Chương 7: Tân quan
Đương lúc nước lũ chưa yên, Trần Kiến cũng không có thư thả thì giờ để hỏi tội Đào Quang Nghĩa, chỉ có thể tập trung vào việc chính trước:
“Từ giờ trở đi, mọi việc điều động lính lệ, kho lương và thuyền bè trong dinh đều do ta trực tiếp định đoạt. Ta cần nắm rõ, bến nào còn thuyền, kho nào còn lương, và cả người canh giữ các kho hiện tại là ai, đang ở nơi nào.”
Đào Quang Nghĩa khựng lại, dẫu đang quỳ mà vẫn vô thức ngoái đầu nhìn đám người sau lưng:
“Bẩm quan, ngài… ngài vừa mới tới Trường Yên, chúng dân vẫn cần phải làm lễ nghênh đón, kiểm qua sổ sách, gặp mặt các quan huyện và hương chức các làng rồi mới…”
Phạm Lâm đứng một bên, dần thiếu kiên nhẫn với thói quanh co của ông ta, y đưa mắt dọ ý Trần Kiến một cái, rồi quát:
“Đại nhân đang hỏi một đằng, ông cố ý luyên thuyên một nẻo, ý gì đây?”
Trần Kiến lên tiếng, ngữ điệu nghiêm nghị:
“Ta hỏi ông thuyền ở đâu, lương ở đâu, chìa khóa do ai giữ?”
Đào Quang Nghĩa nghiến răng, mấy lời xu nịnh lòng vòng nghẹn lại hết trong cổ họng:
“Bẩm quan, tiểu lại vâng lệnh.”
Nói rồi, ông ta lần lượt khai rõ từng bến thuyền, từng kho lương và danh tính của những người đang giữ chìa khóa. Vừa nói, mồ hôi từ hai bên thái dương của ông ta đổ ròng ròng như mưa xối, bất chấp mái lán đang che trên đỉnh đầu
Theo lời Đào Quang Nghĩa, hiện toàn lộ Trường Yên có tám bến thuyền lớn, quanh dinh có ba bến. Tuy nhiên, bến trước dinh đã hư hại gần hết, hai bến dọc theo sông Vân có hơn chục chiếc thuyền lành, nhưng đã bị lũ cuốn mất.
Kho lương thì có năm nơi, nhưng kho lớn chứa quá nửa số gạo dự trữ, đặt cạnh đình Thành hoàng, giữa huyện Yên Ninh và Uy Viễn thì người coi kho không có mặt. Đào Quang Nghĩa nói y đã theo thuyền xuống lộ Thanh Hóa [1] hơn một tháng, đến nay còn chưa về.
Trần Kiến lạnh lùng nhìn ông ta, rồi lệnh cho Phạm Lâm phân chia lính lệ và các tùy tùng của mình thành nhiều toán. Một toán đến các bến lấy thêm thuyền lành đi cứu nạn, một toán mở kho lấy gạo, muối và củi khô chuyển đến các gò tránh lũ.
Đào Quang Nghĩa được cho đứng dậy, nhưng sắc mặt càng lúc lại càng khó coi. Đến khi nghe chàng nói:
“Còn ông, đưa ta đến kho lương lớn nhất, không có chìa khóa thì dùng công cụ mà phá ra.”
Hai chân ông ta chao đảo, bàn tay cũng run lên, tựa như vừa trúng phải gió độc.
“Vâng, thưa đại nhân.”
Nhìn thái độ này của Đào Quang Nghĩa, ai cũng ngầm đoán được trong dạ ông ta đang giấu đầy yêu qua quỷ quái, nơm nớp sợ người ta phát hiện.
Ở một góc, thầy Khương vẫn đang quan sát từng chỉ đạo gọn gàng, dứt khoát của vị quan phủ mới này, rồi lại nhìn sang Lê Yển Nguyệt. Ánh mắt ông đảo qua nàng một lượt, trong lòng đã thấu tỏ mười mươi.
“Nguyệt, con nói thật đi. Con đã quen biết quan phủ Trần Kiến từ trước rồi phải không?”
Lê Yển Nguyệt từ nhỏ đã không giỏi nói dối, lại còn là dối trước mặt thầy Khương thì càng không đủ bản lĩnh. Nàng tặc lưỡi, bất đắc dĩ đáp:
“Cũng không thể gọi là quen, cách đây mấy hôm con chỉ gặp ngài ấy có một lần, nói chuyện chưa được mấy câu nữa.”
“Quả nhiên là có quen rồi!” Thầy Khương đưa tay gõ đầu nàng: “Con nhóc này, con quen với một nhân vật lớn như vậy mà dám không hé răng nói với ta nửa lời!”
Lê Yển Nguyệt ôm trán:
“Con cũng đâu có biết ngài ấy chính là quan phủ chứ…”
Thầy Khương còn muốn hỏi chuyện nàng kỹ càng hơn, nhưng người bị thương, bị ngạt nước lại được đưa tới không ngừng. Chuyện xảy ra ở kho lương, mãi đến khi trời ngả chiều nàng mới nghe ngóng được từ mấy người trai tráng trong vùng được điều đi hỗ trợ.
Người này nối lời người kia, chắp ghép ra được câu chuyện tạm coi là hoàn chỉnh như sau.
Kho lớn nhất của lộ Trường Yên do dinh An phủ trông coi nằm trên dải đất cao cạnh miếu Thành hoàng, giữa địa phận Yên Ninh và Uy Viễn.
Kho vốn được dựng từ lâu để phòng những kỳ đói kém do chiến tranh và hạn lụt. Móng kê đá xanh, tường xây cao dày, mái lợp ngói đỏ, quanh chân tường còn đào rãnh thoát nước. Đồng ruộng bốn phía đã chìm trong lũ, nhưng nước cũng chỉ liếm được tới bậc đá ngoài sân.
Những tưởng mọi chuyện đã thuận buồm xuôi gió. Kho lương khô ráo như vậy, lại được cho mở công khai, nhà nhà ắt có thể vượt qua được đợt lũ kinh hoàng này.
Nào ngờ, cửa kho vừa bật mở, mùi ẩm mốc đã xộc thẳng ra ngoài. Trong ánh sáng nhập nhoạng, những bao thóc vẫn được xếp cao gần chạm xà, nhưng khi Phạm Lâm dẫn người vào kiểm tra thì lại phát hiện đám bao cũ đều bị dồn ra phía trước, từ hàng thứ ba trở vào, gian kho sâu hun hút chỉ còn trơ nền gạch phủ bụi.
Trước đây Đào Quang Nghĩa cậy chuyện Trường Yên có danh cố đô che mắt người ở Thăng Long, sẽ không có ai rảnh rỗi đến đây khảo sát, cho nên mới nghênh ngang lộng quyền. Hơn nữa, cho dù quan gia có bổ quan phủ mới tới, có lẽ cũng chỉ là một kẻ muốn nhận hư danh mà sống an nhàn, một mắt nhắm một mắt mở.
Hơn nữa, những gì ông ta nghe về vị quan tên gọi Trần Kiến này, chính xác là như vậy.
Nhưng bây giờ…
Đào Quang Nghĩa run như cầy sấy nhìn Trần Kiến lần lượt kiểm tra từng bao lương. Bao thì nhồi rơm vụn, bao lại trộn thóc ẩm với đất.
Bên ngoài, người dân trông thấy cảnh đó thì vô cùng căm giận. Nếu không phải lính lệ và quan phủ còn ở đây, không biết mấy mũi sào và cọc tre trên tay họ đã phang bao nhiêu nhát vào người Đào Quang Nghĩa.
Trần Kiến quay đầu nhìn ông ta, tay vẫn còn vê nắm thóc ẩm lẫn với đất:
“Thế này là sao?”
Ánh mắt Đào Quang Nghĩa đảo liên hồi, sau vài cái nháy mắt thì liền quỳ sụp xuống:
“Bẩm quan, việc này… việc này tiểu lại không hề hay biết!” Ông ta cuống quýt xua tay: “Nhất định là kẻ coi kho đã ngấm ngầm giở trò rồi! Hắn ta là Hoàng Tấn, là người thừa lệnh của quan phủ cũ, còn tiểu lại chỉ xem sổ sách, cũng không có chức vụ cụ thể, chỉ là thay các vị coi sóc việc trong dinh… ta… Đại nhân, chúng ta cho người truy bắt kẻ đó, nhất định biết được đầu đuôi!”
Ánh mắt Trần Kiến lạnh đi:
“Vậy sao?”
Ngữ điệu của chàng rất nhạt, hoàn toàn không nghe ra được chàng có tin mấy lời vừa rồi hay không.
Trần Kiến phẩy tay áo, ra lệnh mang toàn bộ sổ kho đến. Toán lính huyện toan chạy đi, nhưng bị Phạm Lâm ngăn lại, y ra lệnh cho người của mình đích thân về dinh An phủ truyền lệnh.
Chẳng bao lâu sau, một viên thư lại ôm tráp chạy đến kho lương. Ông ta là Lưu Thế, phụ trách sao chép và cất giữ giấy tờ dưới trướng Đào Quang Nghĩa, hoàn toàn không biết những gì vừa xảy ra.
Nghe lệnh, ông ta liền răm rắp mang đúng quyển sổ mà Đào Quang Nghĩa đã yêu cầu chỉnh sửa trước đó để trình quan mới.
Quyển sổ bọc trong vải dầu, bìa sạch tươm, ngay cả dây đóng cũng rất mới. Đào Quang Nghĩa vừa trông thấy, mặt đã tái lại càng thêm trắng nhợt. Nhưng Lưu Thế sớm đã bị nét mặt lạnh lùng của vị quan phủ mới này dọa sợ, một mực cúi đầu đi thẳng, hoàn toàn không nhìn tới ông ta.
“Dạ bẩm quan, đây là sổ kiểm kho, hoàn toàn không có sai sót.”
Trần Kiến nhận lấy, mở ra. Nét chữ bên trong ngay ngắn, số thóc, số muối đều được ghi rõ ràng. Lần kiểm kho gần nhất diễn ra trước trận lụt đúng mười hai ngày. Dòng cuối xác nhận rõ lương trong kho đủ cấp cho dân của cả ba huyện Yên Ninh, Uy Viễn và Yên Mô dùng trọn một tháng.
Bút tích phê nhận bên dưới là của Đào Quang Nghĩa.
Trên giấy thì phê mình nắm rõ, lời nói ra lại kêu mình không biết gì. Câu trước và câu sau của ông ta đá nhau chan chát.
**
“Sau đó thì thế nào nữa?” Thầy Khương ngồi sát bên bếp lửa nhóm bên ngoài lán, tò mò thúc giục người trai trẻ mới trở về từ kho lương.
Người nọ bỏ một miếng trầu đã têm sẵn vào miệng, nhai mấy lượt rồi vỗ đùi:
“Sau đó, quan phủ đã cho tạm giữ hết mấy người Đào Quang Nghĩa, Lưu Thế. Ngài ấy còn sai niêm phong toàn bộ giấy tờ trong dinh!”
Những người quanh bếp lập tức xôn xao, ai nấy cũng đều chướng mắt thói lộng quyền, một tay che trời của Đào Quang Nghĩa. Nghe thấy tin này, mọi người ít nhiều đều cảm thấy sảng khoái.
Chàng trai càng kể càng hăng. Rằng sau khi kiểm kho, Trần Kiến đã cho người sàng lại số thóc gạo còn dùng được, mang đi giã và nấu thành cơm cháo. Hiện giờ, ở các đình làng còn đứng vững và những gò tránh lũ đều đặt nồi lớn, công khai phát cho bá tánh. Hơn nữa, chỗ nào có người bị thương, người già hay trẻ nhỏ thì sẽ có lính mang thức ăn đến tận nơi.
“Chỗ chúng ta là một trong những lán cứu nạn đông nhất, chắc chẳng bao lâu sẽ có người mang cơm cháo đến thôi.” Người thanh niên hồ hởi.
Thầy Khương lại hơi nghi hoặc:
“Kho đã rỗng đến vậy, số thóc gạo còn lại có thể chống được bao lâu? Hai huyện cùng chịu lụt, ngần ấy lương làm sao đủ chia?”
Người thanh niên lắc đầu:
“Chuyện này thì cháu không rõ, nhưng mà… nhìn dáng vẻ đó của quan phủ, có lẽ ngài ấy đã có tính toán rồi.”
Ngồi bên kia bếp lửa là thầy Hương, một thầy lang lớn tuổi hơn thầy Khương.
“Vừa đến đã cứu dân, mở kho, bắt hết đám sâu mọt. Xem ra cuối cùng Trường Yên này cũng có một vị quan tốt, vừa trẻ tuổi lại vừa liêm chính.”
Nhiều người đồng tình với lời nói này.
“Chưa chắc đâu.” Một giọng nói bất ngờ chen vào.
Ấy là Phạm Văn Nghê, một chân đưa nhận thư từ giữa các quan huyện và dinh An phủ sứ. Trong lúc chạy lũ, chân phải của y bị xà gỗ đè trúng, khóc lóc kêu gào còn hơn cả trẻ con. Thầy Khương và Lê Yển Nguyệt phải vất vả lắm mới nẹp được chân y vào giữa hai thanh tre.
Lúc này có lẽ đã bớt đau, y buồn chán mà nhảy lò cò ra ngoài hóng chuyện cùng các thầy thuốc.
Thầy Khương hỏi:
“Cậu nói chưa chắc là sao?”
Phạm Văn Nghê ngồi xuống, đảo mắt nhìn quanh rồi hạ thấp giọng:
“Mọi người có biết vị quan phủ này từ đâu tới không? Cháu nghe được một chuyện lạ, đó là ngài ấy làm quan mà chưa từng qua khoa cử, thậm chí còn chưa từng đến Thăng Long chầu quan gia.”
Theo lời của y, Trần Kiến vốn là môn khách dưới phủ Vạn Kiếp [2] của Hưng Đạo đại vương [3]. Chàng tinh thông bói dịch, biết xem sao và đoán tượng trời. Lần này, đích thân đức đại vương dùng danh Quốc công Tiết chế [4] của mình mà tiến cử người với quan gia. Quan gia xét lời, lại nể công trạng và uy phong của phủ Vạn Kiếp mà chuẩn cho Trần Kiến đến Trường Yên nhậm chức, miễn việc vào kinh bái phỏng.
“Không qua khoa cử, không chầu kiến bệ rồng, sao có thể làm quan phủ? Anh Nghê, chuyện này có đáng tin không đấy?”
Lê Yển Nguyệt từ đầu đến giờ vẫn yên lặng ngồi bên cạnh thầy Khương, nghe đến đây mới lên tiếng:
“Nếu lời vừa rồi không phải thật, chúng ta chẳng những phạm đến quan phủ, mà còn phạm cả thanh danh Hưng Đạo đại vương và uy nghiêm của quan gia đó.”
Công lao và khí phách của Hưng Đạo đại vương đã lừng lẫy khắp nơi, mai sau ắt còn truyền đến nghìn đời. Chuyện can hệ đến thanh danh của ngài, thật sự không thể tùy tiện mang ra làm lời phiếm bên bếp lửa.
Phạm Văn Nghê vội ngồi thẳng lưng:
“Ta không nói càn đâu! Chính tai ta nghe được Đào Quang Nghĩa và những thuộc lại dưới trướng ông ta bàn bạc mà. Bọn họ đều cho rằng vị quan phủ mới vô đức vô tài, nương thanh thế của Hưng Đạo đại vương mà nhận một chức quan nhàn. Đến Trường Yên rồi, cùng lắm cũng là nhắm mắt mở mắt mặc họ làm việc mà thôi.”
Nếu không chắc mẩm như vậy, đám người ấy sao lại dám nghênh ngang, không chút phòng bị nào như thế. Biết quan phủ mới sắp tới mà kho lương chẳng xét, thuyền bè không kiểm, đến ngay cả sổ sách cũng chỉ vá víu cho qua.
Thầy Khương thở dài, gắp một thanh củi bỏ vào bếp, dứt khoát nói:
“Rồi rồi, chuyện này dừng ở đây đi, truyền ra ngoài, dù đúng hay sai thì người chuốc họa vẫn là chúng ta thôi.”
Phạm Văn Nghê gật đầu:
“Vâng vâng, cháu nào có ý đồn ra ngoài. Chẳng qua nhìn cảnh màn trời chiếu đất buồn tẻ quá, lại biết các thầy đều là người kín miệng nên mới kể đôi ba câu thôi ấy mà.”
Đúng lúc ấy, thầy Hương ngồi bên kia chợt nhớ ra một chuyện, quay sang hỏi Lê Yển Nguyệt:
“Phải rồi, Nguyệt nương, cháu có quen vị quan phủ đó từ trước sao? Ban sáng, giữa bao nhiêu người, ngài ấy lại nhờ cháu cùng đi đến nhà bà Thân, ta thấy cháu và ngài ấy chào hỏi nhau.”
Lê Yển Nguyệt còn chưa kịp đáp, thầy Khương đã lên tiếng thay:
“Tình cờ, tình cờ thôi. Anh Hương à, Nguyệt nhà ta quanh năm chỉ có cắm đầu trong mấy nia thuốc, thậm chí còn không có khuê mật, lấy đâu ra chuyện kết giao với bậc đại quan. Quan phủ thấy nó biết thuốc, lại thông thuộc đường sá và dân tình nên mới gọi đi giúp thôi.”
Lê Yển Nguyệt hiển nhiên hiểu ý của thầy Khương, nàng lập tức gật đầu phụ họa:
“Đúng đó ạ, chỉ là tình cờ mà thôi.”
Chuyện nàng trả trâm, từ hôn với Đinh Hạ đến nay vẫn chưa yên lời ra tiếng vào. Nếu lại để người ngoài biết thêm việc nàng từng gặp qua quan phủ mới, chẳng rõ câu chuyện sẽ bị thêu thành hình dạng gì.
Nàng không quá để tâm miệng đời, nhưng mà thầy Khương thì có. Nghe người ta bàn tán, chòm râu thưa dưới cằm của ông đã dựng ngược lên mấy phen rồi.
Chẳng bao lâu, đúng như lời người thanh niên kia nói, lính lệ đã chở lương thực tới mỏm đất. Mấy nồi đồng lớn được bắc ngay trước lán, khói bếp quyện cùng hơi mưa.
Càng về khuya, nước lũ cũng dần rút bớt, nhưng chậm đến mức khó thể nhìn được bằng mắt thường.
Những trai đinh giúp cứu nạn có nhà ở mé đông chưa bị nước cuốn tới lần lượt theo thuyền bè quay về xem xét cửa nhà. Thầy Khương cũng quá giang một chuyến, nhân tiện lấy thêm thuốc than và vải sạch.
Lê Yển Nguyệt ở lại cùng những thầy thuốc khác. Đến quá nửa đêm, người bị thương nặng đã thôi rên la, người già và trẻ nhỏ cũng dần ngủ thiếp.
Dầm mưa cả ngày trời, dù có áo tơi che chắn nhưng cơ thể vẫn rất khó chịu, Lê Yển Nguyệt lo cho người khác xong, còn phần mình thì lại không thể chợp mắt được.
Nàng tìm một mỏm đá bên cạnh lán, ngồi bó gối, đưa mắt nhìn về phía vùng nước đen.
Trời tối mù, không trăng không sao, xa gần chỉ thấp thoáng vài đốm lửa trên gò đất và những mái nhà chưa đổ, chập chờn giữa hơi nước như đom đóm lạc đồng.
Nàng nhớ tới câu chuyện trong lời kể của Phạm Văn Nghê.
Nếu Trần Kiến thật sự là môn khách trong phủ Vạn Kiếp, vậy thì nàng nghĩ tư chất và năng lực của chàng chắc chắn phải có chỗ hơn người. Tuy nàng lớn lên ở Yên Ninh, thậm chí còn chưa từng rời chân khỏi lộ Trường Yên, song thanh danh của những bậc anh tài từng chống giữ non sông trong hai kỳ tao loạn Ất Dậu và Mậu Tý [5], nàng đã nghe đến thuộc lòng.
Hưng Đạo đại vương là công thần gánh vận nước trên vai, muôn phen đưa con dân Đại Việt qua cơn binh lửa. Người như thế, há nào thu nhận một môn khách bất tài, lại càng không đem thanh danh của mình bảo cử cho một người vô đức.
Đang mãi nghĩ, Lê Yển Nguyệt không hay một chiếc thuyền nan đã lặng lẽ xuôi tới theo con nước tự lúc nào.
Đến khi nghe mạn thuyền cọ vào chân đá, nàng mới ngẩng đầu. Trong phút chốc, nàng đã suýt hét toáng lên.
Trên thuyền là một người đàn bà ngoài ba mươi. Tóc dài ướt sũng, bết kín hai bên má, áo quần ướt đẫm dán chặt vào thân hình gầy quắt. Trong đêm nước mịt mờ, nom người ấy chẳng khác gì bóng ma đói vừa ngoi lên từ dưới đáy nước.
Người đàn bà vịn mạn thuyền, khó nhọc trèo lên, sau đó lập tức tóm lấy tay áo của Lê Yển Nguyệt:
“Cô ơi… làm ơn, cho tôi xin một bát cháo, chỉ một bát thôi.”
Lê Yển Nguyệt nhìn về phía lán, nồi cháo đặt trên bếp, than đỏ vẫn chưa tàn. Nàng nghi ngờ hỏi:
“Lương thực đã công khai đặt ở khắp nơi, ở đây, cháo cũng đang phát ngay trước lán. Chị cứ đến đó mà nhận, sao phải chèo thuyền vòng sang đây một cách lén lút thế này?”
Người đàn bà mấp máy môi nhưng không đáp, nỗi sợ trên mặt càng lúc càng lộ rõ.
“Xin cô, cho tôi với.”
Dứt lời, nàng ta bất ngờ quỳ xuống, Lê Yển Nguyệt vội đỡ lấy:
“Ấy! Chị đừng có quỳ, ta đâu nói là không cho!”
Nói rồi nàng bảo nàng ta đợi mình, sau đó nhanh chân đi ra trước lán, múc một bát cháo đầy, còn lấy thêm hai nắm cơm bọc trong lá chuối.
Vừa thấy thức ăn, người đàn bà vội giơ đôi tay gầy ra đón lấy. Nàng ta uống vội hai ngụm cháo nhỏ, sau đó lấy ra một chiếc vò nhỏ bằng sành, cẩn thận rót phần còn lại vào. Hai nắm cơm cũng được ôm chặt trong vạt áo, không nỡ ăn thêm..
Lê Yển Nguyệt càng nghi ngờ:
“Trong nhà chị vẫn còn người khác à?”
Người đàn bà vẫn không đáp lời nàng, ghì chặt thức ăn vào ngực.
“Nếu trong nhà có người bị thương, bị bệnh, không thể tới nhận, chị có thể báo với lính của dinh quan phủ. Từ ngày mai họ sẽ mang thức ăn đến tận nơi, không cần vất vả tự mình đi lấy.”
Vừa nghe nhắc đến quan lính, sắc mặt người đàn bà liền trắng bệch, vội vã quay người bỏ chạy.
“Khoan đã!” Lê Yển Nguyệt dám chắc người này có điều khuất tất, nàng đuổi theo: “Chị ở xóm nào? Trong nhà có những ai?”
Người đàn bà vẫn không quay đầu. Nhưng thân thể nàng ta đã đói lả, hai chân lảo đảo, mấy lần suýt ngã chúi xuống bùn.
Ngay khi nàng ta chuẩn bị leo lên thuyền của mình, thì vài chiếc thuyền nhỏ từ mé đông cũng trở lại. Mũi thuyền tấp ngay bên cạnh nàng ta, thầy Khương vừa chống sào đứng dậy đã nghe thấy tiếng của Lê Yển Nguyệt:
“Thầy, giữ chị ta lại!”
Thầy Khương còn chưa kịp hiểu đầu đuôi thế nào, đã thấy hai chân người đàn bà trước mặt mình mềm nhũn, sau đó thì đổ sụp cả người xuống bùn.
**
Chú thích:
[1] Lộ Thanh Hóa: Một trong mười hai lộ của Đại Việt thời Trần, nằm ngay phía dưới lộ Trường Yên (Thanh Hóa ngày nay).
[2] Phủ Vạn Kiếp: Phủ đệ đồng thời là đại bản doanh của Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn tại Vạn Kiếp, nay thuộc khu vực Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương. Nơi đây nhìn ra sông Lục Đầu, giữ vị trí quân sự trọng yếu ở miền Đông Bắc Đại Việt.
[3] Hưng Đạo đại vương: Tên thật là Trần Quốc Tuấn (1228-1300). Ngài là con của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu của vua Trần Thái Tông; là một danh tướng và nhà quân sự kiệt xuất thời Trần. Ngài từng giữ chức Quốc công Tiết chế, thống lĩnh quân đội Đại Việt chống Nguyên – Mông, có vai trò đặc biệt quan trọng trong hai cuộc kháng chiến năm 1285 và 1287–1288.
[4] Quốc công Tiết chế: Danh vị được triều Trần trao cho Trần Quốc Tuấn. “Quốc công” là tước vị cao; “Tiết chế” chỉ quyền thống lĩnh và điều động toàn quân, kể cả binh mã của các vương hầu, tôn thất.
[5] Năm Ất Dậu và Mậu Tý: Lần lượt là các năm 1285 và 1288, ghi dấu thắng lợi của quân dân Đại Việt trong hai cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên lần thứ hai và lần thứ ba.