thành bạn tốt không lâu sau khi chú cậu tới Bình Minh Xám.
Alarad há miệng, nhưng chẳng thể nói được gì. Cậu cảm thấy có gì đó đang lèn chặt cổ họng, khiến ngay cả tiếng ú ớ cũng không phát ra được. Đôi mắt của Alphose nhìn thẳng vào cậu như thể đang nhìn vào một cậu bé con. Cái nhìn đó khiến cậu không thoải mái, bụng nhộn nhạo. Dường như lưỡi cậu nhạt đi, không còn cảm nhận được dư vị món ăn nữa. Cậu ước đôi mắt của chú quay lại với vẻ châm chọc thường ngày.
“Cháu... cháu...” Mình nên nói gì? Mình trông như một thằng ngốc.
Alphose đưa ngón trỏ và ngón cái se bộ râu dính chút nước súp của ông. Rồi ông đưa ngón tay dính mỡ lên, mút nhẹ vào môi. Sau đó ông nhoài người và đặt đôi tay chụm vào nhau.
“Có lẽ với cháu, việc phong tước hiệp sĩ là một vinh quang.” Ông gật đầu. “Ta không thể phủ nhận rằng khoảng cách về sự tôn trọng giữa một hiệp sĩ và một cận vệ trong đôi mắt của nhiều người rất khác nhau. Hoặc không,” Alphose mỉm cười, gõ ngón trỏ xuống bàn. Cộc. “Đối với một số người, được thấy cận vệ hay hiệp sĩ không giúp bụng họ no được. Nhưng chuyện đó để sau đi. Chuyện mà ta muốn kể cháu biết là ta và cha cháu được phong tước cùng năm.”
Đôi mắt ông hơi lơ đễnh, có vẻ ông đang nhìn về quá khứ, dù đồng tử vẫn đang hướng về Alarad. Cậu thấy ngón tay của chú đang vô thức xoay trên mặt bàn gỗ. “Hồi đó cha cháu mười bảy. Còn ta mười bốn. Jaron, em trai út của hai bọn ta thì mười ba. Khi đó nó vẫn chỉ là cận vệ cho horr Tigatt Greyhand, thậm chí còn chưa được nếm mùi đàn bà. Dù thế nào thì một thằng nhóc mười ba được phong hiệp sĩ chẳng khác gì một trò hề. Còn trường hợp của ta thì là ngoại lệ. Trong cuộc chiến trước đó, ta đã chém chết được hai gã hiệp sĩ lang thang hơn ta cả mấy chục tuổi.” Một câu chuyện vinh quang. Nhưng ông không cười khi kể về nó. “Ta không phủ nhận là mình may mắn, nhưng lúc đó quả thực ta tin mình có thể làm bất cứ điều gì.”
Dường như Alphose đang nghĩ về hình ảnh nào đó. Alarad tưởng tượng ra hình ảnh ông cầm kiếm, giơ cao sau khi chiến thắng những người lớn tuổi hơn mình.
Và rồi mi mắt chú cậu dần hạ xuống. Một đôi mắt buồn bã phủ đi lớp vinh quang của sắt và máu. “Cháu hẳn cũng biết, nhà Harwyn của chúng ta và nhà Bonestone lúc nào cũng chĩa mũi kiếm vào nhau. Chuyện đó là từ sáu trăm năm trước, chẳng còn ai nhớ nguyên nhân ban đầu là gì. Có lẽ là vì mỏ vàng của nhà Harwyn, hoặc vì danh dự, thứ rẻ mạt mà các vị lãnh chúa của chúng ta luôn vịn vào để phi dao vào nhau. Trong Chiến Tranh Bồ Nông, cách một năm ta được phong tước, Harwyn và Bonestone lại đối đầu nhau. Đối với ta, và có lẽ là với cả cha cháu, trận chiến tại Thềm Sóng Vỗ dường như chỉ mới kết thúc vào hôm qua, chứ không phải từ hai mươi mấy năm trước.”
Đôi mắt ông trở nên xa xăm khi nhìn vạt nắng bên kia cửa sổ của đại sảnh. “Chúng ta thắng, nhưng đổi lại là mất đi người em út. Ta vẫn còn nhớ, Alarad. Cái âm thanh khi chiếc mũ sắt em ấy đeo bị bổ đôi bằng cái rìu trắng dã mà gã Harlock Cụt Tay cầm.” Harlock Fetzbonestone, con hoang của Bá tước Ferginald Bonestone. Alarad nhớ đã từng thấy gã vào năm ngoái. Một gã có đôi chân mày mỏng, môi dày và mắt ti hí giống cha hắn. “Jaron chết ngay tức khắc với cái đầu nứt toạc. Ta lao tới hắn, nhưng rồi sau đó ta bất tỉnh do bị đập vào đầu bởi một cái chùy bay từ đâu đó chẳng rõ. Bằng cách nào đó ta vẫn sống khi nằm đó trong lúc cuộc chiến vẫn diễn ra. Ngay cạnh ta là máu và não của Jaron vươn vãi. Kẻ Mang Lưỡi Hái đã quên ta sau khi gặt được đầu của thằng em ta yêu quý.”
Alphose bưng chén súp lên và hớp một hơi, sau đó đặt xuống. “Bất kể ngày đêm, đầu ta đều nhức nhối. Không có sự báo trước nào. Và mỗi khi nhức nhối, hình ảnh cuối cùng của Jaron lại hiện về. Không phải cái hộp sọ bị bổ đôi, mà là nụ cười sún răng của thằng nhóc vào buổi sáng hôm đó. Nụ cười khi nó khiến cha cháu rơi kiếm, dù anh ấy nhường nó để giúp nó tự tin. Dường như các vị thần không muốn ta quên đi em trai mình.”
“Cháu... cháu rất tiếc.” Alarad lắp bắp, cúi mặt xuống bàn. Cậu không ăn nổi nữa.
Một bàn tay đặt lên đầu cậu và xoa. Cậu ngước lên. Bàn tay khẽ trườn xuống má cậu. Cậu cảm nhận được những nốt chai sần của việc cầm kiếm, và sự thô ráp của người đàn ông đã bước qua tuổi trung niên.
Người đàn ông với bộ râu vĩ đại trước mặt cậu không còn vẻ châm chọc thường thấy nữa. Gương mặt ông lúc này khiến tim Alarad dường như đập chậm lại. Cậu đang nhìn thấy nửa bên phải của bức tượng chia đôi giữa Cha Nhân Từ và Con Trai. Đó là gương mặt già nua nhưng hiền hậu của người cha. Như thể dù Alarad có làm bất cứ điều gì sai trái, đôi bàn tay và khuôn ngực ấm áp của Alphose vẫn sẽ chờ Alarad sà vào, cùng với đó là những lời giáo huấn được bọc bằng lưỡi dao và lông cừu.
“Trân trọng hiện tại, nhóc con.” Alphose rút tay lại và tiếp tục đùa nghịch món thịt súp và bánh mì. “Khi gã hề và chiếc mũ sặc sỡ của hắn quay trở lại. Hắn sẽ mang hỗn loạn và gươm đao. Khi đó cháu sẽ được phong tước sớm như cháu muốn. Giờ thì ăn cho xong đi, chúng ta có chuyến tuần du một vòng quanh Bình Minh Xám đấy.”
Nếu lúc này Alphose hỏi cậu còn muốn được phong làm hiệp sĩ trẻ tuổi không, cậu sẽ không ngần ngại gật đầu. Nhưng cậu vẫn thương tiếc cho người chú út mà đáng ra cậu đã có. Cậu ỉu xìu nhìn con kiến đang bò trên bàn ăn. Phần còn lại của bữa ăn dường như tệ đi. Không rõ là do tâm trạng của cậu hay do chén súp đã nguội lạnh.
Câu chuyện về người em trai của cha và chú cậu đã dần trôi xa. Cậu biết ơn vì điều đó, nhưng vẫn thầm đặt Jaron Harwyn ở một góc trong ký ức của mình.
***
Cả hai vừa lui về phòng riêng của họ tại dãy phòng phía tây của phủ hiệp sĩ, cười đùa những câu chuyện về hiệp sĩ và công chúa. Có rất nhiều câu chuyện mối tình vụn vỡ bị cấm cản giữa hiệp sĩ đẹp trai và tiểu thư xinh đẹp con nhà quý tộc. Đó là chủ đề các vị tiểu thư thường trò chuyện với Alarad trong nhiều buổi tiệc. Cậu nghe mấy câu chuyện đó nhiều tới mức muốn quên cũng chẳng quên được. Chúng gần như có cùng nội dung về chủ đề tình cảm không cân xứng, chỉ khác tên gia tộc hoặc tên của hiệp sĩ hay vị tiểu thư may mắn.
Alarad thề rằng nếu một hiệp sĩ ngốc nghếch lịch thiệp xuất hiện trước mặt các quý tiểu thư, việc đầu tiên họ làm là xem sống mũi của hiệp sĩ đó có song song với cây quạt bằng lụa và gỗ hoàng gia mà họ đang cầm hay không.
Cậu ngẫm nghĩ khi tiếng cười cả hai dần rời đi, để lại khoảng yên tĩnh để chuẩn bị cho chuyến tuần hành mật.
Cái hồi mới tới đây, cậu chỉ có một thân một mình, vì tận một năm sau chú Alphose mới chuyển tới Bình Minh Xám. Alarad được ngủ tại tháp khách thay vì ngủ ở tiểu sảnh với những tiểu đồng con của tiểu quý tộc và người hầu.
Đã mười năm trôi qua rồi, Alarad nghĩ có lẽ những ngày vui nhất của cậu là khi Vua Xám tiền nhiệm còn sống. Tiberyn đệ Tam – hay còn dược dân chúng gọi là Ty Bão Cười – rất thích tiếp xúc với người dưới trướng của mình, cả hiệp sĩ và người hầu thấp kém. Ông thường tới thăm các tiểu đồng hầu việc cho lâu đài và kể cho chúng nghe những câu chuyện về các vị Vua Xám huyền thoại. Từ Barwys Tia Chớp, Barumal Xảo Quyệt cho tới Tibeck Tay Bạc.
Giờ đây Tiberyn đã không còn. Một mất mát quá lớn, dù là đối với dân đen hay quý tộc.
Nếu Bình Minh Xám và lâu đài Greywatcher bên trong nó là một tấm bia xám xịt, thì Ty Bão Cười và người vợ của ông là một cơn bão rơi những giọt mực đầy màu sắc.
Alarad lắc đầu, giũ bỏ những suy nghĩ phân tâm và lấy bộ giáp vải của chú cậu ra khỏi giá áo đóng tường.
Tuần du quanh Bình Minh Xám nếu so với việc gác tường thành, chắc chắn thú vị hơn rồi. Đứng gác luôn khiến cơ miệng Alarad há ra liên tục cùng tiếng ngáp chán chường. Vậy nên cậu biết ơn những dịp này, đặc biệt là khi được đi cùng chú Alphose.
Alarad giúp ông kéo và buộc chặt những sợi dây bên nách của chiếc áo độn bông dày, để lớp áo mềm nhưng an toàn ôm sát vào cơ thể, tránh việc chúng lỏng lẻo khi ông dùng vũ khí. Rồi Alphose tự khoác cho bản thân thêm một lớp áo tunic rộng màu xám, may bằng vải thô. Trông ông chẳng còn giống hiệp sĩ mà giống một tiểu quý tộc, hoặc một thương nhân đang tìm những bản khế ước bằng da đẫm mùi giá trị.
Alarad cũng mặc giáp vải và áo tunic cho riêng mình. Lớp áo trần bông dày cui khiến cử động của cậu hơi khó khăn và vướng víu, nhưng còn hơn là bị đâm một nhát dao vào đâu đó như tim hoặc phổi. Bộ áo bốc lên mùi vải cũ và hương thơm thoang thoảng thay vì mồ hôi và ngai ngái của nước tiểu. Cậu cảm thấy dễ chịu và thư thái khi chúng len lỏi vào mũi.
“Cháu luôn hoàn thành tốt việc của mình nhỉ?” Alphose ngửi cổ áo vải của chú. Alarad biết nó có mùi của sự hài lòng, vì cậu luôn ngâm quần áo vài phút bằng xô thơm trước khi đánh vật với chúng. Cậu cực kỳ ghét mùi mồ hôi, và cậu biết Alphose cũng vậy.
“Cháu là cận vệ giỏi nhất mà. Đóng móng ngựa, lau kiếm, mài kiếm, lau áo giáp, chuẩn bị nước nóng. Cận vệ đáng mơ ước của mọi hiệp sĩ đấy.” Cậu ngước lên nhìn người chú mà cậu chỉ cao tới ngực. Alarad không hề thấp, nhưng cậu ước mình có thể cao và cơ bắp như Alphose.
Cơ thể cậu phát triển một cách chậm chạp và cơ bắp không to ra như Hadeus hay chú cậu. Hadeus là một con gấu, Alphose thì giống sư tử thảo nguyên trong các truyện kể của đám thương buôn. Còn Alarad thì tựa mèo ma, loài sinh vật trong bóng tối. Chúng mảnh khảnh, thiếu đi sức mạnh thuần túy, nhưng có móng vuốt rất bén.
Việc đó khiến cậu không thoải mái cho lắm. Cậu thích có cơ bắp to. Nhưng Hadeus cũng mạnh mẽ đấy, và vẫn thua mình, không phải ư? Một suy nghĩ dệt trong đầu cậu, và cậu lập tức đặt ngọn đuốc ngay bên dưới, đốt nó và tạo thành một suy nghĩ hợp ý cậu hơn: Dù vậy có cơ bắp vẫn tốt hơn, mạnh mẽ hơn. Và Sara sẽ ngắm mình nhiều hơn. Có thể nàng còn chạm tay vào bụng mình và...
Sara thường chọc ghẹo cậu là Al Bé, còn Alphose là Al Lớn. Dù nàng chỉ là người hầu nhưng lại khá táo bạo. Người con gái lắm tàn nhang và xinh xắn ấy biết cậu là người không để bụng mấy chuyện nhỏ nhặt, và đó chắc chắn là điểm cộng trong mắt nàng. Đối với Hadeus thì hiển nhiên là khác.
“Lại nghĩ gì nữa vậy, cận vệ?”
Một lần nữa Alarad giật mình. Cậu ngước nhìn chú mình. “Kh... không có gì ạ.”
“Ta hy vọng cháu chưa lấy đời con gái của cô bé ấy.”
Cậu sửng sốt nhìn Alphose.
“Nhìn phản ứng của cháu thì có vẻ là chưa.” Giọng chú không tức giận. Dường như nếu phản ứng của Alarad khiến ông tin là cậu đã lấy trinh tiết của Sara rồi, ông cũng chẳng tức giận.
“Ta cũng từng là một cậu bé. Ai chẳng từng là những cậu bé hay cô bé? Có chăng là do họ quên thôi.” Alphose cười khẩy. “Một cô gái mười bảy tuổi sành sỏi chuyện giường chiếu đã cướp đi lần đầu của ta. Lúc đó ta mới mười ba. Thực ra mười bảy là do cô ta tự nói, còn theo ta đoán thì cô ta khoảng hai mươi. Ta đã quên phần lớn gương mặt của cô ta, nhưng có vài chi tiết ta không bao giờ quên được. Đôi mắt màu xám nhạt và làn da trắng như tuyết. Ta đoán cô ta tới từ Valkenant. Cái cách cô gái đó giúp ta có được lần đầu... Ta tưởng bản thân vừa bay lên mây rồi hạ xuống.”
Dường như có gì đó vừa được nâng lên. Một khối đá nặng. Người Alarad nhẹ nhõm đi trông thấy. Ít nhất thì hiệp sĩ cậu hầu theo là người hiểu cậu nhất, và chú ta không tỏ ra đạo mạo như thể lúc nào cũng đang trong thời chiến.
Mình và chú ấy y như hai cha con, Cậu vui vẻ nghĩ khi nhìn chú mình đang xem xét độ bén của con dao trên tay – quay sang nháy mắt với Alarad một cái – bằng việc cắt vào bảng gỗ, thứ đã có hàng đống vết sẹo rạch.
Cậu nghĩ tới đám cận vệ theo hầu những hiệp sĩ xa lạ. Nếu gặp người tốt thì còn được công bằng, còn những cậu nhóc gặp phả kẻ không đáng với tước hiệu hiệp sĩ thì thật thảm. Hoặc là bị dùng làm chỗ xả giận, hoặc là bị cướp công trong các cuộc chiến mà cả hai tham gia. Vậy nên, cậu trân trọng biết ơn tới các vị thần và nhà vua khi được làm cận vệ cho chính chú ruột của mình sau khi Horr Wallan Harralad, người hiệp sĩ trước đó cậu hầu, đã chết vì căn bệnh sốt rét.
Lại một điểm nữa làm mình quý Vua Xám tiền nhiệm. Alarad nhớ hồi người cháu họ hàng xa của Tiberyn đệ Tam chết trong mùa đông, nhà vua đã ban lệnh Alarad làm tiểu đồng cho chú mình. Chú Alphose bảo đó là quyết định khôn ngoan trong số rất nhiều quyết định của Vua Tiberyn. Thằng nhóc Alarad khi đó chưa hiểu, nhưng giờ thì cậu đã hiểu. Nếu được làm hiệp sĩ dưới trướng ai đó, Alarad không ngần ngại chọn gia nhập đội khiên vua, khoác tấm áo choàng xám và chết cho Vua Tiberyn.
Alphose tra con dao dài cỡ gang bàn tay vào bao dao bằng da rắn và đưa cho Alarad. Cậu nhét nó vào ngực áo bên trong chiếc áo chẽn, ở nơi mà chỉ cần thò tay vào là có thể rút ra dễ dàng. Hy vọng lưỡi dao không cứa trúng cổ mình khi rút ra. Cậu cười.
Alarad chợt nhớ lại câu chuyện của Alphose kể bản thân đã quan hệ từ năm mười ba tuổi khi nãy. “Chú có con hoang không?” Cậu hỏi. Không hiểu vì sao cậu lại muốn hỏi câu này. Có lẽ do câu chuyện về cô gái mười bảy tuổi – hoặc hai mươi – mà chú vừa kể khiến cậu muốn biết. Cậu ước mình đừng tò mò tới vậy, vì gương mặt của chú khẽ nhăn lại khi nhìn cậu. Đó không phải là cái nhìn giận dữ vì bị tọc mạch chuyện riêng tư, cũng chẳng phải ánh mắt của người chú hay đùa cợt. Alarad chẳng đoán được lý do cho ánh nhìn đó.
Sau một lúc, chú thở dài và đáp. “Có.”
Alarad không ngạc nhiên. “Cháu mong sẽ được gặp họ.”
“Con hoang không phải chuyện tốt lành đâu, Alarad.” Giọng chú có vẻ hơi nặng nề, hoặc do Alarad nhầm. Giọng chú thường trầm như thế khi giáo huấn cậu. “Đôi khi, sự tồn tại của chúng là một vết rách của gia tộc. Một vết rách không bao giờ có thể khâu lại được và sẽ rỉ máu khi chạm vào.”
“Nhưng dù gì họ cũng đã được mẹ họ sinh ra rồi. Cháu không quan tâm con chú mang họ Harwyn hay Fetzharwyn.” Alarad cười. “Con hoang của lãnh chúa Stonewarm – cái cậu tên Uzath Fetzstonewarm ấy, chú biết chứ? Cậu ta thường cho đám trẻ con bánh mì.” Rồi cậu bĩu môi, giọng chán ghét. “Nhưng thằng anh song sinh tên Ubal của Uzath thì độc ác hơn cả rắn rít. Có lần cháu thấy hắn bắn tên vào một con mèo đi ngang lâu đài chỉ để cho vui. Dường như các vị thần đã lăn xúc xắc khi mẹ họ hạ sinh cả hai. Uzath được mặt nút sáu thiện lành, còn Ubal thì mặt nút một ác nghiệt.”
Cậu tự hỏi chú mình có bao nhiêu đứa con hoang và có nên tung xúc xắc để đoán không. Một. Hai. Ba. Bốn. Năm. Sáu. Một. Hai... Trẻ con thật, dẹp đi.
Cậu quan sát gương mặt Alphose. Sống mũi ông cao và thẳng, đôi mắt tinh anh cùng làn da hơi thô ráp thay vì đầy đồi mồi. Những nếp nhăn nhẹ tạo ra bởi sương gió. Dù đã vượt ngưỡng tứ tuần, trông ông vẫn thật trẻ trung. Nếu cạo đi bộ râu đó, cậu tin chắc người xung quanh sẽ tưởng nhầm chú mới khoảng hai lăm tới ba mươi. Tai chú nhìn thoáng qua có thể lầm rằng chỉ là đôi tai bình thường, nhưng nhìn kỹ sẽ thấy khác lạ.
Đặc điểm cổ xưa của nhà Harwyn.
Alarad khẽ sờ tai mình, nó giống chú ấy. Tai cậu dài hơn so với tai người thường và nhọn một chút ở đầu. Nó có phần giống tai dơi nhưng tinh tế trong các đường vân tai, tựa như được một nghệ nhân nắn nót trước khi cậu ra đời.
Chú đẹp trai, dễ làm thân hơn cha cậu, cùng với đôi tai và gương mặt thu hút kỹ nữ. Những đứa trẻ được sinh ra mang dòng máu tai dài thường ưa nhìn cho tới xinh đẹp. Kể cả con trai hay con gái cũng đều có giá. Do vậy nếu chú cậu có con hoang, cậu sẽ chẳng bất ngờ. Ngay cả cha cậu, vị Bá tước Gerath Mặt Đá dù không mang tai dài, ông vẫn có hai người con hoang. Họ là những người anh lớn hơn Alarad nhưng nhỏ hơn so với anh trai cả của cậu.
Khi nghĩ tới những người anh em con hoang, lòng cậu chợt chùng xuống một nhịp dài, vì cậu cũng nhớ tới những người anh cùng cha cùng mẹ.
Germon thân với đám con hoang đó hơn cả mình, Alarad đặt tay lên ngực, nơi con dao sau lớp áo. Cả Germon và Gallad đều ghét mình.
Alarad tự hỏi sau này mình sẽ có con hoang hay không. Cậu nhìn Alphose, người chú đang đáp lại ánh nhìn của cậu bằng đôi mắt đầy kiên nhẫn, như thể ông đã quá quen với sự im lặng suy tư của cháu trai. “Cháu luôn nghĩ nhiều Al. Ta tin mình sẽ bất ngờ nếu có thể đọc suy nghĩ của cháu.” Lời của chú cậu từ hồi nảo hồi nao vọng về. Một tháng trước hay một năm trước? Alarad chẳng nhớ rõ nữa. Và giờ dù miệng chú không nói ra, nhưng đôi mắt chú như phát ra âm thanh.
“Tóc cháu sẽ bạc sớm thôi, Al.” Miệng chú cậu phát ra âm thanh thay vì mắt, ngay hiện tại thay vì âm vọng của quá khứ. Chú xoa đầu cậu.
Tóc chú mới là bạc sớm đấy. Alarad bĩu môi, rồi nói bằng giọng ương ngạnh, “Một đồng vàng, chú dám cược không?” Alarad móc ra đồng bạc đúc hình Người Dẫn Đường, vị thần mà cậu yêu thích, thay vì đồng vàng. “Tóc chú sẽ bạc trước cháu. Vị thần thương buôn thì thầm với cháu điều đó đấy.”
“Này, thế là không công bằng.” Dù đang lên giọng, nhưng đôi mắt chú lại cong lên “Cháu nhỏ hơn ta gần ba chục tuổi. Cả một thế hệ rồi còn gì.”
“Nhà Harwyn không bao giờ bước vào cuộc chơi bản thân không thắng.” Alarad nháy mắt và cất đồng bạc vào túi. “Giờ thì đi thôi, có khi chú cháu ta sẽ gặp vài cuộc ẩu đả có dùng dao đấy.”
“Luôn cẩn thận, Alarad à.” Người chú râu rậm nhắc nhở, dù chú biết cậu là người luôn cẩn trọng. Cậu tin chắc điều đó. “Luôn cẩn thận.”
Cậu quay lại nhìn người chú có bộ râu dài để lấp đi gương mặt trẻ trung của nhà Harwyn. “Cháu biết mà. Cẩn thận như cách cháu lau sạch từng khe nhỏ trên chiến giáp của chú vậy.”