Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Ngọc Ẩn Bóng Tùng

Chương 6: Giữa dòng lũ

Thầy Khương cùng những thầy lang quanh vùng tụ lại trên một gò đất cao. Người chặt tre, kẻ tháo rời phên nứa, chắp nối thành một mái lán tạm.  

Người bị thương được đưa vào trong lán mỗi lúc một nhiều. Tiếng gọi nhau, tiếng kêu đau, tiếng ho sặc sụa chen chúc, hỗn loạn.

Lê Yển Nguyệt đã từng thấy qua thi thể, thậm chí rất nhiều thi thể. Khi thầy Khương còn làm ngỗ tác ở huyện đường, nàng đã nhìn đến quen những xác người lạnh cứng, máu loang tanh nồng, thậm chí là những thi thể đã chết quá lâu đến mức phân hủy, sâu bọ nheo nhúc.

Nhưng chưa lần nào nàng chứng kiến tai họa lớn đến như vậy. Người nối người, thân nối thân, máu hòa máu.

Nàng lấy tay áo lau nước mưa, đưa mắt nhìn dòng nước đục ngầu.  Trời đất vô tình, thiên nhiên không mắt, lẽ nào những kẻ ăn lộc của dân cũng thế hay sao?

Hay cho ba chữ “quan phụ mẫu” đầy vẻ nho học và đức độ, ngày thường vẫn được dán chặt trên môi những “bậc công minh”. Nhưng nay, đến khi con dân của họ thật sự ngoi ngóp, một chút bóng dáng cũng không thấy được.

Đúng lúc đó, từ phía bờ nam bỗng có người hô lớn:

“Có thuyền! Có thuyền đang tới!”

Tất cả mọi người cùng đồng loạt quay đầu. Trong màn mưa trắng xóa, dân chúng thấy vài bóng đen hiện ra, rồi mỗi lúc một rõ ràng. Ấy là gần chục chiếc thuyền đang rẽ nước, đi ngược dòng mà đến đây.

Lê Yển Nguyệt cũng nheo mắt nhìn. 

Mỗi thuyền có hơn chục người trai tráng, người cầm sào, kẻ giữ thuyền, những cuộn dây thừng lớn được xếp sẵn dọc theo hai bên mạn. Những mái chèo to lớn cùng nâng cùng hạ, bổ xuống nước đều tăm tắp.

Dân chúng lập tức xôn xao:

“Là ai vậy, thuyền từ dinh quan phủ sao?”

“Nào có, chức quan phủ lộ chúng ta đã để trống mấy tháng nay kia mà, chỉ có một tên thuộc lại họ Đào kia làm loạn, đến cả thuyền cứu hộ còn không quản để trôi đi mất, lấy đâu ra cả đội người thế này!”

“Thế là quan huyện? Không đúng, đám người đó làm gì nhân đức như thế, ta e là đã đưa gia quyến đi lánh nạn rồi cũng nên.”

Người người đều ra sức suy đoán, chỉ có Lê Yển Nguyệt vẫn im lặng đưa mắt nhìn, thậm chí, thầy Khương còn có cảm giác, nàng đang… trơ ra như phỗng.

Nàng nhìn người đang đứng ở mũi thuyền. Người nọ khoác áo tơi lá đã đẫm nước, hai chân vững vàng như bàn thạch. Mưa gió quất nghiêng qua gương mặt, nhưng chàng gần như không chớp mắt.

Đội thuyền kia hoàn toàn theo lệnh của chàng mà tiến lui. Lê Yển Nguyệt cứ nhìn, đến khi lồng ngực giật thót. Trong tháp Linh Tế, người ấy điềm hòa như ngọc ấm. Giữa bão lũ tứ bề, người ấy lại oai dũng như tướng trời.

Thầy Khương tiến tới kéo tay áo nàng:

“Con nói xem, đó là ai, kẻ làm quan sao?”

Lê Yển Nguyệt lắc đầu, đáp rằng nàng không biết. Như nàng từng nói, nàng xem phong thái người ấy không phải người Trường Yên, không phải phường ác tặc, cũng không giống lữ khách tầm thường. 

Chàng thật sự là bậc quan tướng hay sao?

Đội thuyền càng lúc càng tiến gần, nàng cũng nhìn rõ sống mũi thẳng, đôi mắt dài và những nếp gấp mờ trên đuôi mắt của chàng.

Giữa cảnh màn trời chiếu đất, chẳng còn ai thiết dò hỏi xem người trên thuyền từ đâu tới. Dân chúng nhìn tác phong và khuôn phép của đội trai tráng, lại thấy mọi việc qua tay chàng đều đâu ra đấy, lòng nghi ngại cũng dần lắng xuống.

Lê Yển Nguyệt vẫn luôn tay cứu người trong lán. Nàng vừa vỗ lưng một đứa trẻ để nó ho hết nước, vừa đưa mắt nhìn ra ngoài. 

Đến khi đứa trẻ trong tay nôn hết nước ra, an tĩnh nằm xuống, đội thuyền của người nọ cũng đã nhận lệnh mà rời khỏi mỏm đất, tỏa đi các hướng có người đang kêu gào.

Cuối cùng, quan màn mưa mờ đục, ánh mắt hai người mới chạm nhau.

Người nọ dường như cũng không ngờ sẽ gặp nàng ở đây. Nhưng chợt nhớ tới lời nàng từng nói trong tháp Linh Tế, còn có số thảo dược trong gùi của nàng, xem ra gặp lại nàng cũng không phải là chuyện lạ.

“Chào cô, lại gặp nhau rồi.” Khi nói, chàng hơi cúi đầu, vẫn là dáng vẻ nho nhã và giữ lễ.

Lê Yển Nguyệt cũng gật đầu đáp lại, song so với đêm ấy, ngay lúc này, nàng lại càng không rõ thân phận của chàng lớn bé thế nào để ứng đối mà không trở thành thiếu lễ.

“Công tử…” Ngay cả hai chữ này, nàng cũng không rõ mình đang dùng đúng hay sai.

Người nọ không có ý làm khó nàng, chỉ khẽ cong khóe môi.

Ngay khi nàng định tiếp lời, bạo gan hỏi xem chàng rốt cuộc là ai, thì một chiếc thuyền vừa rời đi về phía đông bỗng vội vã chống sào quay lại. 

Người đứng trên mũi thuyền còn còn cách một quãng đã chắp tay bẩm lớn:

“Đại nhân! Phía đông có một căn nhà sắp sập, trên nóc bếp vẫn còn một bà lão đang mắc kẹt. Nhưng người của chúng ta khuyên thế nào, bà ấy cũng không chịu rời đi, mong đại nhân giúp định đoạt!”

Lê Yển Nguyệt hơi nhíu mày, đại nhân?

Người nọ vừa nghe xong liền quay người đi về phía chiếc thuyền đang chờ, Nhưng mới bước được mấy bước, chàng bỗng khựng lại. Khi Lê Yển Nguyệt ngẩng đầu thì thấy chàng đang nhìn mình.

“Cô có phiền khi đi cùng chúng ta một chuyến không?”

Chàng nói, bọn họ đều là những người mới đến, chưa hiểu dân tình ở đây. Hơn nữa lại còn là đàn ông, gặp người già, đàn bà hay trẻ nhỏ đang kinh hãi, có những việc e rằng khó thể chu toàn. Nàng đi cùng sẽ thuận tiện hơn.

Thầy Khương đứng gần đó nghe thấy, lập tức bước tới kéo Lê Yển Nguyệt sang một bên. 

Ra vào huyện đường, phủ đường nhiều năm, ông tự thấy việc thân cận với người nhà quan chẳng khác nào đâm đầu vào dòng nước xoáy. Dù cho người trước mặt không giống đám quan lại ở Trường Yên, ông cũng không thể không cảnh giác.

“Ờ… đại nhân, con gái nhà ta còn trẻ, gặp việc chưa chắc đã ứng biến thấu đáo. Nếu ngài cần người trợ giúp, chi bằng để ta giúp ngài.”

Vừa dứt câu, thầy Khương không ngờ Lê Yển Nguyệt lại nói:

“Không sao, con đi được mà, thầy cứ ở đây lo cho những người bị thương đi. Ngoài kia nước chảy xiết, vẫn là để người trẻ tham gia thì hơn.”

Thầy Khương mở to mắt, nhìn nàng với vẻ đầy ngờ vực. Nàng quay sang nói với người đàn ông:

“Nếu đại nhân không chê ta vướng chân, ta xin đi cùng.”

Người nọ gật đầu:

“Vậy làm phiền cô rồi.”

Thầy Khương nhìn vóc dáng mảnh mai của nàng chạy theo đội thuyền toàn là trai tráng đó. Con nhóc này, bình thường còn tỏ ý xa lánh đám quan lại hơn cả ông, tránh né như thấy tà, vậy mà hôm nay lại tự nguyện bước lên “thuyền giặc”... 

Lẽ nào Nguyệt nhà ông cũng bị dáng vẻ cao quý, phong nhã, đường hoàng kia lay chuyển hay sao?

Chiếc thuyền của họ luồn qua một hàng cau chỉ còn trơ ngọn, tiến về phía nếp nhà chênh vênh. Mái nhà chính đã sập quá nửa, vách đất bị lũ khoét lủng từng mảng. Chỉ có gian bếp thấp phía sau còn đứng, nhưng nước cũng đã dâng gần chạm mái.

Trên nóc bếp, một bà lão đang co ro, cả người ướt sũng, hai tay bấu chặt đòn nóc.

Lê Yển Nguyệt vừa nhìn đã nhận ra đó là bà Thân. Bà lão ấy đã ngoài thất tuần, con trai và con dâu đều đã đến Côn Sơn làm thuê, trong nhà chỉ có bà và đứa cháu trai vừa lên sáu.  

Mấy người trên thuyền và đang bám phía dưới mái liên tục gọi, bảo bà buông tay để họ đưa xuống. Nhưng bà Thân chỉ nhìn những gương mặt xa lạ phía dưới bằng đôi mắt hoảng loạn, càng ép sát mình vào mái bếp. 

Họ càng nói, bà càng cuống quýt xua tay.

Một người trong đội thuyền không còn kiên nhẫn, định bám dây thừng mà trèo lên. 

“Khoan đã!” 

Lê Yển Nguyệt quay sang vị “đại nhân” bên cạnh mình, phân trần: 

“Bà ấy không nghe được, cũng không nói được nên không hiểu mọi người muốn làm gì. Các anh lại là người lạ, áo quần một lối, bên người còn mang theo đao kiếm, có thể… có thể bà ấy tưởng gặp phải kẻ xấu.”

Thật lòng thì nàng định nói, có thể bà Thân nhận ra các anh là người nhà quan, nên mới kinh sợ tới vậy.

Người đàn ông lập tức giơ tay ra hiệu ngừng lại.

Lê Yển Nguyệt vén gọn vạt áo, đặt một chân lên mạn thuyền định tự mình trèo lên trước. Nhưng thuyền không thể ghé sát hơn, mái rạ phía trên lại ngấm nước, trơn nhẫy và chao nghiêng theo từng đợt sóng. Nàng cố với tay hai lần đều không bám được vào mép mái.

Đột nhiên, người nọ bỗng đi tới bên cạnh:

“Để ta giúp cô.”

Lê Yển Nguyệt còn chưa hiểu chàng sẽ giúp mình kiểu gì, thì lại nghe chàng thấp giọng:

“Thất lễ rồi.”

Một tay chàng đỡ cánh tay nàng, tay kia đặt ngang eo, nâng nàng lên. Lê Yển Nguyệt lập tức bám được mép mái, thuận thế chống tay trèo qua, chàng cũng lập tức rời tay khỏi người nàng.

Lớp rạ lún xuống, liếp tre cũng phát ra những tiếng răng rắc khe khẽ. Lê Yển Nguyệt quỳ thấp, từng bước men đến trước mặt bà Thân.

Nhận ra nàng, đôi mắt đục ngầu của bà lão lập tức mở lớn. Nàng liền nắm lấy tay bà, mở miệng nói thật chậm, khẩu hình rõ ràng:

“Bà ơi, bà đừng sợ! Họ là người tốt, họ đến để cứu bà!”

Bà Thân túm chặt lấy tay áo của Lê Yển Nguyệt, vừa khóc vừa liên tục ngoái đầu nhìn phần nhà đã sập, trong cổ bật lên những âm thanh đứt quãng.

Đến lúc này, Lê Yển Nguyệt mới nhận ra trên mái bếp chỉ có một mình bà, vậy còn đứa cháu trai sáu tuổi đâu rồi?

“Cháu của bà vẫn còn trong nhà?”

Bà Thân đọc được lời nàng, gật đầu lia lịa, bàn tay run rẩy chỉ về phía gian nhà chính. Lê Yển Nguyệt quay xuống dưới, nói lớn:

“Đại nhân, đứa cháu của bà ấy vẫn còn mắc kẹt trong nhà chính!”

Người đàn ông vừa nghe thấy, lập tức ra lệnh:

“Phạm Lâm cùng với một người khác, mau chóng vào nhà tìm đứa trẻ.”

Phạm Lâm chính là chàng trai trẻ tuổi luôn theo bên cạnh chàng từ đầu đến giờ. Y cùng với một người khác vội buộc dây lên lưng, mang theo rìu nhảy xuống nước, từ từ men theo vách đất, khoét lối tiến vào bên trong nhà.

Cùng lúc ấy, chàng lại ra lệnh cho hai người khác trèo lên mái bếp. Lê Yển Nguyệt phải trấn an thêm mấy lần, bà Thân mới chịu buông đòn nóc, để hai người kia dìu mình xuống thuyền.

Ngay sau đó, từ gian nhà chính lại vang lên tiếng hô:

“Tìm thấy rồi!”

Phạm Lâm lội ra trước, trên lưng cõng một đứa trẻ, mặt mày trắng bệch. Người đi cùng theo sát phía sau, vừa bơi vừa nói may mà thằng bé bám được vào xà ngang, nước không dâng tới đó nên không bị chết chìm hay bị nước cuốn đi.

Họ đưa đứa trẻ lên thuyền, lại lấy áo tơi khô ráo chuẩn bị sẵn ủ ấm cho hai bà cháu, đưa vào bên trong khoang.

Lê Yển Nguyệt vẫn còn bên trên mái bếp, nàng vừa định bám vào dây thừng để leo xuống thì một trận gió lớn từ dọc con nước bỗng dưng quét tới. Mặt nước đục ngầu lại dậy sóng, con thuyền bị đẩy dạt ra khỏi mái bếp, những cây sào chống đồng loạt cong vòng như cánh cung. 

Phía trên, mái rạ vốn đã rệu rã cũng dần nghiêng hẳn qua một bên, lạt tre dưới mái nối nhau bật đứt.

Lê Yển Nguyệt có hơi hoảng loạn, người đàn ông đang đứng trước mũi thuyền cũng đổi sắc mặt. Chàng vừa đặt chân lên mạn thuyền, định dùng sức bật người lên đó đón nàng, thì đã thấy nàng không chút chần chừ, dồn sức nhảy khỏi mái rạ.

Gần như là phản xạ, chàng lập tức vươn tay. Sức rơi khiến chàng lùi nửa bước, vòng tay mở rộng đón trọn lấy nàng.

Con thuyền chao nghiêng giữa dòng nước xiết. Phía sau, mái bếp cũng đổ sụp, thoáng chốc liền bị nước cuốn mất. 

Gần như trong hoàn cảnh vừa rồi, lễ nghi nam nữ thọ thọ bất tương thân gì đó, bọn họ không nhớ dù chỉ là nửa chữ.

Nhưng cũng không phải là quên sạch, người đàn ông nhớ ra trước, vội vã buông tay. Lê Yển Nguyệt cũng lùi lại, vịn tay vào thành khoang để giữ thăng bằng. Nàng cố giữ giọng bình tĩnh:

“Cảm ơn đại nhân.”

Người nọ cúi đầu, tựa như đang nhận lỗi:

“Vừa rồi tình thế cấp bách, ta lại thất lễ rồi, không biết có khiến cô khó chịu hay không.” Nói rồi, chàng lại nhìn xung quanh, cố ý bồi thêm: “Cô yên tâm, ta sẽ căn dặn những người trên thuyền, họ sẽ không nói lung tung, tổn hại đến thanh danh của cô.”

Lê Yển Nguyệt lắc đầu, nàng nói là chàng ra tay cứu giúp, vừa cứu nàng vừa cứu bá tánh, nàng cảm kích còn không hết, lấy lời nào để oán trách.

Hơn nữa… thanh danh gì chứ. Nếu chàng nghe qua chuyện nàng vì vị hôn phu của mình muốn cưới vợ lẻ mà dám chạy đến nhà người ta đòi hủy hôn, thiết nghĩ chàng sẽ hiểu, nàng vốn không quá coi trọng sự dò xét vô thưởng vô phạt của miệng đời.

Nhưng mà nhờ thế, nàng mới càng nhận rõ, người đàn ông này giữ lễ đến mức giống như đã thành bản tính. Chàng luôn e ngại mình thiếu chu toàn, không đoan chính, hữu lễ.

Đúng lúc ấy, một chiếc thuyền khác vội vã chèo tới, người đứng trên mũi thuyền bẩm báo:

“Đại nhân, thuộc lại trong dinh An phủ đã dẫn lính đến, hiện đang ở gò đất dựng lán cứu thương.”

Người đàn ông đưa mắt nhìn về phía xa, hạ giọng:

“Đã đến rồi sao? Ta còn tưởng phải chờ nước rút mới được thấy mặt ông ta.”

Chàng hạ lệnh cho thuyền quay mũi, theo dòng nước trở về.

Từ xa, Lê Yển Nguyệt đã trông thấy trước mái lán xuất hiện một toán lính lệ. Kẻ cầm roi, người mang dao, chen giữa những nạn dân, khiến nơi vốn chật chội lại càng thêm rối ren.

Đứng đầu toán lính là một người đàn ông béo tròn, tuổi gần chạm ngũ tuần, râu kẽm cứng đen trên mép, mặc áo dài bằng vải lụa màu nâu tía, bên hông thắt đai da.

Lê Yển Nguyệt sao có thể không biết ông ta.

Đào Quang Nghĩa. Nửa năm trước An phủ sứ cũ của lộ Trường Yên đột ngột từ quan, thiếu người điều chuyển, chức đứng đầu lộ bị bỏ trống. Đào Quang Nghĩa vốn là thuộc lại trông coi sổ sách, kho lương và các bến thuyền trong dinh, nhận lệnh giữ an, hỗ trợ các quan huyện coi sóc dân tình. 

Nhưng ông ta lại dựa vào đó ôm quyền, cùng với quan lại và hào trưởng vơ vét trên đầu dân, thậm chí còn lộng quyền đến mức ngầm ra lệnh cho quân lính và bá tánh phải gọi mình là “đại nhân”.

Hơn chục chiếc thuyền cứu lụt mất tích, còn có án hai mươi lượng vàng của Tam, đâu đâu cũng là tác phẩm của ông ta.

Ánh mắt Lê Yển Nguyệt hoàn toàn không giấu được vẻ khinh ghét. Người đàn ông đứng phía trước nàng quay lại, vừa hay trông thấy.

Tiếng quát tháo của Đào Quang Nghĩa vang lên rõ ràng:

“To gan! Ai cho phép các người tự tiện điều động thuyền bè? Lại còn muốn mở kho, mang lương của quan phủ ra ngoài! Cổ các người cứng lắm sao, tất cả chờ dinh An phủ xử tội đi!”

Thuyền vừa ghé bờ, chàng liền bước lên. Đào Quang Nghĩa trông thấy cũng hùng hổ đi tới, tiện tay giật lấy một cây roi da trên tay lính lệ:

“Ngươi là người từ phương nào, lại dám đến đây làm loạn?”

Thấy chàng không lập tức đáp lời mình mà lại từ tốn tháo chiếc áo tơi đã ướt sũng giao cho người bên cạnh, Đào Quang Nghĩa lại càng nổi giận:

“Ta đang hỏi ngươi đấy! Ai cho phép ngươi tự ý điều động dân chúng đi khắp nơi? Ngươi lấy quyền gì mà ra lệnh ở Trường Yên này?”

Chàng ngẩng mắt:

“Vậy theo ông, giữa lúc nước cao gió dữ, để cứu dân chúng thì phải làm gì mới đúng đạo?”

“Cho dù là làm gì thì cũng phải có lệnh từ dinh An phủ!”

“Lệnh của ai?”

Nghe câu này của chàng, Đào Quang Nghĩa nghẹn lại một thoáng, tựa như vừa bị khí phách trong mắt người đối diện dọa sợ. Ông ta đằng hắng, cố giữ vẻ ngạo nghễ:

“Hiện giờ mọi việc của lộ Trường Yên đều do ta trông coi, không có lệnh của ta, bất cứ kẻ nào cũng không được phép động đến!”

Nói rồi, ông ta quay sang những lính lệ:

“Còn đứng đó làm gì, mau bắt hắn lại cho ta!”

Mấy tên lính lập tức bước lên, nhưng chưa kịp đến gần thì đã thấy Phạm Lâm đứng chắn trước mặt chàng. Y rút kiếm khỏi vỏ một đoạn, quát:

“Vô lễ! Tân An phủ sứ ở đây, ngươi còn dám lộng quyền!”

Vừa nghe bốn chữ “tân An phủ sứ”, Đào Quang Nghĩa ngay lập tức biến sắc. Đúng là ông ta đã nghe lệnh triều đình sắp bổ quan phủ mới đến đây, nhưng mà… sao có thể nhanh như vậy? Hơn nữa, cách làm việc thế này, hoàn toàn không giống với những thông tin mà ông ta nghe ngóng được.

Phạm Lâm vừa dứt lời, một tùy tùng khác của chàng đã mang đến một chiếc hộp gỗ sơn đen, hai đầu bọc đồng. Trước mặt nha lại, quân lính và người dân, Phạm Lâm mở hộp, nâng tờ chiếu được bọc cẩn thận trong vóc vàng lên.  

“Chiếu của triều đình, quan gia đích thân bổ Trần Kiến [1] đại nhân giữ chức An phủ sứ tại lộ Trường Yên, đặt trị sở tại huyện Yên Ninh. Ngươi là kẻ nào, dám ngang nhiên ở đây lớn lối, còn muốn tổn hại đại nhân?”

Đào Quang Nghĩa đứng không vững nữa, hai gối ông ta mềm nhũn, sau đó quỳ sụp xuống:

“Bẩm… bẩm quan… tiểu lại họ Đào, tên là Quang Nghĩa, tạm trông coi dinh quan. Không biết đại nhân đến, tiểu lại đáng chết!”

Lê Yển Nguyệt đã quay lại đứng cạnh thầy Khương, quan sát toàn bộ sự việc vừa rồi. 

An phủ sứ? Chàng là Trần Kiến, tân An phủ sứ của lộ Trường Yên?

Nghĩ đến tất cả những gì đã trải qua cùng chàng, không hiểu sao nàng không cảm thấy bàng hoàng hay kinh sợ. Ngược lại, nàng lại nghĩ như thế mới hợp tình hợp lẽ, người như thế, sao có thể có thân phận tầm thường cho được.

Thậm chí, nhìn bóng dáng cao thẳng của chàng, nàng còn có một suy nghĩ hơi hoang đường. Ấy là phẩm cách và khí phách của chàng không nên chỉ gói gọn trong một Trường Yên, nó nên như cánh chim bằng bay khắp tứ phương, tung hoành giữa nước non nghìn dặm.

**

Chú thích:

[1] Trần Kiến: Nguyên gốc trong lịch sử là Trần Thì Kiến (1260-1330-?). Ông từng là môn khách của Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn và được tiến cử ra làm quan. Ông nổi tiếng cương trực, thanh liêm, giỏi xét án, tinh thông Kinh Dịch; từng giữ các chức An phủ sứ Trường Yên, Đại An phủ sứ Kinh sư, Tham tri chính sự và Tả Bộc xạ. Sử sách đặc biệt ghi nhận khí tiết và tài năng xử đoán của ông.

 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px