Đọc to (tiếng Việt) Nhấn phát để bắt đầu
Ngọc Ẩn Bóng Tùng

Chương 9: Như ngọc

Việc quan phủ bất ngờ xuất hiện tại lán cứu thương vào độ canh tư khiến những người còn thức đều ngỡ ngàng. Thật sự không ngờ, vào lúc đêm hôm khuya khoắt, Lê Yển Nguyệt có thể thỉnh được đại quan và cả đoàn lính lệ đến đây vì một người đàn bà lạ mặt.

Sau một lúc hỏi chuyện, mọi người lại thấy quan phủ cho người dìu người đàn bà đó lên thuyền lớn.

Theo lời Lý Thị Mộc, Hoàng Tấn đang bị thương nặng, lại sốt cao không dứt. Muốn cứu được người và hỏi ra chuyện, tất nhiên phải có thầy thuốc đi cùng. 

Mà trong lán lúc ấy chỉ còn hai người thực sự có thể bắt mạch, kê thuốc là thầy Hương và thầy Khương. Nhưng thầy Hương tuổi đã cao, chân lại yếu, khó bề theo thuyền vượt qua dòng nước lũ.

Lê Yển Nguyệt lập tức quay sang thầy Khương, nở nụ cười ngọt đến mức vừa nhìn đã biết chẳng có chuyện gì tốt lành.

“Thầy, thầy theo giúp mọi người xem mạch cho họ Hoàng nhé!”

Thầy Khương cười nhạt:

“Ta cứ ngỡ con sẽ tự mình đi. Nửa đêm còn dám một mình tìm tới dinh quan, bây giờ mới nhớ ra mình còn có thầy cơ đấy.”

“Con đương nhiên phải đi theo thầy. Tay nghề con còn non trẻ, gặp thương thế nặng sao dám tự tiện chữa. Vả lại…” Nàng hạ thấp giọng: “Vả lại, con gái chưa chồng cứ lẻ loi đi giữa cả đoàn lính tráng cũng không phải phép mà.”

Thầy Khương nheo mắt nhìn nàng. Vẻ mặt ấy rõ là đang hỏi, sao lúc tự tiện mượn thuyền của ta chạy đi, con không nhớ mình là gái chưa chồng?

Lê Yển Nguyệt coi như không hiểu, tiếp tục cười:

“Thầy không đi cũng được. Chỉ sợ đến khi con trở về, chòm râu của thầy lại vì nghe người ta bàn tán mà dựng ngược cả lên.”

Thầy Khương nghẹn mất một lúc, sau đó lén đưa tay cốc đầu nàng, nói sau chuyện này nhất định phải kiểm tra xem đầu nàng có bị ngâm nước mà hỏng mất rồi hay không.

Đứng gần đó, thấy Lê Yển Nguyệt đã thuyết phục được thầy Khương, khóe môi Trần Kiến bất giác cong lên.

Từ khi đặt chân tới Trường Yên, chàng đã nhận ra dân chúng nơi đây luôn rất dè chừng người của quan phủ. Thậm chí, chàng nhớ Lê Yển Nguyệt cũng đã từng như vậy.

Người từng phải đòn, trông thấy bóng roi cũng sợ. Bá tánh Trường Yên đã chịu quá nhiều khổ cực dưới tay quan sai, sao có thể dễ dàng tin tưởng một vị quan mới từ nơi khác tới. 

Thầy Khương cũng không ngoại lệ. 

Trần Kiến hiểu rõ, nhưng không lấy đó làm phật ý. Thấy thầy Khương đã cầm áo tơi khoác lên người, chàng bước tới, khiêm nhường chắp tay:

“Đa tạ thầy sẵn lòng giúp đỡ.”

Thầy Khương rõ là có hơi bất ngờ trước lễ nghĩa này của chàng, vội đáp lại:

“Không dám. Chữa bệnh cứu người vốn là việc làm của thầy thuốc. Hơn nữa đây là việc chung, quan lớn chịu bỏ tâm tư, ta đương nhiên phải góp thêm chút sức mọn.”

Trong lúc đó, Lê Yển Nguyệt đã thu xếp xong những vị thuốc cần thiết và vải sạch, ôm tráp thuốc chạy ra.

Mưa gần như đã tạnh hẳn, song nước vẫn phủ kín đường làng. Phạm Lâm cho người thắp đuốc tẩm dầu ở đầu và cuối thuyền, lại lệnh cho những lính lệ khỏe mạnh cầm sào chống dọc hai bên mạn. 

Theo hướng tay của Lý Thị Mộc, chiếc thuyền lớn rời khỏi mỏm đất, chậm rãi rẽ màn nước đen rồi xuôi về thôn nhỏ dưới chân núi Non Nước.

Nhà mẹ đẻ của Lý Thị Mộc được dựng trên nền đất chỉ cao hơn xung quanh chừng nửa thước. Vách đất đã bị mưa khoét nham nhở, mái rạ võng xuống ở giữa, mấy cây cột dựng ngoài hiên đều nghiêng về một phía. 

Lê Yển Nguyệt nhìn mà thầm nghĩ, căn nhà này chống chọi được đến tận giờ mà chưa sụp thì cũng có thể xem là chuyện lạ.

Hoàng Tấn nằm trên chiếc giường tre kê sát vách, bên dưới chỉ lót mấy lớp áo cũ. Gương mặt y đỏ bừng vì sốt, hai mắt nhắm chặt, môi khô nứt. Trần Kiến nhìn qua một lượt, sau đó dẫn theo lính lệ ra bên ngoài, để thầy Khương và Lê Yển Nguyệt có thể thuận tiện xem xét thương thế.

Thầy Khương thấy Hoàng Tấn sốt quá nặng thì dần sa sầm mặt, ông vừa bắt mạch, vừa bảo Lê Yển Nguyệt tháo những dải vải quấn quanh cổ tay và cổ chân của y. Bên dưới là những vòng lở loét ăn sâu vào da thịt, không chỉ tím bầm mà còn rỉ ra dịch vàng. Còn từ vai xuống thắt lưng của y thì chằng chịt vết roi, có vài vết nứt toác ra, đang dần mưng mủ.

Thầy Khương tặc lưỡi:

“Đánh kiểu này, rõ ràng là không muốn giữ mạng cho hắn!”

Trong lúc đang dùng vải sạch lau đi những mảng máu khô quanh vết thương cho Hoàng Tấn, ánh mắt Lê Yển Nguyệt chợt khựng lại.

“Thầy, nhưng dấu này… có vẻ rất giống các vết thương trên người chú Tam nhỉ?”

Đương nhiên thầy Khương cũng nghĩ giống nàng. 

Hai thầy trò từng thấy cảnh Tam bị áp giải qua phố. Khi đó, cổ tay ông ta cũng bị dây trói cứa rách thành hai vòng xoắn, những vết roi trên lưng cũng chồng chéo theo cũng một lối với Hoàng Tấn bây giờ.

Lê Yển Nguyệt nghĩ, chuyện này nhất định phải báo với Trần Kiến, nhưng trước hết thì phải giữ được mạng Hoàng Tấn. Thậm chí, nếu Trần Kiến thật sự là một vị quan liêm chính, không chỉ án của Tam, nàng còn mong muốn chàng lật giở lại mọi án oan khác ở Trường Yên, để ai ai cũng có thể danh chính ngôn thuận khôi phục thanh danh trong sạch cho mình.

Gần nửa canh giờ sau, thầy Khương rửa tay rồi bước ra phía ngoài, bẩm báo vắn tắt tình hình của Hoàng Tấn. Rằng y sốt quá cao, các vết thương đang dần lở loét và sinh mủ, mà căn nhà lại ẩm thấp, thuốc men cũng không đủ, không thể để y tiếp tục điều dưỡng tại đây.

Trần Kiến nghe xong rồi gật đầu, gần như không có chút hoài nghi nào. Chàng sai Phạm Lâm chuẩn bị cáng, đưa người về dinh An phủ chữa trị. 

Khi đoàn người bắt đầu trở về, ở phía chân trời đã mờ mờ hiện lên một dải sáng bạc. Mưa đã tạnh hẳn, song hơi nước bốc lên từ mặt lũ vẫn còn lạnh buốt.

Sau gần trọn một ngày một đêm không chợp mắt, hết chạy lũ lại cứu người, hết cứu người lại báo án, Lê Yển Nguyệt đã không chống nổi cơn buồn ngủ. Mới ngồi được một lúc, nàng đã cảm thấy mí mắt mình nặng trĩu, gần như không thể nhấc lên.

Thầy Khương nhìn nàng, lại nhìn tuyến đường mà con thuyền đang lướt đi, ông nói:

“Đến mỏm đất phía trước mặt là có đường về nhà chúng ta, con đường không ngập, con xuống thuyền mà về nhà nghỉ ngơi đi. Ta sẽ theo họ về dinh, tiếp tục chữa trị cho Hoàng Tấn.”

Ông nói, chí ít thì đêm qua mình còn chợp mắt được đôi chút, không giống nàng cứ chạy ngược chạy xuôi, hậu quả là bây giờ vật vờ như ma đói.

Thấy Lê Yển Nguyệt đưa tay dụi mắt, tỏ vẻ ngập ngừng, thầy Khương bèn cười nhạt:

“Yên tâm đi. Ta nhất định sẽ hết lòng phối hợp, chữa cho Hoàng Tấn đó tỉnh lại, sau đó để hắn giúp quan phủ của con tra rõ vụ án.”

Vừa nghe đến đây, cơn buồn ngủ của Lê Yển Nguyệt lập tức bay mất quá nửa. Nàng lo lắng nhìn về phía Trần Kiến, thấy chàng vẫn đang đứng ở đầu thuyền mới vội quay lại, hạ thấp giọng:

“Thầy nói gì thế? Quan phủ nào của con?”

Thầy Khương vuốt chòm râu vừa thưa vừa ướt, gật gù:

“Con còn biết lời ấy không đúng, thế thì tốt.”

Tuy đầu óc có hơi mơ màng vì cơn buồn ngủ, nhưng dụng ý trong lời nói này của thầy Khương thì Lê Yển Nguyệt hiểu rõ mười mươi. Nàng thở dài:

“Đương nhiên là không đúng rồi. Con đâu phải kiểu con gái mới gặp người ta vài lần thì đã…”

Nàng còn chưa kịp nói hết, mũi thuyền đã ghé vào mỏm đất cao ráo bên mé phải theo lời chỉ của thầy Khương. Con đường vẫn có nước đọng, nhưng chỉ qua mắt cá chân một chút, đi bộ men theo sườn đất chừng hai khắc thì sẽ về đến căn nhà nhỏ của hai thầy trò.

Về đến nhà, trông thấy căn nhà nhỏ vẫn nguyên vẹn sau trận lụt, Lê Yển Nguyệt cảm thấy vô cùng nhẹ lòng. Nước chỉ dâng đến lưng triền đất, để lại dưới chân dốc một vành bùn nhão. Lúc nhỏ, nàng rất thắc mắc vì sao thầy Khương đang yên ổn làm ngỗ tác trong huyện đường lại bỏ chức, quay sang vét tiền mua một mỏm đất vừa cao vừa xa để cất nhà. 

Bây giờ xem ra, nàng đã càm ràm một cách thừa thãi rồi.

Lê Yển Nguyệt mệt đến mức tay chân cũng không còn sức. Nàng ra sau nhà giội nước qua người, thay quần áo khô ráo rồi trở lên giường. Lưng vừa chạm chiếu còn chưa đầy một khắc, nàng đã chìm vào giấc ngủ.

Hình như nàng đã nằm mộng. 

Cuộc đời nàng xưa nay, ngoại trừ chuyện cha mẹ bị thổ phỉ giết hại từ lúc nàng còn bé xíu, thì quãng đời còn lại sống bên thầy Khương luôn rất bình lặng, vì thế mà đến cả giấc mơ cũng hiếm khi nổi cơn sóng gió. 

Chẳng qua chỉ là dăm ba cảnh tượng rời rạc, không đầu không cuối, vừa hiện lên đã chóng tan ra.

Nhưng lần này, không ngờ giấc mơ của nàng lại tụ hình.

Nàng trông thấy Trần Kiến, thấy chàng đứng giữa chính đường dinh An phủ, mình khoác áo dài xanh, chắp tay, cúi mình chào hỏi nàng:

“Ta là Trần Kiến, tự là Trọng Du. Được quen biết cô, ta lấy làm may mắn và vinh hạnh.”

Người ấy, thân thuộc và gần gũi như mới gặp hôm qua, lại xa xôi như cách nàng qua mấy tầng mưa khói.

Lê Yển Nguyệt sẽ luôn ghi nhớ, Trọng Du. Chữ Du nghĩa là ngọc đẹp. Trọng du, quý ngọc… Nhiều năm sau, nàng lại nhận ra chàng chính là người mang viên ngọc sáng nhất mà nàng từng gặp trong đời.

“Ai là Trọng Du?”

Có tiếng hỏi từ ngoài mộng vọng vào, Lê Yển Nguyệt giật mình mở mắt.

Thầy Khương đang đứng bên chiếc bàn nhỏ, cúi người khêu bấc đèn. Ngọn lửa vừa bén đã hắt một quầng sáng vàng nhập nhoạng lên gian nhà. Ngoài sân , bóng tối đã phủ kín hàng cau.

Ban sáng trở về, Lê Yển Nguyệt mệt đến nỗi chưa kịp vào buồng đã ngả lưng xuống chiếc chõng tre kê sát vách gian ngoài, ngủ một mạch đến khi quá nửa giờ Dậu.

Thầy Khương đặt que đóm xuống, quay sang hỏi lại:

“Ta hỏi ai là Trọng Du. Bây giờ con ngủ còn biết nói mê nữa à?”

Lê Yển Nguyệt vội ngồi dậy, vẻ mặt thoáng bối rối:

“Con… con nào biết. Có khi trong mộng con nhặt được ngọc quý chăng.”

Thầy Khương ngờ vực nhìn nàng, song cũng không truy hỏi nữa.

Lê Yển Nguyệt cảm thấy, tên tự của quan phủ lại được thốt ra từ miệng nàng trong lúc mê ngủ, nghe thế nào cũng chẳng thấy đứng đắn.

“Phải rồi, Hoàng Tấn thế nào rồi thầy?”

Thầy Khương kéo ghế ngồi xuống, gật đầu:

“Tỉnh rồi, biết rõ ngọn ngành mọi chuyện, hắn cũng có khai mấy việc hệ trọng.”

Theo lời Hoàng Tấn khai nhận, những bản kiểm kho gian dối kia đúng là có bút tích của y. Ban đầu, mỗi tháng người của Đào Quang Nghĩa chỉ lén chuyển đi vài chục bao thóc. Hoàng Tấn nhận bạc của ông ta, cố ý nhắm mắt làm ngơ, vẫn ghi vào sổ rằng lương trong kho không hề thiếu hụt.

Cho đến khi nghe tin An phủ sứ mới sắp về Trường Yên, mà Đào Quang Nghĩa cũng chẳng coi trọng vị tân quan này, ông ta bèn muốn vét sạch số thóc còn lại trước khi trả quyền, đòi Hoàng Tấn giao chìa khóa kho ra.

Hoàng Tấn cũng không phải kẻ ngốc, y thừa biết một khi sự việc vỡ lở, những tờ kiểm kho do chính tay mình xác nhận sẽ biến bản thân thành kẻ chịu tội thay. Y sợ hãi, nhất quyết không giao chìa khóa.

Thấy y không nghe lời nữa, Đào Quang Nghĩa liền sai cai trưởng Cao Mậu dẫn người đến bắt. Bọn chúng cướp chìa khóa, giam Hoàng Tấn trong một kho muối bỏ hoang cách dinh chừng hai dặm, rồi tung tin y đã mang theo chìa khóa trốn xuống Thanh Hóa.

Sau đó, chúng chuyển gần sạch số thóc trong kho ra ngoài, chỉ chừa vài bao thóc tốt xếp thành mấy hàng ngoài cửa, phía sau chỉ còn những bao trộn trấu, nhồi đất để che mắt. Mọi chuyện xong xuôi, chúng phi tang chìa khóa, còn toan diệt khẩu Hoàng Tấn.

Y bị nhốt gần một tháng. May sao sáng hôm trước, nước lũ tràn về, đánh sập một góc của kho muối. Y vét chút sức tàn mà bò ra ngoài, bám được vào một chiếc bè gỗ rồi mặc dòng nước đưa đi, không ngờ lại xuôi về đúng nhà mẹ vợ.

Nghe đến cái tên Cao Mậu, Lê Yển Nguyệt chợt nhớ ra:

“Cao Mậu, hắn chẳng phải là cai trưởng đã áp giải chú Tam về kinh dạo trước sau?”

“Chính là hắn.” Thầy Khương gật đầu, sắc mặt trầm xuống: “Vết roi và vết trói trên người Hoàng Tấn giống hệt với thương tích của Tam. Ta đã đem việc ấy báo với quan phủ.”

Trần Kiến đã truyền Cao Mậu đến hỏi chuyện. Thế nhưng hắn một mực chối tội, phản bác rằng Hoàng Tấn muốn nhẹ tội mình nên cố tình vu oan cho kẻ khác.

Lời ấy cũng không phải vô cớ. Hoàng Tấn từng nhận bạc, tiếp tay cho Đào Quang Nghĩa làm sai sổ kho, bản thân y vốn đã mang tội. Nay chỉ có lời khai của một mình y cùng vài vết thương trên người, quả thật chưa đủ buộc tội Cao Mậu. Trước mắt, những gì tra được mới chỉ chứng minh Đào Quang Nghĩa lạm quyền, vét của công mà thôi.

“Vậy là không thể bắt Cao Mậu sao ạ?”

Hắn ta làm cai trưởng, hung hăng lớn lối bấy lâu nay, khắp Trường Yên đều cảm thấy chướng tai gai mắt.

Thầy Khương đáp:

“Tất nhiên là chưa bắt được rồi. Nhưng ta nghĩ ắt hẳn quan phủ sẽ cho người trông chừng hắn.”

May thay, từ lời khai của Hoàng Tấn, Trần Kiến đã nắm được mấy bến thuyền “ma” được giấu dọc theo sông Vân.

Những bến ấy không hề có tên trong sổ dinh. Những kẻ trông coi đều nghe lệnh Đào Quang Nghĩa, dùng thuyền công để chở thóc ra ngoài bán. Ngay trước trận lụt, phần lớn số thóc bị vét khỏi kho cũng được chuyển tới một trong những bến ấy. Tiền bán thóc cuối cùng đều rơi vào túi Đào Quang Nghĩa và đồng bọn.

“Nếu những gì Hoàng Tấn nói là thật, vậy thì quan phủ chẳng những tìm lại được phần thóc gạo chưa kịp bán vì gặp lụt, mà còn thu hồi được những chiếc thuyền cứu nạn đã biến mất. Như vậy, Trường Yên sẽ có thêm vốn liếng mà chống qua nạn nước.”

Lê Yển Nguyệt hỏi tiếp:

“Sau đó thì sao nữa thầy?”

Thầy Khương nhún vai:

“Không có sau đó nữa.”

“Hả?”

Hoàng Tấn đã tỉnh, cơn sốt cũng dần lui, trước mắt đã không còn nguy hiểm đến tính mạng. Đợi thương thế khá hơn, y vẫn phải chịu giam vì tội nhận bạc, tiếp tay làm sai lệch kho lương. Còn phần thầy Khương, đã cứu được người thì liền cáo từ trở về.

Ông nói rồi, mình chẳng muốn dính líu đến việc quan. Vừa nói, ông vừa nhấc ấm trà trên bàn. Mở nắp ra, thấy bên bên trong chỉ còn một dúm bả trà khô cong, thầy Khương không khỏi thở dài:

“Nguyệt, ta bảo con về nghỉ, đâu bảo con ngủ đến mức nói mê. Trong nhà chẳng có nổi một ấm trà nóng, cơm cháo càng không thấy đâu.”

Lê Yển Nguyệt vội bước xuống chõng, xỏ giày rồi đáp liền mấy tiếng:

“Vâng vâng, còn đi làm ngay đây!”

**

Về phần Trần Kiến, ngay trong buổi chiều tối hôm ấy, chàng đã dẫn người người tìm đến những bến thuyền “ma” được giấu kín dọc sông Vân.

Trước đó, chàng đã đích thân xem xét hai bến chính ngay trước dinh An phủ. Hôm qua, Đào Quang Nghĩa khai rằng hơn chục chiếc thuyền công dùng để cứu nạn ở đây đã bị nước lớn giật đứt dây neo rồi cuốn mất. 

Thế nhưng những sợi dây dùng để buộc số thuyền ấy đều có vết đứt phẳng lì, còn hằn dấu lưỡi sắc. Ấy rõ là có người cố ý phá dây hòng đem thuyền đi giấu.

Ngay khi đoàn người của quan phủ đến bến “ma” thứ nhất, trời đã sụp tối hoàn toàn. Bến nằm nép sau một đám rậm ở khúc quanh của sông Vân, ẩn sâu trong con lạch bị lau sậy chen dày che khuất.

Quả nhiên, tùy tùng của Trần Kiến đã tìm thấy bốn chiếc thuyền công có khắc ấn ký của lộ Trường Yên, dưới khoang thuyền còn vương vãi rơm lót, trấu và vài hạt thóc. Ngay trong kho chứa gần bến, họ lại tìm thấy vài chục bao thóc chưa kịp chuyển đi, dấu kho công bị cạo nham nhở.

Hai bến còn lại thu về thêm sáu chiếc thuyền, bốn chiếc vẫn còn đầy nguyên thóc. Tên giữ bến toan chạy trốn liền bị Phạm Lâm đuổi theo bắt lại, gã đành khai rằng:

“Bẩm… bẩm quan, số lương này đều do người của Đào Quang Nghĩa chở đến lúc đêm khuya, sau đó bán lại cho các lái buôn ở các lộ khác. Thảo dân chỉ là phụng lệnh mà làm thôi!”

Trần Kiến nhìn kẻ đang quỳ giữa bãi bùn, hỏi:

“Những nhà buôn nào đã nhận việc chuyển lương cho Đào Quang Nghĩa?”

Người giữ bến cúi gằm mặt. Gã khai rằng kẻ đến chuyển lương nhiều không đếm xuể, đa phần thóc gạo đều qua vài lượt sang tay, đến người nhận cuối cùng chưa chắc còn biết xuất xứ. Song trong số ấy, lui tới đều đặn nhất vẫn là các lái buôn thuộc thương đoàn họ Dương, nguyên gốc cũng ở Trường Yên.

Trần Kiến nhíu mày, thương đoàn họ Dương?

Cùng lúc đó, ở ngoài bến, số thóc vừa được tìm thấy đang được chuyển lần lượt lên thuyền. Phạm Lâm phụng mệnh sai một toán lính lệ áp tải về trước, nhập cùng số lương trong kho để tiếp tục phát chẩn.

Nạn nước vẫn chưa qua, tìm được số lương này thì người dân Trường Yên coi như đã thấy thêm nhiều phần xán lạn.

Đoàn thuyền chở lương xuôi theo dòng nước đang rút. Qua một khúc quanh, họ gặp cây đa già đứng chênh vênh, đất quanh gốc bị lũ khoét gần hết, rễ lớn rễ nhỏ trồi ra tựa một bầy rắn hổ mang. Cành khô và rác trôi theo nước dồn lại dưới gốc cây, chặn ngang lối đi.

Chiếc thuyền của họ bị mắc lại, mấy người trong khoang bèn chống sào toan gạt đám cành sang một bên.

Ngay lúc ấy, giữa làn nước đục bỗng nổi lên một mảng vải trắng. Liền sau đó, mặt nước lay động, để lộ mái tóc dài đã bết bùn. Đến khi đám cành mục được gạt ra, cả một cánh tay trắng bợt chậm rãi trồi lên, ở cổ tay còn hằn nguyên một vòng xích đã tím đen.

Mấy người trên thuyền nín lặng, cho đến khi có kẻ hô lên:

“Là xác người!”

Đúng vậy, cái xác nằm sấp, là một người đàn ông đã ngâm dưới nước nhiều ngày. Thi thể trương phình, mặt mũi biến dạng, không còn nhận ra được hình dung thuở sống. Lính lệ phải dùng dây thừng buộc lại, hợp sức kéo cái xác vào doi đất gần bờ.

Ban đầu, bọn họ còn tưởng đây là người dân xấu số nào đó gặp nạn trong lúc chạy lụt. Nhưng một lính lệ đã ở lâu năm trong dinh An phủ vừa trông thấy bộ áo tù trên người thi thể thì thoáng biến sắc. Đến khi nhìn sang bàn tay phải khuyết mất ngón út của người chết, mặt hắn liền trắng bệnh.

“Không… không thể nào!”

Một lính lệ mới vừa theo Trần Kiến đến Trường Yên thắc mắc:

“Anh sao thế? Sợ à?”

“Không, không! Cái xác này… là lão Tam, ông ta không nên chết ở đây!”

Tin ấy nhanh chóng đến tai Trần Kiến.

Chàng vừa nghe đến có người cũ trong dinh nhận ra thi thể ấy là Tam, chợt nhớ đến lời thầy Khương nói trước lúc rời dinh. Rằng những vết thương trên người Hoàng Tấn giống hệt trên người Tam, cùng một lối dụng hình, cùng một kẻ coi giữ. Đó là Cao Mậu.

Chàng đã xem qua biên bản định tội của Tam. Ông ta can tội cướp vàng trong dinh An phủ, theo lệnh phải giải về kinh chịu xét. Người cai phụ trách áp giải chính là Cao Mậu, nhưng sau đó hắn ta đã bẩm lại rằng Tam không chịu nổi thương tích, đã chết khi còn cách Thăng Long chưa đầy hai mươi dặm. Thi thể cũng đã được chôn bên đường, không mang trở lại.

Người chết ở Thăng Long, lại bị dòng lũ trả ngược về Trường Yên hay sao?

 

Bình luận đoạn văn

Bình luận

Thành Bùi

Thành Bùi

Sốp ơi thêm đi moà, truyện hay quá đừng drop ạ 🥹 ❤️ 

Trả lời bình luận

Chỉnh sửa bình luận

Thiết lập văn bản

Xem trước

Nội dung sẽ hiển thị như thế này

Chọn font chữ

Cỡ chữ

12px 30px